Tôn Tử Truyện

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 46 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Xxi Sở Việt Liên Minh – Quân Ngô Đối Địch
Chương Xxi Sở Việt Liên Minh – Quân Ngô Đối Địch

❊ ❊ ❊

Diêm Hoài Viễn dù sao cũng là quốc trượng, từ khi cởi áo giáp theo đuổi chính sự được điều đến Sính đô nhận chức, ỷ vào con gái Chân Mai phi là chúa ở trong lục cung, văn võ trong triều ai mà chẳng nể trọng, ai mà không cung kính! Bản thân ông ta cũng càng vì thế mà ngang ngược chuyên quyền, động có ai đó không vừa lòng, không thuận ý, thì như rằng lại phàn nàn kêu ca trước mặt con gái và nàng lại thủ thỉ bên tai Chiêu vương, thế là y như rằng, tai hoạ sẽ giáng xuống đầu người đó, không giáng chức thì cũng điều đi xa hoặc trị tội, tất cả chỉ bằng cái nhếch mép của Chương vương, còn như vụ giao dịch giữa Diêm Hoài Viễn và Tôn Tử, của cải châu báu lấy được ở nước Ngô hàng tháng, đương nhiên là chẳng ai hay biết, ông ta cũng rất tự hào và hãnh diện về việc ấy, chỉ có điều là không được hé ra với bất kỳ ai. Ông ta phối hợp với Tôn Tử rất kín đáo, nhịp nhàng, nhiệm vụ đầu tiên đã được hoàn thành trót lọt, và xuất sắc, rất được Tôn Tử khen ngợi.

Nghe xong nhưng điều Phong Hồ Tử báo cáo, trên mặt Tôn Tử bỗng xuất hiện một nét cười thông cảm, và càng ban cho ông này nhiều bạc vàng tặng thưởng hơn. Phong Hồ Tử bất giác ngớ người ra nói:

– Trước khi sang nước Sở tôi đã lấy khá nhiều tiền đi đường, tại sao hôm nay nguyên soái còn cho thêm nhiều thế?

Tôn Tử mỉm cười nói:

– Không nhiều! Không nhiều đâu! Một chút tiền thưởng nhỏ mọn thế này, thật chẳng xứng đáng chút nào với công lao to lớn của ngài. Nếu đánh nhau với nước Sở, mà muốn giành được thắng lợi thế này, thì không biết còn tốn bao nhiều tiền của, không biết bao nhiều chiến sĩ sẽ phải đổ máu nơi sa trường, bởi vậy, ơn của ngài, nước Ngô sẽ phải truyền đến đời con đời cháu, mãi mãi không quên!

Những lời lẽ thẳng thắn của Tôn Tử, khiến Phong Hổ Tử vô cùng cảm động.

Từ sau khi có trong tay thanh gươm báu Trạm Lư, Sở Chiêu vương ngày càng trở lên kiêu căng, không coi nước Ngô ra gì nữa. Nếu đã là ý trời sai khiến cho nước Sở hưng thịnh nước Ngô diệt vong, thế thì cần quái gì phải tranh đấu khổ sở, mà chỉ cần chờ cơ hội trời cho, một phen dẹp tan. Thế là một mặt ông ta ru rú ở hậu cung, chẳng hỏi han gì đến việc nước, say đắm dâm lạc liên miên với nàng Chân Mai phi… mặt khác, ban chiếu chỉ trong cả nước, cho chép sửa, dựng miếu, xây đền, khắc bia, viết truyện để phô bày thánh đức của mình, khắp nơi trong cả nước chìm ngập trong không khí yên hàn, êm ả, thanh bình, tràn trề trong khung cảnh thái bình thịnh tự.

Trong lúc này, tâm tư của Tử Tây, Nang Ngoã, Thẩm Doãn Tuất và đông đảo quần thần lại không hề nhẹ nhàng thoải mái như Chiêu vương. Đường đường nước Sở lớn mạnh như thế mà khi giao chiến với Ngô nhỏ yếu không đáng để tâm, lại đánh trận nào thua trận ấy, đó quả là điều nhục nhã rất lớn lao, và điều nhục nhã đó đã khiến cho họ cảm thấy có điều gì đó không phục và áy náy không yên, không còn mặt mũi nào để nhìn thấy người đời. Họ liên tục mở ra những buổi hội họp, cố mời Chiêu vương tham dự, Chiêu vương lại tỏ ra hết sức lạnh lùng, không chịu đến họp, họ bèn tự mình bàn bạc với nhau. Mọi người đều biết rằng, nguyên soái kiêm quân sư Tôn Vũ của quân Ngô, là một nhà binh pháp đại tài, là người đã viết ra mười ba bài “binh pháp”, nổi tiếng trên đời. Nhưng rốt cuộc Tôn Vũ là một nhà binh pháp như thế nào? Mười ba bài “binh pháp” của ông ta rốt cuộc đã viết những cái gì thì chẳng ai nói được ra. Mọi người đều cùng đang đoán mò xem Tôn Tử rốt cuộc là một nhân vật như thế nào? Hình như đó là chuyên thần bí khôn lường. Ông ta tuy xuất thân là con nhà tướng, là lớp người sau của những nhà quân sự, thế nhưng bản thân ông ta lại chưa từng cầm quân đánh trận bao giờ, chưa hề có chút lịch sử gì gọi là kinh qua sóng gió, chưa có chút chiến công gì khiến quân địch nghe mà khiếp vía kinh hồn, làm sao có thể viết ra lý luận binh pháp không có chỗ nào không công phá nổi, không trận đánh nào mà không chiến thắng vẻ vang. Nếu bảo ông ta không có chân tài thực học, chẳng qua là chuộng lấy chút hư danh mà thôi, thế thì, tại sao Hạp Lai lại chịu xếp xó không dùng những tướng tài như Phu Khái và Ngũ Tử Tư, mà lại giao quân đội trong cả nước cho ông ta thống lĩnh. Giao toàn bộ binh quyền cho một vị tướng nước ngoài, chuyện đó quả thực là hiếm thấy trong lịch sử. Cần phải biết rằng Hạp Lư không phải là một ông vua ngu độn, thắng lợi trong trận Kê phụ trước đó bảy năm, tất cả đều nhờ ở sự sắp đặt và chỉ huy của ông ta, tiếp đó là việc giết Vương Liêu, trừ Khánh Ky và mời Tôn Vũ Hạ Sơn. Sau khi Tôn Vũ nhận chức thống soái ba quân của nước Ngô, liền ra tay trừng trị bọn hư hại, chỉnh đốn lại bộ máy tự vì để làm cho nước giàu quân mạnh. Từ đó thấy rằng chưa biết chừng Tôn Vũ là một ngôi sao sáng giáng trần, là người trời sai xuống cũng nên chứ chẳng chơi. Hãy cứ nhìn riêng vào trận đánh trừng trị bọn phản thần do Tôn Vũ chỉ huy xảy ra ở biên giới nước Ngô và nước Sở, cũng khiến cho người ta không biết đâu mà lường được nữa. Với một cái giá bỏ ra rất rẻ, ông ấy đã tiêu diệt được nước Chung Ngô và nước Từ, lấy được thành Dưỡng ấp, thiêu huỷ hàng ngàn thạch lương thực của quân Sở dồn góp lại ở trên biên giới. Điều đó cũng đủ chứng minh rằng, Tôn Tử quả là hạng người không tầm thường, “binh pháp Tôn Tử” đúng là thứ sách không tầm thường. Thế nhưng ông ta hình như lại là con người rất nhút nhát, luôn luôn tránh né, không dám đụng độ với chủ lực của quân Sở, không dám đối địch với Thẩm Tư Mã, thì đủ thấy Tôn Vũ chẳng có chút gì là khí độ của một viên đại tướng. Có người nói, dí chết một con kiến, giết chết một con gà, chưa thể là một anh hùng. Tôn Vũ đi trừng phạt hai nước nhỏ như Chung Ngô và nước Từ, như hạc giữa bầy gà, đương nhiên là thắng trận. Hai kẻ phản thần của nước Ngô là Yểm Dư và Chúc Dung vốn là hai tấm mộc chắn tên mà nước Sở đặt ở trên biên giới, bị tướng Ngô chém chết, cũng là chuyện tất nhiên. Còn như mất Tiềm ấp, quân lương bị đốt, hầu như cũng nằm trong dự đoán, tướng giữ thành là Diêm Hoài Viễn, vốn đã không kham nổi gánh nặng này, làm sao có thể giáp mãng sẵn sàng mà ra đón địch được! Dùng ông này để giữ thành, thì có khác gì ném thịt cho hổ đói. Đối với những danh tướng của nước Sở thì lại khác, Tôn Vũ luôn luôn quanh co lấn tránh, không dám đọ sức, điều đó đã phản ánh lên bản lĩnh thực sự và trình độ chân thực của ông ta. Nước Ngô nhỏ bé như thế, dứt khoát không có điều kiện đối địch với nước Sở hùng mạnh, nếu đối địch, tất sẽ như lấy trứng chọi đá, sẽ bị đập tan tành. Bản thân Thẩm Doãn Tuất thì lại cho rằng, sở dĩ quân Ngô không giao chiến với quân Sở, không phải là do sợ địch, mà là do nhu cầu của chiến lược. Đây là bài bản cũ theo Tuần Anh nước Tấn chia quân ra để làm mệt mỏi quân Sở, đó là chiến lược trường kỳ tiêu hao làm mệt mỏi địch, nước Sở nên rút ra bài học, không thể rơi vào cạm bẫy của Tôn Vũ lần nữa.

