Nguyên là, buổi chiều ngày mười hai tháng bẩy, tướng sĩ quân Cử xuất hiện ở chân thành Kỷ Chướng, đều là quan quân nước Tề đóng giả, Điền Thư cũng ở trong số đó. Qua mấy lần điều khiển, các tướng lĩnh bảo vệ các cửa khẩu quan trọng và các đồn canh, tất cả đều đổi thành những thuộc hạ năm xưa của tướng quân Triệu Uy Hổ. Đêm mười hai tháng bảy, các tướng sĩ quân Tề lai vãng ở đầu đường cuối phố trong thành Kỷ Chướng; rồi kêu tướng lên: “Hỏng to rồi! Quân Tề vào thành rồi! Chạy thôi! Chậm chân là chết đấy!…”, làm cho trong thành Kỷ Chướng rối loạn hết cả lên, những tướng sĩ của quân Tề đó, hoặc là do quân Cử đóng giả, hoặc là do dân chúng cải trang. Mấu chốt của mấu chốt là Công Diễn Di thống soái của quân nước Cử lúc đó là người đã từng được Triệu Uy Hổ cứu sống. Đối với Công Diễn Di mà nói, ơn đó như ơn người sinh ra mình một lần thứ hai. Năm ấy, Triệu Uy Hổ ngậm oan mà đi, ông từng nghiến gẫy cả hai chiếc răng cửa rồi nuốt vào bụng. Đêm khuya, trước ngôi mộ hoang vắng của Triệu Uy Hổ, một mình Công Diễn Di quỳ mãi ở đấy, để lại một lời thề sắt đá: “Công Diễn Di này nhất định sẽ chém đầu tên hôn quân trừ quốc tặc, trả thù cho tướng công”. Để thực hiện nguyện vọng và đạt được mục đích đó, Công Diễn Di đã nhẫn nhục chịu đựng, cả chục năm trời, trái cũng cho làm phải, bảo sao nghe vậy nên rất được Cộng công khen ngợi, vì nể, và cũng thế mà mới leo được lên chỗ cao quan hiển tước chức trọng quyền cao, nắm giữ binh quyền. Vợ con cháu chắt của Triệu Uy Hổ được sống yên lành trong cuộc sống hàng ngày cũng nhờ cả ở sự che chở và giúp đỡ của Công Diễn Di. Lúc này, có cơ hội tốt thế này để trả thù rửa hận, đương nhiên là dù có gan nát óc lầy thì Công Diễn Di cũng chẳng từ chối, không những chỉ vì một Triệu tướng quân, mà cũng còn là vì sự phồn vinh thịnh vượng của nước Cử còn là vì cứu vớt dân lành…
Tuy nhiên, tướng lĩnh giữ thành là Phàn Hán Niên lại là người tâm phúc của Cộng công một tên, ngoan cố trung với vua bằng cái đầu rỗng tuếch, cho nên tất sẽ leo dây mà lên thành, nếu không làm sao lại có chuyện sáu mươi người ngã xuống chân thành thê thảm như thế? Cũng phải thôi, ác giả ác báo, có người đã nhân lúc lộn xộn, bắn lén Phàn Hán Niên chết ngay tại chỗ, rồi mở toang cổng thành, quân Tề vào thành như nước, vỡ bờ, ào ào lao xuống, sục sôi dâng tràn.
Điền Thư vừa là một vị tướng dày dạn trên sa trường, lại như một thợ săn lão luyện nơi rừng núi, đương nhiên sẽ không quên mục đích bao vây trong rừng là để bắt được muông thú, lần này đánh nước Cử, hạ thành Kỷ Chướng, cũng là nhằm mục đích bắt sống Cộng công, cho nên một việc hệ trọng nhất của quân Tề sau khi đến được Kỷ Chướng, tức là bao vây thật chặt thành ấp lại, đánh để Cộng công trốn mất. Tất cả những việc đó đúng là Cử Cộng công không biết tí gì, cho nên việc ông ta mở cổng thành phía tây trốn đi, lại chính là cử chỉ đút đầu vào rọ.
Tấn bi kịch của Cử Cộng công, nói với người ta một điều rất rõ ràng rằng, một con người chỉ khi nào mang lợi trừ ác cho thiên hạ, thì mới được dân chúng ủng hộ; ngược lại, bất kể là quyền thế lớn đến đâu, kể cả vua một nước nắm trong tay quyền sinh quyền sát mà dám đùa giỡn với lịch sử, thì tất sẽ bị lịch sử trừng phạt nặng nề. Đúng như đời sau có một học giả đã nói: “Kẻ đắc đạo được nhiều người giúp đỡ; kẻ thất đạo thì không ai giúp đỡ” và “làm nhiều điều bất nghĩa ức là tự sát”.
Tháng tám giữa mùa thu, trời cao mây nhạt, chim nhạn bay về phương nam, thế mà đoàn quân đi đánh nước Cử do Điền Thư chỉ huy thắng trận về triều, lại đi ngược lại hướng của bầy chim nhạn, giống như dòng nước đang cuồn cuộn chảy kia, nhởn nhơ chảy về phương bắc. Chiều hướng tuy là ngược nhau, nhưng cả hai đều đi về cố hương của mình, đi về nơi ấm áp. Dọc đường đi, núi xanh đứng chờ để đưa tiễn, nước bạc hoà theo tiếng ca, sóng thông rì rào reo vui, đỉnh núi như choàng áo mới, gió thu thổi tạt bên tà, mưa thu lác đác trên áo giáp, lá đỏ đùa trên khuôn mặt trai, hoa vàng đung đưa trong gió, muông thú tung tăng reo mừng, chim chóc trong rừng ríu rít, chim ưng bay lượn trên trời, cá bạc tung tăng đáy nước… Ôi! Mùa thu của năm 623 trước công nguyên, ánh vàng rực rỡ, sức sống tràn trề.
Quân Tề chiến thắng trở về, đặt chân lên mảnh đất nóng bỏng của Tổ Quốc, bỗng thấy dưới chân mình mịn màng mà trong lòng thì nóng rừng rực, đi đâu đến đâu cũng thấy dân chúng chiêng trống vang lừng, nhảy múa ven đường để đưa tiễn, nào táo đỏ, lê vàng nào sơn trà, hạnh đào, khoai sọ, trứng gà… bà con nhét để vào túi của anh em binh sĩ. Chiến tranh là tội ác, nhưng để trừ hại mà phải chiến tranh, thì cuộc chiến tranh đó là cần thiết cho dân và được dân đón nhận.
Kinh thành Lâm Tri phồn hoa, mỗi đường phố, mỗi ngõ hẻm đều rộng hơn và phẳng phiu hơn trước đó nhiều, và nhất là sáng sủa hơn nhiều tựa hồ như mạ lên một lớp ánh sáng. Nhà nào nhà nấy náo nức treo đèn kết hoa người nào người nấy mặc quần áo mới, ai ai cũng hớn hở mừng vui, người thì thổi sáo gảy đàn, người thì hát, người thì múa mừng chiến thắng, khắp nơi là một biển người sục sôi trong tiếng reo vui.
Tối đến, đèn lồng được thắp lên, đuốc được đốt lên, rồng lửa cháy lên, sư tử cũng rực lên, phố xá cũng cháy rực; quảng trường cháy rực và nước Tri thuỷ cũng như rực cháy, cả kinh thành Lâm Tri đang rực cháy, cháy cả trong muôn vạn tấm lòng người dân Lâm Tri để lấy ánh sáng rực rỡ chúc mừng thắng lợi, nhen nhóm lên tấm lòng vui như dại như cuồng.
Trong cung vua Tề, tiệc mừng công thịnh soạn của triều đình đã được bày ra, văn võ bá quan tề tựu đông đủ, sơn hào hải vị bày kín bàn ăn, rượu ngon thơm nồng rót tràn các chén, ánh đèn soi chén rượu, nâng chén chúc nhau, hò reo đố rượu, cười nói vang nhà. Tiếng ca nổi lên, du dương dìu dặt, lưng ong khẽ uốn, điệu múa thiết tha, cả sảnh đường bày tiệc chan hoà chìm ngập trong không khí vui mừng… Cảnh công, Yến Anh và Điền Thư ngồi chung một mâm tiệc, các quan cùng triều lũ lượt kéo đến nâng chén chúc mừng, lời lẽ khen ngợi đẹp đẽ nghe không chán tai, khiến người ta lâng lâng điên đảo. Từ ngữ tuy rất ngọt ngào, nhưng Điền Thư cũng ngẫm được ra, những ánh mắt mới nói lên mọi điều, phần lớn tỏ ra ôn hoà, dịu dàng như nắng tháng ba, song cũng không ít lại mang ý hằn học, như bắn ra những tia giận dữ. Những ánh mắt hờn ghen như luồng nước lạnh té lên, khiến đầu óc Điền Thu bỗng tỉnh táo hẳn ra, khiến ông nhận rõ được cảnh ngộ của mình lúc này và mai sau, cuộc chiến tranh chinh phạt nước Cử này sẽ mang lại cho mình những gì và cần phải đề phòng những gì.
Ông nội đánh nước Cử có công, chiến thắng trở về, Điền Vũ mừng vui như cuồng. Chàng trai lúc này đương nhiên không đủ tư cách tham dự quốc yến mừng công do nhà vua bày ra để mừng ông nội mình, cũng không giống như các thanh niên bình thường lang thang trên phố, nhập vào những cuộc vui như dại như cuồng kia mà im lặng ngồi ở thư phòng, chau mày suy nghĩ, có lúc chắp hai tay ra sau lưng, đi đi lại lại trong phòng như đếm từng bước một, hoặc vào trong phòng ngủ, ngồi tựa!ưng ngẩng mặt lên trời, ngó đăm đăm vào trần nhà suy nghĩ. Chàng đang nghĩ về đường ăn ở với mọi người và cách trị vì đất nước của Cử Cộng công, nghĩ đến quan hệ giữa nước Tề và nước Cử, nghĩ đến việc ông nội mình đi đánh nước Cử mà thắng lợi dễ dàng… đột nhiên, cậu nhổm dậy, trở lại thư phòng, cúi xuống bàn vung bút lên viết ra những lý luận sau đây về binh pháp:
Một là, mấu chốt quyết định thắng bại của một cuộc chiến tranh không phải ở như quân lính, mà ở chỗ vua có đạo hay không, vua mà có đạo, thì có thể cùng với tướng soái và trăm quan cùng một lòng một dạ, cùng chung hơi thở, cùng sống chết với nhau, quan với dân sẽ chiến đấu vào sinh ra tử vì vua, không sợ gì gian nan hiểm trở.
Hai là, đem quân đi chinh phạt nước địch, chinh chiến ở nơi ngoài ngàn dặm, cả nước cả dân đều hao tài tốn sức, mùa màng bị huỷ hoại, người chết của hết, sinh linh lầm than, chỉ để mong một ngày chiến thắng. Cho nên nếu như hà tiện tước lộc tiền tài, không chịu dùng gián điệp, đi đến chỗ do không hiểu tình hình địch mà phải chịu thất bại, thế là làm điều “bất nhân”. Tướng soái như thế không phải là tướng tài trong quân đội, người hiền tá của vua chúa, làm chúa cũng thế, cũng không phải vua chúa biết đánh thắng. Minh quân hiền tướng, sở dĩ hành động là hơn người, thành công cũng ở trên những người khác, đó là bậc tiên tri. Bậc tiên tri, không thể trông mong ở quỷ thần, không thể so sánh với những chuyện cũ, không thể nhìn vị trí mặt trăng mặt trời và trăng sao để bói toán, tất phải trông mong vào con người, cho nên quan trọng là ở chỗ dùng gián điệp.
Đêm ấy, cả kinh thành Lâm Tri từ trong cung cấm đến ngoài phố phường, từ quan đến dân, tất cả đều vui hết mức rồi mới giải tán. Khi gần tàn bữa rượu; Cảnh công đã ban bố một nghiêm lệnh: Buổi chầu sớm hôm sau, các quan không ai được vắng mặt, kể cả những vị già nua ốm yếu, bởi vì, đến lúc ấy sẽ có chỉ dụ quan trọng được ban bố.