Ý kiến không gặp nhau, chẳng ai thuyết phục nổi ai, khó có thể hình thành một nhận định thống nhất. Hơn nữa, nước Sở hết năm này đến năm khác bị quân Ngô quấy rối, ở phía bắc lại mất đi nước Từ vốn là nơi kiềm chế nước Ngô và Dưỡng ấp vốn ở trong vòng o bế, đó đều là những hiện thực ai cũng có thể thấy được. Không chịu ở dưới trướng nước Ngô, càng không thể khoanh tay chờ chết, đó cũng là sở nguyện chung của mọi người. Lại bàn bạc một hồi lâu nữa rồi đi đến quyết định liên minh với nước Việt ở phía Nam để cùng đánh quân Ngô. Với việc này, Chiêu vương cũng tỏ thái độ thờ ơ muốn sao thì muốn – ý trời đã định, nước Ngô tất sẽ diệt vong, việc quái gì phải dấy quân ầm ĩ! Đánh thì đánh cũng được, một là để cho quân Ngô biết tay ta, hai là đã lâu không đánh đấm với ai, các tướng sĩ quay ra hay mượn cớ gây sự với nhau, tạo nên cái thói nhàn cư vi bất thiện. Ông nói với Tử Tây và Nang Ngoã:

– Một tý chuyện vặt thế, hà tất phải hỏi ta, các ngươi có thể tự quyết lấy!

Đó là điều hai viên lệnh doãn chỉ trông chờ có thế, và cũng vì thế một phương án liên quân với nước Việt để đánh nước Ngô đã được hình thành.

Việt và Ngô đều là một tộc người “cắt tóc xăm mình”, nước Việt cách trung nguyên khá xa, cho nên văn hoá càng tỏ ra lạc hậu. Từ sau khi tiếp xúc với Ngô Mộng, được gián tiếp gần gũi nền văn hoá trung nguyên, mà tiêu biểu là biết dòng công cụ sản xuất và khí giới bằng sắt đúc, phát triển giao thông đường thuỷ, bởi vậy mà việc giao thông buôn bán dần dần lớn mạnh lên, dân số cũng ngày một tăng. Hơn nữa, vua nước Việt là Doãn Thường lại năng luyện rèn, nên dần dần hình thành một nước lớn. Do thế lực ngày càng bành trướng cho nên nước Việt đã nhiều lần xảy ra xung đột với nước Ngô. Cuộc xung đột giữa hai nước Ngô – Việt, đã bắt đầu ngày từ thời đại Mộng Thọ làm vua nước Ngô, chẳng hạn như Ngô Vương Di Mạt khi duyệt chiến thuyền đã bị tù binh Việt giết chết, đủ thấy ngay thời Di Mạt, giữa Ngô Việt đã có chiến tranh với nhau. Rồi lại từ thế lực nước Sở phát triển ra phía đông đến lưu vực sông Hoài, Tấn Cảnh công đã liên kết nước Ngô để chống lại Sở. Để kiềm chế nước Ngô, nước Sở bèn liên minh với nước Việt, thế nên mẫu thuẫn giữa hai nước Ngô Việt mới mỗi ngày mỗi tăng. Từ đó có thể thấy rằng, Sở Việt liên kết với nhau đã có nguồn gốc lịch sử sâu xa của nó. Kỳ thực, không có nguồn gốc sâu xa ấy, cũng có cơ sở để hai nước liên hợp nhau, đó tức là mèo ở trên đời này, con nào chẳng thích ăn thịt sống, vua chúa nào ở trên thế gian này lại không muốn mở rộng lãnh thổ, tranh hùng xưng bá. Thế cho nên nước Sở sai sứ sang nước Việt, vừa bàn đã xong ngay. Nước Sở từ bên tây tới, nước Việt từ phía nam đánh lên, hai nước Sở Việt hình thành thế giáp công đối với nước Ngô, tạo nên sự đe doạ rất lớn.

Mùa hạ năm Hạp Lư thứ năm tức là năm 510 trước công nguyên, Sở sai Tử Tất làm chủ tướng, Vi Việt phó tá, mang đại quân tiến vê phía đông, rầm rầm rộ rộ, đến thẳng Vu Hồ. Nước Việt sai Tư Trữ làm chư tướng, Quách Như Niết làm phò tá, dẫn quân lên phía bắc, hùng dũng, hiên ngang, tiến thẳng tới Ngự Nhi họ muốn chia nhau chiếm Gia Hưng và Tuy Lý ở phía tây nam Gia Hưng, rồi tiến quân cả trên bộ dưới thuyền, hội sư ở Cô Tô.

Quân địch tiến đánh mạnh mẽ, phía trước phía sau đâu cũng có mối hoạ, những người như Hạp Lư, Phu Khái bây giờ thấy luống cuống kinh hoàng và hết sức lúng túng. Tôn Tử thì lại vững như bàn thạch, nói cười tự nhiên, ung dung bố trí việc đón đánh địch. Ông dùng chiến lược vờ đánh Sở, nhưng đánh nước Việt thực sự, để đón hai vị khách không mời mà đến này, thế nên mới bố trí binh lực chủ yếu trên biên giới nước Ngô và nước Sở, làm ra vẻ đang muốn quyết chiến một phen với quân Sở, bởi vì Sở là nước lớn, nước mạnh, không ai dám coi thường được.