Chính lệnh của Tề Cảnh công, ai mà dám trái! Buổi chầu sớm hôm sau, dưới thềm rồng, hai hàng văn võ bá quan quỳ đen nghịt cả một sân, đông hơn mọi khi rất nhiều, có nhiều vị lão thần hàng năm không tham gia việc triều chính cũng đều có mặt, không biết nhà vua có thánh chỉ gì quan hệ đến vận mạng quốc gia sắp ban bố! Không khí cũng tỏ ra nghiêm trang hơn mọi khi, cứ như là đang đứng trước kẻ địch, như đang làm lễ trọng, khiến cho vô khối các đại thần tham lam bậy bạ cũng chột dạ và thầm lo tai hoạ sắp giáng xuống đầu. Vậy hôm ấy Tề Cảnh Công ban thánh chỉ rốt cuộc là cái gì? Thánh chỉ đó là: Điền Thư đánh nước Cử có công, từ hôm nay trở đi, ban cho họ là Tôn, phong cho Lạc An là đất màu mỡ ở gần kinh kỳ để làm thái ấp.
Nghe thánh chỉ, quần thần không ai là không kinh ngạc, Điền Thư tuy đánh nước Cử có công, nhưng phong thưởng như thế, e rằng quá hậu hĩnh, làm quan cả đời hoặc ít ra là nửa đời người, trong trí nhớ của họ, chưa từng bao giờ có chuyện tương tự như thế nảy xảy ra. Nhưng mà quân lệnh như sơn, ai dám hé răng ra dám nói một nửa chữ không! Bởi vậy, sau khi kinh ngạc, ai nấy đều nhất loạt tung hô quân vương sáng suốt, thưởng công phạt tội, lợi nước lợi dân và lần lượt ra chúc mừng Điền Thư.
Đang lúc Điền Thư ngỏ lời tạ ơn trời bể của chúa công, vô tình lại liếc thấy những cặp mắt đố kỵ, đến nảy lửa, nhưng ông vẫn bình thản ung dung, đáp lại những ánh mắt đó bằng nụ cười của mình. Đúng vậy, thừa biết biển sẽ có phong ba bão tố, nhưng những người đi biển, những thuyền đánh cá vẫn cứ căng buồm ra biển, vượt sóng ra khơi; thừa biết rằng bão tố sẽ ăn thịt mình, nhưng người đi săn vẫn mang binh khí vào rừng, trèo đèo lội suối. Điền Thư không những là một lão tướng dày dạn ở chốn sa trường, là một nhà quân sự nức tiếng xa gần, mà còn là một nhà chính trị, rất có ảnh hưởng. Mà đã là nhà chính trị, thì tự nhiên phải có mưu lược và gan dạ của một nhà chính trị, để thực hiện mục tiêu chính trị của mình, họ sẽ ứng phó được mọi sự biến đổi của gió mưa thời cuộc, chịu một sự trả giá, hy sinh cần thiết, và lấy đó làm vinh, lấy đó làm vui.
Từ đó trở đi, các thế hệ từ Điền Thư trở xuống, nhất loại phải đổi sang họ Tôn: Tôn Thư, Tôn Bằng, Tôn Vũ…
Từ đó, Tôn Thư ăn lộc ở Lạc An, nhưng ông không hề đến ở Lạc An, mà chỉ cử đến đó người ấp tể để trông nom. Do nhu cầu của cuộc đấu tranh chính trị, Tôn Thư đã chuyển gia đình mình từ thôn Điền Ban đến ở Lâm Tri kinh đô nước Tề, đương nhiên là từ đó về sau, thôn Điền Ban cũng thành thôn Tôn Ban.
Từ đó trở đi, địa vị của Tôn Thư, Tôn Bằng trong triều đình càng thêm hiển hách, là một trong những hàng danh môn quý tộc quyết định vận mệnh triều đình nước Tề.
Cũng từ đó, trong một thời gian khá dài, Tôn Vũ ở lì trong nhà, đóng cửa không tiếp khách, tập trung tinh lực và thời gian, chỉnh lý những tư liệu đọc được và ghi chép lại trong khi khảo sát, để làm một công trình lớn lao là “binh pháp” do ông viết.
Từ đó, Tôn Vũ mang hành lý, đồ ngủ vào thư phòng, ăn ở đấy, ngủ ở đấy, làm việc ở đấy. Ở đấy thẻ tre xếp như núi, Tôn Vũ như một chàng thợ săn vai vác mũi lao, trèo đèo lội suối, lặn lội trong vùng rừng núi mênh mang ấy. Lại giống như một ngư phủ, ngồi trên chiếc bách lá tre, vượt lên sóng gió, dập dềnh trên biển cả mênh mông. Chàng mặc không hay ấm lạnh, ăn không có giờ giấc, ngủ không lên giường. Trời rét như cắt, chàng cũng chẳng khoác thêm chiếc áo lên người, mà tựa hồ trong lồng ngực của mình đang âm ỉ cháy nên không hề nhạy cảm với không khí thay đổi bên ngoài. Mỗi ngày ba bữa, người hầu bưng cơm lên thư phòng cho Tôn Vũ, nhưng thường thường là mang cơm trưa lên thì thấy cơm sáng vẫn còn chưa đụng đến; cơm tối chưa tới, thì cơm trưa vẫn còn nguyên, bà mẹ đến dịu dàng, khen ngợi, chàng cũng không để ý, ông bố đến tỏ ý trách móc, chàng cũng không bận tâm. Trong một khoảng thời gian khá dài ăn uống ngon hay dở, đối với Tôn Vũ không có gì quan trọng. Bởi vì dù có là vây cá, yến sào, bàn tay gấu hay vó lạc đà đi nữa, thì chàng hoặc là không hề nhúng đũa, hoặc là ăn vội ăn vàng, không cần biết mùi vị của thức ăn. Còn khi cảm thấy đói bụng, muốn ăn một cái gì đó, chàng thường quờ tay lấy khi thì một cái bánh hấp nguội cứng, khi thì một mẩu bánh bao mà về mùa đông nó đã lạnh cứng như đóng băng, song lại ăn rất ngon lành. Đêm đến, chàng khoanh tay làm gối, để nguyên cả quần áo gục xuống bàn mà ngủ. Gọi là ngủ, cũng chỉ là chợp mắt đi chốc lát, hoặc chỉ là nhắm mắt nghỉ ngơi đôi chút mà thôi. Cạnh án thư của chàng có đặt một chậu nước lạnh, trong bỏ sẵn một tấm khăn mặt, mỗi khi cơn mệt mỏi ập đến, chàng lại vã nước lạnh lên mặt, hoặc là dìm cả mặt mình vào chậu nước lạnh một lát. Mùa đông nước trong chậu đóng băng, làm như vậy thì hiệu quả cảng tốt. Một đêm vài lần như thế, thì cũng là lúc ánh ban mai bò lên song cửa. ở Lâm Tri kinh đô nước Tề rộng lớn và phồn hoa này, một năm ba trăm sáu mươi lăm ngày, thì ở cánh cửa sổ này là nơi tắt đèn muộn nhất và sáng đèn sớm nhất (kỳ thực thì đèn nến ở đây thường là sáng thâu đêm, cho tận đến khi cùng hoà nhập với ánh ban mai).