Đối với nước Việt, chỉ đưa một số quân có hạn để ứng phó đám quân xâm lấn biên giới. Vì nước Việt là nước nhỏ, nước yếu, quân tướng nước Việt chả bõ đánh một đòn đã tan. Chỉ có như thế, chuyện quân Ngô bị quân Sở đánh bại mới khớp với lời “Phong Hồ khoe gươm báu”.

Trong đông đảo các tướng lĩnh của mình Sở, Tử Tất là một tay nổi trội trí dũng song toàn. Nói về thông minh tài trí và mưu lược dùng binh ông ta hơn hẳn Thẩm Doãn Tuất một cái đầu. Nói về gan dạ và võ nghệ, ông ta hơn hẳn Võ Thành Hắc. Tuy nhiên cũng chính vì thế nên mới quyết định địa vị và vận mệnh của ông ta trên đất Sở. Một mặt, trong xã hội, những kẻ ghen ghét bậc hiền tài bao giờ cũng nhiều hơn, thế nên cái trí dũng của ông ta tất sẽ bị chỉ trích, bới móc, dè bỉu, mà ở đời, tìm dấu chân lừa ở quanh cối xay, đương nhiên là không khó khăn gì. Một mặt khác, ông ta vì thế mà thanh cao, tự phụ, mà bảo thủ cố chấp. Hai thứ đó cộng lại, khiến ông ta trở nên có hiềm khích với tất cả các tướng lĩnh khác của nước Sở, có người thậm chí đã căng thẳng đến mức muốn loại trừ nhau, không đội trời chung. Những người như Tử Tây, Nang Ngoã, vừa không cam chịu để nước Ngô xâm lăng, nhưng lại không có lòng tin rằng đánh Ngô sẽ chắc thắng, thế nên mới sai Tử Tất làm chủ tướng đi đánh quân Ngô. Nếu thắng, thì là do công lao quyết sách của họ, có thể vớt vát lại thể diện bị mất đi do liên tục thua trận, vừa có thể khoe khoang với trăm quan văn võ, lại càng dễ ra oai với đám dân đen. Nếu thua, là do sai lầm của Tử Tất, họ có thể vin vào đấy mà bài xích người không ăn cánh với mình. Bằng trí thông minh của mình, Tử Tất sớm đã biết tỏng âm mưu của Tử Tây và Nang Ngoã, thế nhưng ông vẫn cứ nhận tướng ấn. Thứ nhất, điều lệnh doãn ban ra là thánh chỉ, lệnh vua không thể trái. Thứ hai, ông ta có đủ lòng tin là sẽ thắng, cứ như ông nghĩ, thì mấy lần thua trận trước đây, chính là sự bất tài của tướng lĩnh và quân lính, ông ta còn muôn nhân dịp này để trổ tài, để so sánh cho rõ ràng với những kẻ thua trận, để trả lời cho những kẻ chỉ mong chút hư danh nhưng lại bất tài vô học, chỉ dựa vào trò quyền thuật và khéo uốn ba tấc lưỡi.

Lại nói Tử Tất và Vi Việt dẫn quân tiến về hướng đông, rầm rầm rộ rộ thẳng Vu Hồ, lúc đó, phía nước Ngô đã rải quân ở trên biên giới Ngô Sở, bờ nam sông Trường, Giang để đón địch, chủ tướng Ngũ Tử Tư đặt đại bản doanh ở Cưu Từ,[1] các tướng lĩnh khác lần lượt mang quân của mình đến đóng quân ở Đáng Đồ, Hành Sơn, Giang Ninh, Chu Phương vv… hình thành một phòng tuyến hình bán nguyệt. Tại sao Tôn Tử lại cử Ngũ Tử Tư làm chủ tướng của đội quân đánh Sở. Có ba lẽ sau đây: Thứ nhất, trong đông đảo các tướng lĩnh của quân Ngô, Ngũ Tử Tư là người nổi trội hơn cả, nếu nói về trí dũng, Tử Tất còn lâu mới xứng là địch thủ của ông, nếu như Ngũ Tử vẫn còn là tướng của nước Sở, bàn về bề dày từng trải, Tử Tất chẳng chỉ là một viên hiệu uý quèn dưới trướng của ông, ngày nay, ông tướng dày dạn chiến trường Ngũ Tử Tư này mà lại thua dưới tay một gã vô danh tiểu tốt như Tử Tất thế này, mới lại càng là điều minh chứng mạnh mẽ cho luận điểm của Phong Hồ Tử về “Sở sẽ hưng thịnh, Ngô Tất bại vong, đó là ý trời”. Nếu Tôn Tử cử tướng lĩnh bình thường của quân Ngô đi đánh Sở, mà Ngô thua, Sở thắng, thì đã chẳng đủ lý lẽ để nói rõ vấn đề này hay ít nhất thì cũng là chưa đủ sức thuyết phục. Thứ hai là Sở Bình vương giết hại lớn bé hơn ba trăm người nhà của Ngũ Tử Tư, để lánh nạn và trả thù, nên Ngũ Tử Tư mới phải đến nước Ngô, những điều ông đã nghĩ đã làm trong mười năm trời nay, tất cả đều nhằm mục đích rửa nhục nước, trả thù nhà. Trước đó, quân Ngô xâm phạm nước Sở liên tục thắng lợi, việc trả thù mới vừa nhen nhúm lên một điều hy vọng. Nay nước Sở lại xâm phạm nước Ngô, nếu nước Ngô thua, Ngũ Tử Tư sẽ thấy việc trả thù không còn trông mong gì nữa, nỗi tan sẽ chìm đáy bể, thế cho nên, ông sẽ phải chống địch đến cùng, dứt khoát sẽ không tìm cách trốn và lơi lỏng trễ nải. Thứ ba, Ngũ Tử Tư và Vi Việt là đối thủ sống chết của nhau, mười năm trước Ngũ Tử Tư trốn khỏi nước Ngô, Vi Việt giữ Chiêu Quan thế mà hắn lại vô tình và trông coi cẩn thận đến thế, nếu như không có Đông Cao Công và Hoàng Phủ Nột xả thân ra cứu giúp, Ngũ Tử Tư và Mê Thắng tất đã chết trong tay hắn rồi, đồng thời cũng vì để cho Ngũ Tử Tư đi thoát, xuýt nữa thì Vi Việt cũng tan cửa nát nhà, sau nhờ có quần thần khuyên can, nên rốt cuộc cũng giữ được tròn tính mạng, thế nhưng lại bị hạ chức giáng quan, từ đó không sao ngóc đầu lên được nữa. Oan gia vào đường hẹp, nay hai người gặp nhau trên quãng đường hẹp này, đương nhiên là phải đánh nhau một mất một còn mới thôi!…

Thấy quân nước Ngô đã chuẩn bị đầy đủ mọi mặt để đón đánh địch, Ngũ Tử Tư là chủ tướng của quân Ngô, bố trí trận thế của quân Ngô theo dọc sông như hình một vành trăng non, đầy vẻ kín đáo thâm nghiêm, khí thế sẵn sàng, Tử Tất bất giác thấy lo lắng và run sợ, không dám khinh suất manh động, liều lĩnh, đem quân đi đánh. Tử Tư rốt cuộc cũng là một tướng lĩnh có tâm cơ. Ông ta nghĩ rằng lực lượng ở phía sau có hạn, đã mang một số lớn binh lính rải dọc biên giới nước Ngô nước Sở, để chống chọi với nước Sở, như vậy thì số quân còn lại ở biên giới phía nam chống chọi với nước Việt sẽ vô cùng mỏng manh. Quân nước Việt vì thế có thể nhằm chỗ sơ hở mà đánh vào. Đợi đến khi quân nước Việt đe doạ đến an toàn của Cô Tô kinh đô nước Ngô, nước Ngô tất sẽ chia quân quay về phía đông, lúc bấy giờ mình có thể sẽ thừa cơ mà đánh tới xông thẳng vào Cô Tô, chia phần với quân Việt. Thế cho nên ông ta quyết định án binh bất động. Để đề phòng quân Ngô bất ngờ tấn công dữ dội, tập trung ưu thế về quân lực, dồn lại mà diệt, cũng đề phòng quân Ngô vượt sông, luồn sâu vào sau lưng, chặn mất đường về, Tử Tất đã từ chỗ tập trung, điều rải số quân ra, lệnh cho các tướng như Vi Việt mang quân lên phía bắc, bài binh bố trận ở Nam Hoài[2] và đất Đường,[3] tạo thành thế cầm cự cách sống với quân Ngô. Tử Tất co cụm lại không ra, cố thủ trong thành không đánh, điều đó nằm ngoài dự đoán của Ngũ Tử Tư, và cũng làm ông rất khó xử. Muốn đánh được rắn, thế nào cũng phải nhử được rắn ra khỏi hang, rắn không ra khỏi hang, muốn cho nó ăn cũng còn khó, huống chi là đánh nó. Ngũ Tử Tư ở chân thành khiêu chiến, Tử Tất vẫn mặc kệ, Tử Tư đòi địch ra đánh, Tử Tất một mực làm thinh; Ngũ Tử Tư lại khích tướng, chửi rủa, lời lẽ hết sức khó nghe, Tử Tất vẫn thản nhiên như không nghe thấy. Ngũ Tử Tư tức quá loanh quanh loạn xạ, không biết làm cách nào hơn, đành sai người về Cô Tô xin chỉ thị của Tôn Tử. Tôn Tử gợi ý ông “lấy lợi mà nhử”, thế là Ngũ Tử Tư thôi không chửi rủa nữa, vùng sông nước đồng bãi giữa Vu Hồ và Cưu Tư bỗng trở lại cảnh yên hàn, tràn ngập không khí vui tươi đầm ấm. Từng đoàn dê cừu thong dong gặm cỏ trên đồng, con nào con nấy đẫy đà no béo, mục đồng vắt vẻo trên lưng trâu, véo von thổi sáo, trên thảm cỏ mượt như nhung tiếng sáo du dương. Giữa lòng sông hay trên mặt hồ, thấp thoáng từng cánh buồm trắng, thuyền đánh cá theo sau từng đoàn, tiếng hò vang lên từng liên hồi, xen lẫn tiếng tù và giục giã. Để mỗi khi chiều cuống, thuyền lại quay về bến cũ, nào già, nào trẻ, người thì gánh, kẻ thì khiêng, lũ lượt nối nhau không dứt, trong từng giành, đầy ắp những tôm cua cá tươi ngon. Bên bờ sông hay ven dòng suối, các cô gái túm năm tụm ba giũ tơ, giặt áo, họ ăn mặc quần áo đủ màu tươi đẹp, lưng thon như liễu, ống quần xắn cao, để cho những đôi chân mịn màng như nặn bằng sáp ngâm xuống nước trong. Trời đang mùa hạ, trên mình các cô gái chỉ phong phanh một chiếc áo mỏng như cánh ve, che hững hờ trên lồng ngực nhô căng, theo động tác giặt áo giũ tơ nhịp nhàng lên xuống, lồng ngực vốn căng phồng của các cô cũng theo đà đu đưa phập phồng như hút lấy hồn người. Giữa trưa trời nóng đến khó chịu, có người trong đó còn cởi phăng áo ngoài, chỉ để mình một mảnh yếm con con, rồi nhảy xuống nước tắm táp, đùa giỡn… Với những thứ đó, quan quân nước Sở lúc đầu còn tỏ ra ghẻ lạnh, tựa hồ như không thèm để ý, dần dần, họ không chịu nổi sự kích thích về tinh thần và quyến rũ về vật chất như thế, bèn nhao nhao muốn đến gần thử xem, có lúc đã rần rần náo động và chẳng mấy chốc đã phát triển đến mức hè nhau ra cướp bóc giành giật như hổ đói ham mồi, đến mức Tử Tất không tài nào quan sát và ngăn chặn nổi. Đương nhiên, quân nước Ngô phải giữ cho các cô gái kia được tuyệt đối an toàn, không để họ rơi vào tay ma quỷ.

Tướng sĩ của quân Sở ở trong thành Vu Hồ, tuy rằng ngày ba bữa luôn luôn no bụng, nhưng cuộc sống trong trại lính muốn thế nào đi nữa cũng gò bó gian khổ hơn ở ngoài, thấy ở ngoài thành đầy dẫy dê cừu tôm cá có thể ăn được, làm gì mà chẳng thèm thuồng nhỏ bọt mép ra! Trong quân ngũ, phần lớn là người trai trẻ, hoặc xa vợ đã lâu ngày hoặc còn chưa gần gũi đàn bà con gái bao giờ, người nào người nấy lại đang sức dài vai rộng, khí huyết tràn trề, chợt nhìn thấy những cô gái giũ tơ giặt áo hoặc bơi đùa dưới sông cứ hơ hớ ra như thế, làm gì họ chẳng nảy ra ý nghĩ này nọ và lửa dục trong lòng chẳng hừng hực bốc cao! Quân Sở mỗi lần ra khỏi thành, thế nào cũng kiếm chác được thứ này thứ nọ, thường thường là nặng túi mới quay về, chỉ có điều chưa bao giờ kiếm được một cô gái nào. Dân chúng nước Ngô thấy quân Sở ra khỏi thành, chẳng khác nào thấy hổ đói rời non, mục đồng bỏ cả dê cừu, ngư dân vứt cả gánh gồng, chen nhau bỏ chạy. Quân Sở chỉ cốt cướp của nên hễ thấy kiếm được gì, thì thôi không đuổi nữa. Còn các cô gái giũ tơ giặt lụa kia thì sao? Mỗi lần được báo trước tin quân Sở sắp ra khỏi thành, thì dưới sự yểm hộ của quân Ngô, các cô đã lẩn trốn sạch chẳng còn ai. Có lần, một ngư dân khoẻ như trâu đã vật lộn với quân Sở để giữ tôm cá của mình, gã ngư dân ấy sức dài vai rộng thân cao tới trượng hai, đứng ở mũi thuyền, cứ như một cây thép sắt. Ngay từ nhỏ vốn đã quen vật lộn với sóng gió nên gân cốt đã được luyện rèn cứng cỏi, lại thêm được hun đúc dày dạn về võ công, cho nên bọn lính tráng của quân Sở ra ngoài thành cướp bóc, chẳng có tên nào xứng đáng là địch thủ của anh ta. Mỗi lần anh vung cây đinh ba đâm cá trên tay, là xỉa luôn một lúc mấy tên địch, khiến cho bọn giặc mò tới như ong không lên nổi thuyền, cũng chẳng biết dựa vào đâu Tuy nhiên, hổ lẻ không địch lại nổi sói bầy, anh chàng như cây tháp sắt ấy cuối cùng đã bị thương ngã ra đất, quân Sở bị xúm lại bắt giải vào trong thành.