Tôn Vũ gầy đi từng ngày, thể chất cũng giảm sút đi từng ngày, da mặt vàng đi từng ngày, tinh thần mỗi ngày một sa sút, đến nỗi ánh mắt trở nên đờ đẫn, thần sắc trở nên ngẩn ngơ, đối với mọi thứ đều tỏ ra không quan tâm, bỏ mặc ngoài tai, tựa như trên thế gian này muôn vật đều không tồn tại, chỉ có những cái thẻ tre, những thư tịch, những ghi chép và “binh pháp” của mình, mới là cái kích thích được tầm mắt và thần kinh của chàng lúc này.
Con cái là núm ruột của mẹ, là một phần cuộc sống của người mẹ. Thấy Tôn Vũ mặt võ mình gầy, tinh thần đờ đẫn như vậy, Phạm Ngọc Lan sốt ruột và lo lắng. Bà liền bỏ hết công việc nội trợ khác để chuyên chú chăm lo săn sóc việc ăn uống nghỉ ngơi cho Tôn Vũ. Quý phu nhân đã làm một nàng hầu. Bà cũng mang đồ lề của mình tới thư phòng của con, cùng làm bạn với con suốt mỗi ngày mười hai canh giờ đằng đẵng, rồi một tháng ba mươi ngày, một năm chăn ba trăm sáu mươi lăm ngày đêm. Việc ăn uống của con do bà thân chinh xuống bếp lo liệu. Biết con không ai bằng mẹ, bà biết con mình từ tấm bé thích ăn món gì, ưng với khẩu vị nào. Cơm nước bưng vào trong thư phòng, bà giục con ăn, ép con ăn, rồi cùng ăn với con như ngày nào còn thơ bé, bón cho con từng miếng ăn. Nóng quá, bà thổi nguội đi cho con; lạnh quá bà sai người xuống bếp hâm nóng mang lên. Nhìn thấy con ăn ngon miệng, bà thấy như ấm trong lòng, trên mặt bỗng rạng rỡ lên nét cười và niềm an ủi. Thấy đám mây sầu trên mặt mẹ tiêu tan Tôn Vũ thấy ăn ngon miệng hơn, và ăn được nhiều hơn.
Phạm Ngọc Lan thông cảm với con mình, và hiểu được điều sở nguyện của chàng, ủng hộ sự nghiệp mà chàng đang phấn đấu. Bởi vậy, bà không trói buộc và hạn chế một cách tiêu cực, mà để mắt tới mọi việc, tìm mọi cách giúp đỡ con mình một cách tích cực, cố mọi cách giảm nhẹ gánh nặng và khối lượng công việc của con mình, khéo léo làm phân tán sự tập trung chú ý của con, tìm đủ mọi cách có thể được, giúp cho con mình khoẻ mạnh, phục hồi thể lực nhanh chóng. Bà đã giúp con mình bảo quản, tìm kiếm những tài liệu cần đọc thêm, bớt được cho Tôn Vũ rất nhiều thì giờ. Cũng giống như hai mươi năm trước, bà còn hát cho con nghe những khúc hát ru, kể cho con nghe những mẩu chuyện thần thoại, mặc dù có nhưng lúc bà làm cho con mình phải khó chịu, hoặc khiến cho con mình phải bật cười lên… bà đều không để ý đến chuyện đó. Vào những thời gian cố định trong ngày, bà gọi con ra vườn đi dạo, hai mẹ con sánh vai nhau, thong dong đi trong vườn vừa đi, vừa nói chuyện, thôi thì đủ thứ chuyện dưới biển trên trời, không chuyện gì là không nói đến. Khoảng nửa canh giờ qua đi, đầu óc của Tôn Vũ từ chỗ mụ mẫm, đã trở nên trong sáng. Bà còn mời một quyền sư nổi tiếng đến nhà, để mỗi buổi sớm dạy cho con mình mười tám ban võ nghệ. Muốn làm tướng lĩnh, muốn trở thành nhà quân sự, mà lại không có võ nghệ hơn người sao được? Điểm này con trai bà tỏ ra sẵn sàng tiếp nhận nhất.
Màn đêm buông xuống, bà mẹ thắp đèn, nến lên cho con trai, rồi thỉnh thoảng lại giúp con mình khêu bấc đèn, gạt ngọn nến. Thấy trời lạnh, bà tự mình lặng lẽ đi lấy áo khoác thêm cho con trai. Đêm khuya, thấy con vươn vai, ngáp ngủ, bà mẹ vội vàng đi vò khăn vào nước lạnh rồi vắt ráo đi, đưa cho con. Gần đến giờ Tý, bà mẹ lại nhắc còn thu xếp công việc để đi ngủ. Những lúc như thế Tôn Vũ luôn tỏ ra nghe lời mẹ, vì chàng không ngủ, thì đương nhiên bà cũng không chịu ngủ, chàng nhận ra rằng mẹ mình đã vì mình quá nhiều… Khi con trai nằm xuống, bà mẹ lại đến bên giường để vén chăn, cài màn, chờ cho đến khi trong màn vang lên tiếng ngáy đều đều, lúc đó mới rón rén nhẹ nhàng rời chân đi. Buổi sáng sớm, bà mẹ dùng tấm chăn để che lấy cửa sổ, không để cho ánh nắng ban mai chiếu vào trong phòng và sai người nhà ở bên ngoài trông chừng mèo chó và xua lũ chim sẻ bay đi nơi khác để con trai khỏi giật mình tỉnh mất giấc mơ đẹp…
Trên đời này cao cả nhất là trời xanh, nhưng tình thương của người mẹ còn cao hơn trời; trên đời này ấm áp nhất là ánh nắng, nhưng có nơi ấm hơn ánh mặt trời, đó là lòng mẹ. Một con người bất kể là bao nhiêu tuổi, cho dù đã là ông già tám mươi lụ khu, đứng trước mặt mẹ mình cũng vẫn chỉ là đứa trẻ; bất kể quyền cao đức trọng đến đâu cho dù là vương hầu khanh tướng, đối với mẹ mình vẫn cứ phải tỏ ra tôn kính. Bởi vì tình thương của người mẹ đối với con mình, là thứ tình yêu chân thật vô tư, như ngọc trong suốt, như bầu trời cao xanh, như làn nước kia tinh khiết. Sự phụng hiến của bà mẹ cho đứa con hay cho xã hội, là không gì sánh nổi, như mặt trời ban ngày và mặt trăng ban đêm, như nước và không khí là hai thứ con người nhờ nó mà sống được.