Trong thành Vu Hồ, trong phòng tra tấn của trại lính quân Sở, anh chàng ngư dân nước Ngô, bị bắt đánh nhừ tử cả da thịt, máu mê bê bết, mấy lần chết đi sống lại. Dưới roi đòn không có thịt xương nào cứng cỏi mãi được, chàng chàng ngư dân ấy cuối cùng đã nhận rằng mình tên là Khoái Nam Đống, là sĩ quan trung cấp trong quân đội nước Ngô, được lệnh cải trang để trinh sát tình hình địch, thấy quân Sở cướp bóc của cải của dân lành, trong lòng căm giận, nên đã xông ra, vì muốn bảo vệ lợi ích cho dân chúng mà chịu bị bắt và đánh đập giam cầm. Khoái Nam Đồng còn khai ra rằng, binh lính dàn ra trên biên giới hai nước Ngô – Sở tuy số lượng có đông thật đấy, nhưng đều không phải là quân chủ lực của nước Ngô, mà quân chủ lực của họ dưới sự thống lĩnh của tướng quân Ngũ Tử Tư sớm đã xuống phía nam đánh quân Việt rồi. Nơi quân nước Việt chiếm giữ lại là nơi quan trọng tâm phúc của nước Ngô, cần phải coi như một để bảo vệ. Nơi quân Sở tấn công, chẳng qua là mảnh đất tồi tệ ở biên thuỳ phía tây. Tôn Tử chỉ vờ để một số quân ốm yếu bệnh tật, vờ trương thanh thế như vậy, mục đích là kìm được chân quân Sở, khiến họ không dám tiến sang phía đông, đợi sau khi đập tan đám quân xâm lăng của nước Việt, lúc bấy giờ mới chuyển quân về hướng tây, hai cánh quân hợp làm một, diệt quân Sở ở hai bờ sông lớn…

Viên quan xét hỏi không nghe thêm được nữa, nhảy bật lên và gầm như sấm:

– Người nói sao? Chủ tướng quân Ngô đóng ở Cưu Tư lại không phải là Ngũ Tử Tư sao?

– Không phải, tôi đám lấy cái đầu của mình mà đảm bảo chắc chắn như vậy – Khoái Nam Đống dứt khoát trả lời, khiến chẳng ai có thể nghi ngờ gì hơn?

– Thế thì!à ai vậy?

– Tướng nước Ngô Vương Tôn Lạc!

– Tôn Vũ tại sao phải dùng một Ngũ Tử giả để đưa ra đối địch với quân ta?

– Trong tướng soái của quân Ngô chỉ có một Ngũ Tử Tư, đã đem quân đi chống quân Việt ở phía nam, thì làm sao còn có thể đến được biên giới Ngô Sở, cho nên mới phải dùng tướng quân Vương Tôn Lạc để cầm quân đánh trận.

– Vương Tôn Lạc là Vương Tôn Lạc chứ, cớ sao phải giải mạo Ngũ Tử Tư làm gì?

– Tôn Tử nói việc quân sự ăn nhau ở xảo trá, đây đương nhiên là một sự khoa trương thanh thế bởi vì tiếng tăm của Ngũ tướng quân từng khiến cho tướng sĩ quân Sở mới nghe đã sợ rụng rời.

– Nói láo! Ngũ Tử Tư chỉ là một tên quan lưu vong của nước Sở, có cái quái gì mà phải sợ – Viên quan xét hỏi quay ra nói với tên lính hành hình ở bên cạnh – Tống cổ tên gian tế của quân Ngô này xuống nhà ngục phía tây, canh giữ cho cẩn thận!

Khoái Nam Đống tập tễnh bị giải đi, tên quan xét hỏi nhìn theo sau lưng chàng, lắc đầu cười chua chát:

– Nói thực ra ngay từ đầu, thì làm gì đến nỗi khổ sở thịt da nhừ tử ra thế…

Kỳ thực, những điều Khoái Nam Đống vừa nói, có cái giả, có cái thật, có cái thực, có cái hư lẫn lộn vào với nhau, ngay bản thân anh ta cũng chẳng biết cái gì là thực cái gì giả, mà chỉ biết vâng lệnh bảo sao thì nói vậy thôi.

Nghe viên quan xét hỏi báo cáo xong, mặt Tử Tất bầm tím lại như lá gan lợn. Ông ta không vội tỏ ra thế nào, cố hết sức trấn tĩnh kìm nén mình, hai tay chắp ra sau lưng, đi đi lại lại trong phòng, bước đi lúc vội vã lúc chậm rãi, vẻ mặt lúc rạng rỡ lúc sa sầm, ông ta đã phán đoán sự thật giả trong mỗi sự việc mà Khoái Nam Đống nói ra và cân nhắc để xử trí những việc đang xảy ra trước mắt. Đột nhiên, ông ta dừng bước chân, dằn từng tiếng một nói với một tên cấp dưới đang đứng trước mặt mình:

– Những điều Khoái Nam Đống vừa nói, cấm không được nói lại với ai: Chủ tướng quân Ngô trước mặt chúng ta chính là Ngũ Tử Tư, chứ chẳng phải Vương Tôn Lạc nào hết!

– Dạ điều đó… – Viên quan xét hỏi hầu như có điều khó hiểu.

– Cứ nói như thế! Cứ làm như thế – Tử Tất cắt ngay lời của cấp dưới, không cho người này nói tiếp.

Tử Tất lại thân chinh xét hỏi Khoái Nam Đống, Khoái Nam Đống nói lại y như cũ.

Tử Tất mở tiệc khoản đãi Khoái Nam Đống, làm như dốc hết tâm sự ra trò chuyện với Khoái Nam Đống, nhưng anh ta vẫn chỉ nói như những gì đã nói.

Căn cứ vào nhưng chiến dịch mà Tôn Vũ đã chỉ huy sau khi nhận chức nguyên soái của quân Ngô, phân tích tư tưởng chiến lược của Tôn Vũ, Tử Tất đã phán định rằng những lời khai của Khoái Nam Đống là chân thực, đáng tin, tiếp theo đó đã hình thành trong bụng mình một phương án chiến đấu mới.

Khoảng chục ngày sau, viên quan xét hỏi Khoái Nam Đống và bọn võ sĩ hành hung hoặc mất tích hoặc bị Tử Tất gán cho tội danh và đem xử tội chết, Khoái Nam Đống cũng biệt tăm.

Sau đó, quân Sở trên toàn tuyến tổ chức tấn công, quân Ngô mang hết sức ra chống chọi, ở một vài nơi, hai bên đã từng có những trận xung đột quyết liệt và cả hai bên đều bị thương vong, nhưng bên quân Ngô rốt cuộc lính yếu ngựa chồn, phải lui dần từng bước, dọc đường vứt rải rác vô số nào là chiến xa, xe hàng, khí giới vv… chạy thẳng tới vùng núi phía tây nam Thái Hồ. Quân Sở chẳng mất một viên tướng một tên lính nào, cũng không đến nỗi vứt mũ bỏ giáp, lại còn thu được bao nhiêu chiến lợi phẩm, đương phiên là người nào người nấy đều hý hửng, khí thế càng thêm hăng hái, ép sát bước chân rút lui của quân Ngô, đuổi riết ở phía sau không chịu buông tha, vào mãi vùng sâu các triền núi. Đã vào đến vùng núi này, thì quân Ngô như cá được gặp nước, bởi vì vùng này chính là mảnh đất quê hương của họ, từng ngọn núi dòng sông, từng khe sâu gò đá, nơi nào họ cũng thuộc như lòng bàn tay, thêm nữa là chiến xa, xe tải… đã được vứt bỏ hết, người nào người nấy thêm nhẹ như vượn, hăng hái và dũng mãnh như hổ, vào ra ẩn hiện, tuỳ theo ý mình. Ở bất kỳ hẻm núi nào, binh lính quân Ngô cũng có đồng bào của mình, đi đến đâu, họ cũng gặp bạn bè những gì cần thiết cho ăn uống, cho chiến đấu, đều được chuẩn bị sẵn sàng, các tướng sĩ chỉ còn có một điều là chăm chú vào việc đánh giặc. Quân Sở thì hoàn toàn ngược lại, đội quân của họ chẳng khác gì giao long phải lên rừng, hổ dữ lại xuống biển, anh hùng không có đất dụng võ. Thứ nhất, họ phải đến nơi đất khách quê người, không thuộc địa dư, như những thằng mù lao loạn xạ khắp nơi. Họ luôn ở chỗ trống, còn quân Ngô thì ở nơi kín đáo, nên họ chỉ có mỗi một con đường là bị ăn đòn và bị tiêu diệt. Thứ hai là, vùng này núi cao rừng rậm, khe sâu dốc hiểm, chiến xa không thể nào đi lại được, đồ đạc rất khó chuyên chở. Cho đến lúc này họ mới ngẫm được ra rằng họ đã bị lừa, những thứ như chiến xa, vật tư trang bị quân Ngô vứt ở dọc đường mà họ nhặt nhạnh được, chẳng những là thứ bỏ đi, mà còn là những thứ thừa, đành lại vứt xuống chân núi, trả lại cho chủ của chúng, còn lại vất vả suốt dọc đường, kết quả là công cốc. Thứ ba, đây là điều chủ yếu, khi quân Sở vừa vào đến vùng rừng núi, quân Ngô đã lập tức chặn đường về, cắt đứt mối liên hệ giữa đội quân này với hậu phương của họ, đưa đến chỗ không cung cấp được lương thảo. Trên những mỏm núi điệp trùng, giữa những cánh rừng sâu mù mịt, không người ở không đất đai, không mùa màng, quân Sở không biết giành giật cướp bóc ở đâu, thời gian kéo dài, thế tất sẽ khốn khó mà chết ở đây, đói khát mà chết ở đây…

Lại nói nước Việt cử Tư Trữ làm chủ tướng, Quách Như Niết phụ tá, dẫn quân lên phía bắc, đi thẳng đến Ngự Nhi, muốn chia quân chiến Gia Hưng và Tuy Lý, sau đó đi cả đường thuỷ và đường bộ, gặp nhau ở Cô Tô. Tuy nhiên đó chỉ là sự ao ước của quân Việt mà thôi, Ngô vương và Tôn Tử sức mấy lại có thể để cho đội quân này muốn sao được vậy! Đêm thứ hai sau khi quân Việt đóng lại ở Ngự Nhi, chuồng ngựa, kho tàng cùng một lúc tự dưng bốc cháy, người châm lửa chính là một cánh quân nhỏ của nước Ngô ém sẵn ở trong thành. Họ đã giết hết lính canh, đốt đuốc sậy lên rồi ném vào lán ngựa và kho tàng. Thấy lửa bốc cháy lên đùng đùng, họ không lẩn tránh đi, cũng không trốn chạy, mà nhảy múa nhao nhao quanh những đám lửa như mở dạ hội quanh đống lửa trại. Mãi cho đến lúc quân Việt đang ngủ say bừng tỉnh dậy, tập hợp đội ngũ đi chữa cháy, họ mới hò reo, chửi bới rồi trốn về hướng tây bắc, mà vẫn vừa trốn đi, vừa chửi bới. Quân Việt đương nhiên là sẽ đuổi sát ráo riết ở sau lưng, đuổi đến sát chân tường thành. Bọn lính châm lửa đốt nhà bò theo cống nước mà ra, ngoài thành còn có rất đông tướng sĩ của quân Ngô hò reo chửi bới, đèn đuốc soi sáng rực như ban ngày. Quân Việt người đông, không thể nào qua cống thoát nước mà ra ngoài thành và cũng không dám liều lĩnh xông ra khỏi thành.

Tư Trữ nghe tin báo, nổi nóng đùng đùng, đập bàn đứng dậy, nghiến răng ken két. ông ta lệnh cho Quách Như Niết đem một số quân chạy ra chữa cháy còn mình dẫn số đông quân ra ngoài thành quân địch đến quấy rối.

Quân Ngô tuy ít, nhưng mục đích rõ ràng, tổ chức chặt chẽ. Quân Việt tuy đông nhưng không hề có một sự chuẩn bị nào, đã ra ngoài thành như nước lũ vỡ bờ, cứ nhằm ánh lửa mà xông bừa tới, thế là bên ngoài thành Ngự Nhi, quân Ngô quân Việt đã diễn ra một cuộc đánh đêm giáp lá cà rất kịch liệt. Quân Ngô vừa đánh vừa lui, trận này mục đích không phải ở chỗ nhằm tiêu diệt địch, mà lấy việc dẫn cho quân địch tiến lên phía trước làm tôn chỉ, họ luôn luôn tạo cho quân Việt những chỗ sơ hở những điều kiện dễ dàng, chẳng hạn vứt bỏ ra một số đồ quý giá hoặc cố ý làm như bại trận, lếch thếch trốn chạy, khiến cho quân Việt ở phía sau càng hăng hái đuổi theo. Đuổi càng ráo riết thì chạy càng nhanh, đến khi trời sáng, họ đã tới bên bờ suối Đông Diêu, tuy Tư Trữ phát hiện ra rằng đã quá xa Ngự Nhi, ngược hẳn lại với phương án chiến đấu, nhưng đám tàn quân phía trước lúc này cần phải tiêu diệt đã, nếu không đây sẽ là mối lo sau này khi đánh chiếm Cô Tô, hơn nữa thu nhiều chiến lợi phẩm còn để bù lại chỗ đã bị mất đi khi bị cháy trong thành Ngự Nhi, thế nên ông ta mới quyết định tiếp tục đuổi lên phía trước, đến bao giờ tiêu diệt hết mới thôi. Thực ra Tư Trữ có muốn quay lại Ngự Nhi cũng không được nữa rồi, bởi đường về đã bị quân Ngô chặt đứt. Quân Ngô chạy trốn không hề qua suối Đông Diêu mà đã rẽ sang hướng tây nam, ven theo suối Tây Diêu, dẫn quân Việt đến thẳng núi cao rừng sâu ở tây nam Thái Hồ…