Mấy tháng sau, thể chất và tinh thần của Tôn Vũ đều đã được hồi phục. Phạm Ngọc Lan ý thức được rằng, một con người, khi còn nhỏ thì cần cha mẹ săn sóc, sau khi đã khôn lớn thành người, thì cần có sự quan tâm lẫn nhau của vợ hay chồng. Con trai bà lúc này đã hai mươi ba tuổi rồi, không thể để tuỳ ý cậu được mà phải nhanh chóng xây dựng gia đình cho cậu.
Chuyện tình duyên của Tôn Vũ, đã từng xảy ra trục trặc, đã từng phải đi đường vòng.
Trong hàng ngũ quí tộc ở Tề, hai họ Điền, Bào xưa nay vốn đi lại thân thiết hơn cả, hai bên coi nhau như anh em, vinh thì cùng vinh, thiệt thì cùng thiệt. Ngay từ khi Điền Hoàn tử Vô Vũ, là cụ của Tôn Vũ, đang còn sống, đã cùng với nhà họ Bào kết nên mối thân tình loan phượng tức là muốn gả cháu gái của Bào Quốc cho Điền Vũ làm vợ, lúc ấy Điền Vũ mới lên mười. Có điều đấy là chuyện của các người già hai bên bàn bạc với nhau chứ cũng chưa thực hành nghi lễ chi hết cả, chẳng hạn như lục lễ đã thành văn. Ở đời đó là: Nạp thái là bên nhà trai gửi lễ sang nhà gái, có lời xin hỏi, lễ vấn danh, là lễ hỏi nhà gái cho rõ tên tuổi của cô dâu, nạp cát, là bói được ngày lành, đến nhà gái báo tin mừng, đưa lễ và ăn hỏi, nạp vi, lễ trọng sau khi ăn hỏi mà nhà trai đưa sang nhà gái; thỉnh kỳ là chọn ngày làm lễ cưới và hỏi ý kiến bên nhà gái; thân nghênh là chú rể đến nhà gái để đón cô dâu về. Tuy rằng cả hai bên trai gái tuổi đều còn trẻ, chưa thể cưới xin ngay được, nhưng bốn lễ ở đằng trước vừa mới kể là đều có thể làm được. Tuy rằng chưa làm tục lễ như trên, nhưng cuộc hôn nhân định liệu bằng miệng đó chẳng có gì ràng buộc cả, bất kì bên nào không chấp nhận, thì cả tình lẫn lý đều chẳng có gì là quá đáng. Họ Bào sống ở kinh thành Lâm Tri, họ Điền sống ở thôn Điền Ban của Lạc An, cách nhau tuy chỉ có trên mười dặm song đi lại cũng cứ thấy có điều bất tiện, bởi vậy mà Tôn Vũ với Bào Ngọc Phụng rất ít khi có dịp gặp nhau. Trước đây cũng có gặp nhau mấy lần thật, nhưng đều là trẻ con cả, nên ấn tượng còn rất mơ hồ, chẳng có thể nói được đó là một thứ tình cảm gì. Ngược lại, Tôn Vũ từ nhỏ lớn lên ở nhà quê, sáng sáng ra bờ Tri Thuỷ luyện rèn kiếm thuật, làm quen với một cô gái. tên là Điền Thục Hiền. Tuy không phải xuất thân từ gia đình danh môn quý tộc, nhưng Điền Thục Hiền cũng vốn dòng dõi thư hương, ông nội từng làm quận thú Thiên Thặng, cha nàng chán ghét con đường làm quan, chuyên đi sâu nghiên cứu về học vấn, là một học giả khá nổi tiếng thời bấy giờ. Nối dõi dòng thi lễ, ngay từ tấm bé, Thục Hiền đã được tiếp thu một nền giáo dục tốt đẹp, hơn nữa lại bản tính thông minh đĩnh ngộ, cho nên chẳng những thông thạo về thi lễ mà cả cầm kỳ thi hoạ chẳng thứ nào là không tinh thông. Nàng có một cặp mắt biết nói thay lời, như hai vùng mặt nước hồ thu, xanh và trong tới đáy, luôn lăn tăn những gợn sóng trí tuệ và lấp lánh những tia sáng khôn ngoan. Đôi tròng mắt nàng, như hai viên ngọc quý màu đen rơi vào chén ngọc quỳnh tương, đen trắng rõ ràng, soi vào nhau hết sức hài hoà. Nàng như một con chim vui nhộn tung tăng, tung cánh tự do bay lượn qua rừng qua núi, vô tư lự ngẩng đầu cất cao tiếng hót giữa không trung. Trái tim nàng trong sáng bao la như khoảng trời xanh, thuần khiết như ánh trăng ngà ngọc. Tình cảm của nàng tựa như luồng gió xuân thổi giữa tháng ba, vừa dịu dàng, lại vừa nồng nàn ấm áp. Khuôn mặt nàng như mặt trời ban mai vừa nhô lên đỉnh núi, vừa hồng hào, lại vừa e ấp nhưng dịu dàng thân thiết dễ gần. Tính tình của nàng hồn nhiên và trong trắng như một con cừu non trinh bạch, dịu dàng, điềm tình và vô cùng đôn hậu… Từ trong rừng cây, từ trên bãi cỏ, một người đọc kinh thi, một người múa kiếm, mặt trời làm mối, gió đông xe sợi tơ duyên, đã gắn bó hai kẻ hữu tình này lại với nhau. Buổi gặp gỡ ban đầu, họ kiếm chuyện hỏi nhau, tình ý ngập ngừng, ánh mắt thay lời nhắn gửi trông chờ, lòng họ rộn ràng, chào nhau nhưng chẳng nở rời chân. Rồi họ thề non hẹn biển, chân quỳ miệng khấn, như keo, như sơn, gắn bó tâm hồn…
Sau khi biết được tình yêu vụng trộm đó của con trai, Tôn Bằng nổi trận lôi đình, trừng phạt Tôn Vũ một trận đến nơi đến chốn và cố tình ruồng rẫy đôi bạn tình này, phá vỡ cuộc nhân duyên đằm thắm giữa hai người. Điều ấy cũng chẳng có gì lạ, vì thứ nhất là hai nhà cùng là họ Điền, môn không đăng, hộ không đối; thứ hai là cha ông đã có hẹn, không thể trái lời; thứ ba là lệnh của ông bà, cũng là lời mai mối; thứ tư là bất chấp người trên, tự quyết định lấy chuyện trăm năm đôi lứa, là một trong những điều bất hiếu nhất. Tôn Vũ cũng không phải loại người thấy bảo sao là ngoan ngoãn nghe theo làm vậy, chàng khăng khăng thà chết không theo, quay ra làm mình làm mẩy với cha mình, không ăn, không uống, còn đe rằng cả hai sẽ nhảy xuống sống tự tử. Cũng may vừa lúc ấy thì Tôn Thư đánh giặc mới về, nếu không, chẳng may Tôn phủ có xảy ra chuyện gì thật thì quả là uổng phí mất một nhân tài. Tuy rằng tuổi tác đã cao, lại là bề trên, nhưng tư tưởng của Tôn Thư lại hết sức phóng khoáng, ông không muốn làm khổ đứa cháu quí hoá của mình, ủng hộ cuộc hôn nhân giữa Tôn Vũ với Điền Thục Hiền, còn chuyện với Bào phủ ở Lâm Tri, ông sẽ thân chinh đi dàn xếp. Đã có ông nội đứng ra làm chủ như thế rồi, thì hỏi rằng ai còn dám nói rằng không. Việc hôn nhân của Tôn Vũ với Điền Thục Hiền thế là quyết định như vậy. Nhưng Tôn Vũ còn đang đi học, phải đi đây đó để học hỏi, phải tiếp tục đi khảo sát ở chiến trường xưa, còn phải tập trung viết “Binh pháp”. Điền Thục Hiền luôn luôn sẵn sàng ủng hộ những dự định đó của chàng, nên ngày cưới của họ cứ thế lần khân kéo dài mãi cho đến ngày hôm nay…
Cuộc tình duyên của Tôn Vũ và Điền Thục Hiền đã là cuộc nhân duyên mộc đào quỳnh giao[1] thì sau khi cưới nhau đương nhiên họ quấn quít bên nhau như cá gặp nước, gắn bó yêu thương vô cùng. Tuy nhiên họ cũng không đến nỗi quá say đắm trong tình duyên mới, mà vì sự nghiệp lớn lao từng theo đuổi, họ đã vì nhau phu xướng phụ tuỳ, vì công việc mà quên ăn quên ngủ.
Một đêm khuya mùa hạ. Tôn Vũ đang ngồi viết “binh pháp”, lúc thì chau mày suy nghĩ, lúc thì rạng rỡ mặt mày và liên tục cắm cúi lên bàn viết. Hơi nóng ban đêm như hun người, không khí cũng như co quánh lại không hề thấy có một sợi gió thoảng qua, cả bầu không gian như một cái lồng hấp, và những con người sống trên thế gian này chẳng khác gì những cái bánh hấp nằm trong đó, khắp mình mồ hôi đầm đìa, xung quanh hơi nóng ngột ngạt. Tôn Vũ chỉ mặc mỗi một chiếc quần đùi, vậy mà vẫn còn phải há cả mồm ra mà hổn hển, cứ như một con bò phải kéo sá cày quá nặng. Điền Thục Hiền nửa trên mặc chiếc áo cánh màu phớt hồng, nửa thân dưới mặc chiếc váy lụa màu trắng ngọc, cả hai thứ đều đều nhẹ như mây bềnh bồng và đều mỏng như lớp cánh ve, tay nàng cầm chiếc quạt giấy, liên tục quạt mát cho chồng, mặc dù nàng mệt đến mức vai nhức tay mỏi, nhưng thấy chồng vẫn lã chã mình đầy mồ hôi. Nàng buông quạt xuống, múc vào một chậu nước lạnh, vò chiếc khăn vắt qua, rồi nhẹ nhàng lau khắp lượt trên mình chàng. Tất cả những công việc đó đều như tiến hành trong trạng thái vô tri vô giác của Tôn Vũ, cử chỉ của nàng thật nhẹ nhàng, như mơn trớn vỗ về vậy. Thế nhưng do quá tập trung tư tưởng, Tôn Vũ có cảm giác như mình không hề hay biết gì, đầu không ngẩng lên, bút không ngừng nghí ngoáy, vẫn cứ miệt mài viết, mà tốc độ lại còn nhanh hơn trước. Bỗng nhiên từ phía sau sân rừng rực lên ánh lửa, chiếu đỏ cả một góc trời y như cảnh chiều tà mặt trời sắp lặn, tiếng phèng la inh ỏi như xé màng tai, tiếng kêu cứu ồn ào ầm ầm như vỡ chợ, cảnh ấy xảy ra vào ban đêm nên nghe cảng ghê sợ, rụng rời chân tay. Người ta thường nói, nước lửa cũng như giặc ánh lửa tức là mệnh lệnh, tiếng kêu cứu chính là tiếng trống, tiếng kèn xung trận, Tôn Vũ xông ra khỏi phòng, chạy tới nơi ngọn lửa đang hừng hực cháy. Thì ra chuồng ngựa ở phía sau sân bị cháy. Tôn Vũ chạy đến nơi thì phía trước chuồng ngựa đã đang lố nhố những người, chạy tới chạy lui, rối rít tít mù. Có người định nhạy vào trong lán ngựa, đánh tháo cho cả chục con ngựa hay đang buộc ở đấy được thoát ra, khốn nỗi ngựa nhiều, cửa lại hẹp, những con ngựa cuống lên vì sợ lửa, đã giằng đứt dây cương, hí vang lên và đập vó xuống đất, chạy đi chạy lại, chẳng có con nào được thoát ra ngoài. Ngọn lửa bắt đầu bén từ phòng ngủ của mấy người coi ngựa, hai người trong số họ còn trẻ hơn nên đã xông ra được ngoài biển lửa, thoát được nguy hiểm. Nhưng ở trong đó vẫn còn một ông già đang kêu cứu và rên rỉ. Tôn Vũ hô lớn:
– Cứu người hệ trọng hơn, hãy bỏ ngựa lại đấy!