Lòng chảo Lạc Đà, vì ở chân núi Lạc Đà nên mang tên ấy, núi Lạc Đà nhiều đỉnh nhấp nhô nhoi mãi lên cao, trông giống như lưng một con lạc đà khổng lồ, đang dướn cổ lên mà bước, ngẩng đầu lên đông nam, cái đầu của nó là đỉnh cao nhất của quả núi này. Từ đỉnh núi trở xuống, khe rãnh ngang dọc, hẻm sâu xen kẽ nhau, trăm nhánh ngàn nguồn toả đi khắp bốn phương trời vùng ấy gọi là lòng chảo Lạc Đà. Trong thung lũng đó là những tên đất, tên suối khe mà mới nghe qua đã đủ ớn gáy, chẳng hạn như rãnh Ủng Sầu, thung lũng Mê Hồn, khe Ăn Người, cống Toi Mạng, hào Chôn Chồng, sông Tai Hoạ vv… Càng không nói tới nếu đặt chân đến đây hay mắt nhìn tận nơi thì còn khiếp đến đây. Thường thường lên núi vào rừng như tiều phu, thợ săn hay người đi hái thuốc… quen thuộc như thế mà còn luôn luôn bị lạc đường, làm mồi cho muông thú, còn những kẻ lạ nước là cái tới đây mà xông vào những khe sâu vực hiểm này thì mười người đến đây, có tới chín người không về. Một buổi chiều, Ngũ Tử Tư dẫn tới hàng trăm tướng sĩ, từ tây bắc dụ được một toán quân Sở đến lòng chảo Lạc Đà này. Cùng lúc ấy, Bị Ly mang theo năm mươi quân tinh nhuệ, từ phía đông nam nhử được một toán quân Việt đến lòng chảo Lạc Đà. Đám trẻ con nghịch ngợm, lúc có lúc mất cứ như trò ú tim, lúc ẩn lúc hiện đánh úp quân địch. Lính của Sở, Việt muốn đánh quân Ngô, thì quân Ngô lại ẩn náu vào những khe sâu vách hiểm, chúng không dám tự ý xông vào, đành chỉ nhìn những khe sâu đó mà ngán ngẩm thở dài. Quân Ngô muốn đánh úp quân tướng của Sở, Việt, như thần binh từ trên trời giáng, đánh đâu trúng đấy, đã đánh là thắng. Thế nhưng họ không để va chạm lớn xảy ra, cứ y như chỉ để trêu cợt, làm trò đùa với nhau vậy thôi. Cứ như thế xoay vần mãi, chợt lên chợt xuống, chợt ra chợt vào, chợt nhanh chợt chậm, cho đến lúc màn đêm buông xuống, quân của Sở Việt mới có dịp gặp gỡ tướng sĩ quân Ngô, nỗi tức giận dồn chứa mãi trong lòng mới có nơi phát tiết. Đó là một đêm không trăng tối trời, trên cao mây đen dày đặc, chẳng thấy bóng một vì sao nào, lại thêm ở khe núi sâu thẳm, cả lòng chảo Lạc Đà tối đen như mực, xoè tay ra không nhìn thấy ngón, hai bên xô xát nhau, người hô ngựa hý, đâm qua chém lại hồi lâu đằng thì chết, đằng thì bỏ chạy, tất cả đều diễn ra trong bóng đêm, cứ y như ma quỷ đánh nhau nơi âm ty địa phủ vậy. Cho đến lúc hơi rạng ánh ngày và màn đêm dần lùi xa, ánh sáng xua tan đêm tối, nhìn kỹ ra, trong khắp vùng lòng chảo Lạc Đà, người chết ngổn ngang như ngả rạ, thế nhưng hễ không phải là lính Việt, thì cũng là tướng Sở, tuyệt nhiên không có xác chết nào của quân Ngô. Thì ra, tối hôm qua Ngũ Tử Tư và Bị Ly đã lần lượt dẫn dụ cho một toán quân Việt và quân Sở đến đây, rồi lợi dụng đêm tối, quân Ngô lẩn đi, còn quân Sở và quân Việt đánh nhau trong đêm tối, cuối cùng mới diễn ra kết cục bi thảm này và để lại cảnh thương tâm này.

Đỉnh Long Đàm như một kẻ kiêu ngạo ngông nghênh giữa những đỉnh núi chọc trời của dãy núi Thiên Mục, bởi trên núi có một cái đầm, nên mới có tên là Long Đàm (đầm rồng). Long Đàm như người gắn lên đỉnh núi, rộng tới hàng chục mẫu, nước sâu vô cùng, xanh quá hoá đen, có người còn nói đầm này còn thông được ra biển Đông, cho nên quanh năm không bao giờ khô cạn, trời càng nắng hạn, nó càng mênh mông gợn sóng nhấp nhô, xanh biếc giập giờn, tựa hồ ở đáy đầm có vô số mạch nước đang đùn lên cuồn cuộn. Dưới đỉnh núi có mười tám lũng sâu, lũng núi nào cũng róc rách rì rào tuân chảy nguồn mạch của Long Đàm, trong đó có một lũng gọi là lũng Hồ Lô, nơi bắt đầu vào lũng núi đường rất hẹp, y như cái cuống quả bầu. Nhưng càng đi vào trong càng thấy rộng ra, đến mức hình thành một khoảng đất rộng hình tròn, đấy chính là cái ruột rỗng của quả bầu vậy. Nếu như đào ở đầm Long Đàm, xả nước đầy quả bầu này, thì ở đây sẽ thành một xứ sở mênh mông. Một buổi sáng, Chuyên Nghị đem quân giao chiến với một cánh quân Việt, bị thua bỏ chạy đến lũng Hồ Lô. Đánh nhau kịch liệt hồi lâu, hiếm hoi lắm mới có được một vài khoảnh khắc để xả hơi, binh lính vội vàng đào bếp nấu ăn, cơm chín, vừa định ăn, quân Việt đuổi sát đến nơi. Chuyên Nghị như con chim chết hụt thấy cành cây cong, nhìn thấy quân Việt khác nào như chim thấy thợ săn, vội buông bát đũa, hò nhau bỏ chạy, trong nháy mắt, trốn biệt chẳng còn một ai. Luồn khe sâu, lẩn trong rừng rậm, rồi vượt suối trèo đèo, suốt ngày như bị người khác xỏ mũi kéo đi. Quân Việt đã mấy ngày không có gì cho vào bụng, bỗng thấy mùi cơm thơm ngào ngạt bốc lên từ trong hang sâu người nào người nấy thèm nhỏ rãi ra, bất giác tăng nhanh bước chân đuổi dấn lên. Đến lúc quân Việt đến giữa lòng quả bầu, nhưng quân Ngô đã nghe tin bỏ trốn hết, thấy có cơm canh nóng hổi còn đang bỏ lại, chẳng kịp chờ quan trên ra lệnh, đám lính đói đã bu lại như ong, tranh nhau bát đũa, ăn ngấu ăn nghiến. Đang lúc tướng sĩ của quân Việt vớ được cơm trắng thịt béo ăn ngon lành, bỗng thấy cuồng phong gầm rít, sóng dữ ào ạt, sấm rền rung chuyển trời rung đất chuyển, núi lở đá nhào, thì ra quân Ngô đã đào đầm Long Đàm trên đỉnh núi, nước như từ trên trời trút xuống, cuốn ào đi như thú dữ ra khỏi núi, trùm lấp đất trời, không sức gì cản nổi, đất đã lao xuống ầm ầm, cây lớn bị nhổ bật cả rễ, muông thú chạy ngược chạy xuôi, cuối cùng bị cuốn theo dòng nước. Quân Việt thấy vậy vội vứt cả đũa, chạy thục mạng về phái cuống quả bầu, nhưng ở đó đã bị những túi cát xếp đống cao hàng trượng lấp kín, mực nước trong lũng núi nâng cao lên nhanh chóng, lên đến gối, rồi đến ngang lưng và chẳng mấy chốc đã lút đầu và lưng núi Hồ Lô đã trở thành hồ rộng vực sâu, tướng sĩ quân Việt biến thành tôm thành cá hết.