Hô xong, chàng xông thẳng đến gian nhà coi ngựa. Gian nhà ấy sớm đã chìm trong ngọn lửa, khói đen mờ mịt, cửa đi cửa sổ đều thè ra những lưỡi lửa đỏ lừ trên nóc nhà, tre pheo cháy nổ lên bôm bốp, xem chừng sắp sập xuống đến nơi. Tiếng kêu cứu yếu ớt theo luồng khói đặc và ngọn lửa bừng bừng từ trong một căn phòng vang ra. Tôn Vũ người cao sức khoẻ, lại có được tập tành võ nghệ, thấy vậy, tạo thế nhảy ùa vào biển lửa hòng cứu người giám mã già đang thều thào kêu cứu…
Không biết qua đi bao nhiêu lâu sau, Tôn Vũ kéo theo một ông già bị lửa khói hun đen sì, co dúm lại như chú gà con rơi xuống nước, loạng choạng từ trong biển lửa bước ra, đầu tóc chàng bị cháy xém, quần áo bốc lên khói lên, đi thêm được mấy bước nữa thế ngã vật ra đất…
Ông già coi ngựa được cứu sống, Tôn Vũ lại bị bỏng nặng. Da chàng bị loét ra từng đám, máu mủ đầm đìa, sốt cao li bì, nói mê lảm nhảm, trong phủ từ già chí trẻ ai cũng lo thay cho chàng, ngay cả Yến Anh và Tề Cảnh công cũng hay tin và luôn sai người đến hỏi thăm. Cuối cùng, do điều kiện thuốc men ở kinh đô nước Tề cũng tốt hơn, lại có các thái y tận tình săn sóc, chữa trị, Tôn Vũ đã dần dần qua được cơn nguy kịch. Vừa mới hết sốt, đầu óc cũng mới được sáng suốt trở lại, Tôn Vũ khắp mình bôi kín thuốc cao, băng bó chằng chịt, đã nghiên răng chịu đau, cựa quậy chân tay để bắt đầu trở lại với công việc soạn thảo “binh pháp”. Chàng phải nằm cứng trên giường bệnh, hơi cựa mình một cái là đau nhói lên tận tim, mọi sinh hoạt không thể chủ động được, càng không thể ra khỏi giường, không thể phục lên bàn mà viết được, nhưng miệng của chàng còn chưa bị băng kín vẫn còn ăn uống được, vợ chàng phải kiên nhẫn bón cho từng thìa nhỏ. Chàng vẫn nói được kể ra được những điều mình đang nghĩ trong lòng, cảm nhận thấy trong óc. Đôi mắt chàng cũng còn nguyên lành và không bị băng bó, được vợ giúp đỡ, vẫn có thể đọc được các tấm thẻ tre, quan sát và phân tích được những gì xảy ra quanh mình và phán đoán được một cách hợp lý. Hai tai chàng cũng không bị băng che, vẫn nghe được tiếng đọc sách của vợ mình, không ảnh hưởng tới việc trao đổi, bàn bạc và tranh luận với vợ. Có được ba giác quan đó lúc này là tạm đủ lắm rồi, đương nhiên, vẫn cần có cái đầu tỉnh táo và sáng suốt. Còn như chuyện đau đớn về xác thịt, để làm việc này, chàng đã hoàn toàn gác bỏ một bên, chịu để những hạt mồ hôi to như hạt đậu bò trên trán và bặm đến chảy cả máu môi dưới chịu đau, máu chảy ròng ra cả mép, chàng vẫn tỉnh táo chuyển động đôi tròng mắt tinh anh, rủ rỉ kể, để cho Thục Hiền vợ chàng ghi chép. Ghi chép xong một đoạn, vợ dừng lại, đọc cho chồng nghe, hai vợ chồng lại gọt rũa, bàn bạc, cân nhắc, sửa chữa. Mà kể cũng thật lạ, làm như thế ít lâu, nỗi đau thể xác tự nhiên giảm nhẹ đi nhiều.
Khắp mình bị băng bó hầu như bịt kín, mồ hôi và các chất bài tiết không có đường thoát đi, lại thêm nằm trên giường lâu ngày, phần xương cùng hai bên mông của Tôn Vũ đã bị hoại thư, tối hôm ấy, khi thay băng bôi thuốc, những dải băng thường dính theo những vảy vụn, máu mủ cũng chảy ra theo, nỗi đau đớn ấy, thật không khác gì rút gân rứt thịt. Mỗi lúc như thế, Tôn Vũ thường lấy công việc soạn sách để chống lại nỗi đau thể xác, khiến cho các thái y và những người hầu hạ đến rơi cả nước mắt, nức nở không ra tiếng. Người vợ thân yêu của chàng thì để nước mắt hoà theo từng vết máu, rồi sau đó lại ghi chép lên thẻ tre từng chữ từng câu chồng mình đọc cho. Tôn Vũ, một chàng trai mới kiên cường làm sao! Trên đời này, cứng rắn nhất là sắt thép và có một thứ còn cứng rắn hơn sắt thép là kim cương, còn cứng rắn hơn kim cương là ý chí của người anh hùng.
Nửa năm sau, sức khỏe của Tôn Vũ hoàn toàn bình phục, cũng may mà ngày ấy vết thương không bị vào gân vào xương, cho nên đến lúc này không để lại dị tật gì.
Một ngày giữa mùa xuân, Tôn Vũ đang chăm chú soạn “binh pháp”, bỗng đâu nhận được tin buồn, ông ngoại bị ốm chết. Theo phong tục của đất Tề, ông ngoại về trời, cháu ngoại chẳng những phải đến chịu tang, mà còn phải tới kịp để túc trực bên linh cữu, có nghĩa là thân mặc áo xô, đầu đội mũ gai, ngang lưng cũng thắt đai gai rồi quỳ trước linh cữu của người chết, mỗi khi có họ hàng bạn hữu đến phúng viếng, lại phải ô hô khóc theo. Đám già quàn ba, người quá cố cứ sáu mươi tuổi trở lên thì đám tang của họ được gọi là đám già, linh cữu được để trong nhà ba ngày gọi là quàn ba. Tôn Vũ quí thời giờ như vàng, để khỏi ảnh hưởng tới việc soạn “binh pháp”, nên đã nêu ra việc sẽ chỉ về chịu tang chứ không túc trực bên linh cữu. Cha mẹ không bằng lòng, khiến cho cả đôi bên đều không được thoải mái. Để làm giảm mối mâu thuẫn này, Điền Thục Hiền đã mạnh dạn bước ra, xin được đi thay chồng đi làm công việc đó! Nhưng công việc đó đâu có thể thay nhau như thế được, huống chi là vợ chồng họ lấy nhau vừa mới một năm. Điền Thục Hiền vẫn là cô dâu mới xiêm hồng áo tía, sau khi túc trực; bên linh cữu, thì ba năm liền phải mặc đồ tang. Có điều Điền Thục Hiền đã cố tình làm thế, nên bố chồng mẹ chồng chẳng còn biết nói sao. Kết quả là Thục Hiền đã giành được tiếng tốt còn Tôn Vũ thì bị nói ra nói vào. Bởi những ngày còn thơ ấu, Tôn Vũ thường ở nhà ông bà ngoại, do cậu bé vốn thông minh mau lẹ hơn người, lại thạo đường ăn nói, rất được mọi người mến yêu, nhất là bà ngoại, coi cậu cứ như hạt ngọc trên tay, còn lòng yêu mến với những đứa cháu khác thì lại kém hẳn rõ rệt. Nay Tôn Vũ không chịu làm một việc theo tục lệ như thế, làm gì người ta chẳng bàn tán xôn xao? Người thì bảo, người già phần lớn yêu thương con gái, quý cháu ngoại, như thế quả là một sai lầm lớn. Có người thì bảo, khác máu thì tanh lòng không thể tin được, cháu ngoại như chó, ăn xong là chuồn. Thế là để soạn “binh thư” mà Tôn Vũ đã phải chịu mang hai tiếng “bất hiếu”.
Tôn Vũ có người em họ tên là Đoan Mộc Lương, đang sắp sửa lấy vợ, nhờ Tôn Vũ đi làm phù rể, Tôn Vũ đã khéo léo chối từ, khiến Đoan Mộc Lương hết sức bực mình, vẫy tay áo bỏ đi. Sở dĩ Tôn Vũ lại từ chối ý nghĩ tốt đẹp và lời chào của người em họ, là vì tiếc thì giờ, là không muốn bỏ ra một hai ngày quý báu như vàng đó. Tôn Vũ với Đoan Mộc Lương, tuy chẳng phải cùng một mẹ sinh ra, nhưng lại thân nhau như anh em một nhà. Hơn thế, Đoan Mộc Lương còn có cả chút ơn cứu mạng cho Tôn Vũ. Đó là khi còn nhỏ, họ cùng ở nhà bà ngoại với nhau. Một hôm cuối hạ đầu thu, hai anh em giấu người lớn lẻn vào rừng chơi, càng đi càng cách xa làng, và tới một cánh rừng dương, cây cao ngút trời, cỏ rậm dày đặc, trong rừng đầy những loài chim hót như tiếng hót, còn trên những búi cỏ kia cơ man là cào cào châu chấu và dế. Hai anh em đang chơi đùa rất khoái chí, bỗng từ trong một lùm cỏ trườn ra một con rắn độc đang ngóc đầu trườn tới chỗ Tôn Vũ. Lúc này Tôn Vũ đang mải đuổi bắt một con cào cào, không hề hay biết chút gì. Đoan Mộc Lương nhanh mắt nhanh tay, vớ ngay một hòn đá, ném thật lực vào con rắn đang ngóc đầu lên. Con rắn độc bị đau, quằn quại và run giật trên bãi cỏ, hai anh em sẵn cây gậy trong tay, lại đánh cho một trận tơi tả nữa cho đến khi con rắn độc nát đầu ra. Ơn cứu mạng ấy còn chưa báo, thế mà nay bảo đi phù rể lại tìm cách từ chối, thế chẳng hoá ra vô tình vô nghĩa lắm sao? Và cũng cần biết rằng đi phù rể là một việc rất vinh dự, phải là dáng vẻ đàng hoàng, đạo đức tử tế, được người kính nể mới đủ tư cách gánh vác công việc này. Tin tức đồn đi, rất nhiều người bảo rằng Tôn Vũ mới có chút tiếng tăm, đã có vẻ vênh vác lên mặt, không coi người thân bạn bè là gì, đúng là hạng tiểu nhân sớm nắng chiều mưa. Để soạn “binh pháp” Tôn Vũ đã phải mang tiếng là phường “bất nghĩa”.
Thu qua đông tới, ngày ngắn đêm dài, bầu trời ít khi được trong sáng, luôn luôn tản mát những làn tuyết nhẹ, hoặc là chỉ một đêm gió bấc cuộn về, thì nhưng bông tuyết lớn như những chiếc lông gà bay tới tấp, và chỉ trong phút chốc, cả trời đất mênh mang bỗng trắng xoá như nạm bạc, băng đóng tuyết phủ, một màu thuần khiết. Đúng vào một đêm mưa tuyết đầy trời như thế, dưới ánh đèn leo lét, Tôn Vũ đang vung bút viết sách, Thục Hiền cũng đang chăm chú đọc và chỉnh lý tư liệu. Bỗng nhiên, một tiếng huỵch như có người vừa ngã xuống, làm Tôn Vũ giật mình quay đầu lại. Chàng hốt hoảng khi thấy Thục Hiền đang duỗi dài chân tay nằm xoài bên cạnh đống thẻ tre văng vãi tứ tung. Tôn Vũ vội hô hoán lên, vợ chàng vẫn không trả lời. Cùng lúc ấy chàng cầm cây nến đi về phía trước, soi xuống tận nơi, thấy Thục Hiền vợ chàng mặt tái nhợt, như vừa rơi xuống nước, chỉ còn thoi thóp thở…
❀ ❀ ❀
[1] Mộc đào quỳnh giao là lấy ý bài thơ “mộc qua” trong “Vệ phong” của Kinh thi. Đây là bài thơ tình, ý nói người con gái đưa tặng người con trai quả đu đủ hay quà đào quả mận. Người con trai tặng lại vòng ngọc bội. Quà tặng lại quý hơn nhiều. Nhưng ý tứ không ở đây, mà là ở chỗ mãi kết duyên tình – Tác giả.