Trong Ly cung của Ngô vương ở núi Linh Nham, Tôn Tử đang đánh cờ vây với Hạp Lư. Ông điềm đạm ôn tồn, cử chỉ rất tự nhiên thư thái, ván nào cũng thắng, bàn cờ lấp lánh, cung thất sang trọng, tràn ngập một không khí tĩnh lặng và yên hàn, chẳng ai biết được rằng đất nước đang bị Sở Việt liên kết nhau xâm phạm và các tướng sĩ ở tuyến đầu đang phải đổ máu hy sinh.

Từ trong một hang sâu của núi Thiên Mục vọng ra tiếng đàn, lúc thì dồn dập như gió mùa vần vũ, như muốn vó ngựa trên đường, lúc lại nhẹ nhàng như suối trong róc rạch lặng lẽ thì thầm, thể hiện tình cảm của người gẩy đàn lúc xúc động khảng khái, lúc tâm đắc dịu dàng. Không biết gảy đàn bao nhiêu lâu, mà tiếng đàn đã biến thành tiếng ngáy ran của sấm. Ngũ Tử Tư bước vào hang, thấy sau khi gảy đàn, Tôn Tử đã khoác áo mà ngủ, ông ngồi dựa vào vách hang, ngủ rất say, hơi thở rất đều, sắc mặt hơi ửng đỏ, khoé miệng hơi mỉm cười, chắc rằng trong giấc mơ ông đã vạch ra được một phương án chiến đấu mới mẻ và ưng ý. Không nỡ làm ông thức giấc, Ngũ Tử Tư rón rén ngồi xuống cạnh đó, im lặng chờ.

Nhất tuyến thiên – một vệt trời – cứ theo tên mà hiểu nghĩa, người đứng, giữa thung lũng hẹp, ngửa mặt nhìn lên, thấy trời là một vệt. Tìm nguyên cớ thì thấy một là lũng sâu lại hẹp, hai là núi cao lại dựng đứng và lũng núi nhất tuyến thiên này chỉ có đường vào mà không có đường ra. Khắp nơi trong lũng núi là vách đá cheo leo, ngửa mặt không nhìn thấy đỉnh núi đâu, muốn ra khỏi lũng, phải nghiêng mình mà lùi ra theo lối cũ. Một buổi trưa, mặt trời gay gắt trên đầu, nóng nực không sao chịu nổi, quân Ngô lại dụ cho một cánh quân Việt vào lũng núi Nhất tuyến thiên. Trong lũng núi đã xếp đầy cành không, lau sậy và rơm rạ, sẵn sàng chờ quân Việt kéo vào. Từ ngang sườn núi, quân Ngô đã bắn xuống rất nhiều mồi lửa, thế là trong lũng núi khói đen đùn lên, lửa cháy đùng đùng, theo thế núi ngoằn ngoèo. Nhất tuyến thiên đã biến thành một con rồng lửa. Quân Việt trong bụng đã biết mình trúng kế, định quay đầu chạy, thế nhưng cửa ra sớm đã bị quân Ngô bịt chặt từ lâu, lính tráng của họ đều bị vùi thân trong lửa đỏ…

Liên quân Sở Việt liên tục bị bẻ gẫy, hao binh tổn tướng, mà chẳng làm nên trò trống gì, tiếp tục đánh nữa, tình thế sẽ càng lún càng sâu và sẽ đưa đến kết cục bi thảm là toàn quân đều tan rã, cho nên đã tất cả bỏ chạy. Quân Ngô cũng không chặn đường và đuổi theo, mà để cho họ sống sót mà về.

Chủ tướng của quân Sở là Tử Tất, trước khi rời khỏi nước Ngô nhận được một bức thư chan chứa nhiệt tình do Tôn Tử sai người mang tới. Trong thư Tôn Tử gọi Tử Tất là ngài, Tôn Tử Tất là tướng quân, ca ngợi và đánh giá cao mưu trí và dũng cảm của Tử Tất, tỏ thái độ bất bình và những chuyện ông ta bị bài xích và chịu nỗi bất công ở nước Sở. Tôn Tử bảo với Tử Tất rằng phương châm ra quân của ông lần này là đánh mạnh quân Việt, bảo vệ quân Sở, bởi vì ông thông cảm với cảnh ngộ của tướng quân Tử Tất, để cho ông về nước rồi còn có chỗ mà phân trần, không để đến nỗi những người này nắm đằng chuôi, làm cho ông thêm khó xử. Tôn Tử muốn để cho Tử Tất được ca khúc khải hoàn với tư thế của người chiến thắng, để báo cáo với Chiêu vương và lệnh doãn hai bên tả hữu, công bố với quốc dân rằng, chuyến này đi chinh phạt nước Ngô, đánh cho quân Ngô thua thảm hại và bỏ chạy tán loạn, đuổi thẳng vào đến núi Thiên Mục ở tây nam Thái Hồ, tiêu diệt hết sinh lực của họ để từ đó nước Ngô thôi không còn sức đâu đi thảo phạt các nước phụ thuộc của nước Sở nữa, thôi không dám quấy rối đến sự bình yên của nước Sở nữa.

Đọc thư của Tôn Tử, Tử Tất thấy trong lòng muôn mối tơ vò và đủ vị ngọt bùi cay đắng, không nói được ra cho đúng vị nào mà chỉ thấy xốn xang rạo rực, lệ trong khoé mắt chỉ những muốn tuôn trào. Tuy là một thế lực đối địch, nhưng Tử Tất thấy rằng, trên cõi đời này, chỉ có Tôn Vũ là người thông cảm với mình, đồng tình với mình nhất, cho nên ông ta quyết định làm theo lời Tôn Tử, ca khúc khải hoàn trở về với tư thế của người chiến thắng…

Sợ rằng người Việt sau này trở thành mối hiểm hoạ cho hậu phương nước Ngô, Hạp Lư sai Ngũ Tử Tư đắp thành luỹ cao hơn, thành lớn có chu vi lớn tới bốn mươi hai dặm ba mươi bộ, thành nhỏ tám dặm hai trăm sáu mươi bộ, rồi ở nơi hơi lệch về phía đông của thành lớn, lại xây một toà thành nhỏ, chu vi tới mười hai dặm. Thành nhỏ nằm trong thành nhỏ kia là nơi ở của Ngô vương, văn võ bá quan thì ở vòng ngoài thành nhỏ. Thành lớn vừa thuỷ vừa bộ có tới tám cửa mỗi nơi mỗi cửa, khiến cho người dân của kinh đô được ở hết trong thành, lấy đó để tăng cường phòng bị cho kinh đô của nước Ngô.

❀ ❀ ❀

[1] Ở phía đông Vu Hồ, tỉnh An Huy.

[2] Toàn Thục tỉnh An Huy ngày nay.

[3] Lục Hợp tỉnh Giang Tô ngày nay.

Nguyễn Bá Thính
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Tào Nghiêu Đức

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.