Lại nói cuối năm 513 trước công nguyên, tức là năm Hạp Lư thứ hai, Ngô vương đã nghe lời khuyên của Ngũ Tử Tư, đi thị sát thành phố thị trấn các nơi cũng như vùng nông thôn và các đơn vị quân đội, thấy nước giàu quân mạnh, bỗng thấy hả hê trong lòng, khi trở về như ngứa ngáy chân tay, một lần nữa lại ướm hỏi Tôn Tử khi nào thì đem quân đánh Sở. Tôn Tử vẫn lắc đầu.
Có ba nguyên nhân khiến Tôn Tử lắc đầu: Một là trong quá trình luyện quân, đã phơi bày ra rất nhiều nhược điểm của các bộ tướng, cần phải tập trung họ lại để huấn luyện, mới có thể trao trọng trách cho họ chính thức chỉ huy chiến đấu. Hai là tình báo của các gián điệp còn chưa đến tay được hết, tình hình mọi mặt của nước Sở còn chưa nắm được tới mức như lòng bàn tay. Ba là bọn xấu còn rơi rót lại chưa trừ khử hết, các bày tôi tâm phúc của tiên vương là Yển Dư và Chúc Dung còn lần lượt ở nước Từ và Chung Ngô đang nhòm ngó chính quyền của nước Ngô. Mà tư xưa đến nay muốn đem quân đánh người khác thì trước hết phải dẹp hết mọi sự lo lắng về hiểm hoạ trong nội bộ mình, mới tránh được điều lo ngại về sau. Sau khi kể rõ ba nguyên nhân trên. Tôn Tử nói:
– Không phải là quá tự ti hay nhút nhát gan như thỏ đế, mà chiến tranh là việc lớn của một đất nước, nó quan hệ đến sự sống chết của dân, sự mất còn của đất nước, phải cân nhắc cho trọn vẹn, suy nghĩ cho kỹ và quan sát cho tỉnh táo, rồi mới quyết đoán. Vua không thể nổi nóng mà dấy quân, tướng không thể chỉ tức mà đánh trận. Thiết nghĩ rằng, nổi nóng rồi có thể vui trở lại; tức giận cùng có lúc sẽ nguôi, nhưng mất nước thì làm sao mà có thể lấy lại được? Người chết sao có thể sống lại được… Nên vua sáng suốt thì phải thận trọng, tướng tài thì phải tỉnh táo, đó chính là cái đạo đẻ yên đất nước và vẹn toàn cho quân đội…
Ba nguyên nhân này, thực ra có thể nói là Hạp Lư chưa từng nghĩ tới, nhưng đã học qua “binh pháp” rồi, nên khi Tôn Từ mới nhắc đến thế, ông ta chợt hiểu ra ngay. Thật vậy, chiến tranh thành bại không phải là do tình cảm chi phối, mà phải quyết định bằng thực lực cho nên phải bình tĩnh không nóng vội, để chờ thời cơ chín muồi.
Tôn Tử còn nói, người thợ khéo tay trước khi tạc vào gỗ đá thì trong lòng mình và mắt mình, đã phải tạc rạ một cái phác thảo rất rò ràng, chỉ cần đục bỏ đi những phần thừa, là đã thành một kiệt tác, cũng như nhà hoạ sĩ gọi là “tranh đã ở trong lòng”, chiến tranh phải chắc nắm được nhiều điều kiện thắng lợi hơn người, thì mới có thể đánh, mà đã đến lúc đánh, thì không phải là đánh để thắng, mà là đánh để xác nhận rằng đã thắng. Nếu bản thân không hề tính nhiều đến điều kiện thắng, bên địch cũng không có những yếu tố thất bại, thì chỉ nên xả hơi cho khoẻ quân để mà chờ thời cơ, thế mới là thượng sách.
Tôn Tử đã so sánh và phân tích tình hình giữa nước Ngô và nước Sở qua bảy mặt như: bên nào vua chúa hiền minh hơn; bên nào tướng soái có tài hơn; bên nào có điều kiện tốt hơn về thiên thời địa lợi; bên nào mệnh lệnh được chấp hành thấu đáo hơn; bên nào thực lực quân sự hùng hậu hơn; bên nào quân lính được huấn luyện đến nơi đến chốn hơn; bên nào thưởng phạt nghiêm minh hơn vv.. Tình hình nước Ngô ra sao, Hạp Lư có thể khá thông thạo, nhưng có một điều mà ông ta chưa lường tới được, đó là Ngũ Tử Tư và Bá Bỉ, họ đều là bầy tôi của nước Sở sống lưu vong, một khi cuộc chiến tranh đánh nước Sở bùng ra, trăm họ có thể hiểu lầm cuộc chiến tranh này vốn không phải là ý của Ngô vương, mà là Ngũ Tử Tư và Bá Bỉ vì muốn báo thù riêng nên đã thuyết phục Ngô vương đi đánh. Nếu chiến tranh có lợi cho nước Ngô, thì việc đó không đến nỗi phơi bày ra; nhưng nếu chiến tranh không có lợi cho nước Ngô, thì Ngô vương nhất định sẽ bị dân oán. Nước Sở khi Phí Vô cực đang cầm quyền, chính trị thối nát, vua tôi mỗi người một phách, lúc ấy có đánh Sở còn tương đối dễ. Còn ngày nay Phí Vô Cực đã bị trừ khử, đất nước đã lấy Thiên vương làm trung tâm, cả nước đoàn kết một lòng, hơn nữa tả lệnh doãn Tử Tây, hữu lệnh doãn Nang Ngoã, đều là những kẻ trí dũng song toàn, đánh nước Sở không phải là việc dễ. Huống hồ, nước Sở lại là viên ngọc sáng ở đông nam Hoa Hạ, đất rộng của cải nhiều, lính khoẻ ngựa hay, đã từng đọ sức với nước Tề nước Tấn, ngay thời kỳ Phí Vô Cực còn cầm quyền, chính trị thối nát, cũng vẫn là một con sâu trăm đốt, không chịu chết ngay, nên không thể xem thường.
Một ngày giữa mùa xuân năm 512 trước công nguyên, Tôn Tử đã dẫn Hạp Lư đi thị sát tình hình huấn luyện ở các căn cứ quân sự. Mùa xuân ở Giang Nam đẹp như một bức tranh, non xanh nước biếc, liễu ẩn hoa tường, Thái Hồ mênh mang, đất trời liền một giải, trong không khí cũng ngạt ngào mùi hương thắm đượm và nồng ấm. Tôn Tử và Ngô vương đi bộ thay cho xe, len lỏi chan hoà vào cảnh hoa hồng liễu thắm ở bên bờ Thái Hồ. Ngẩng đầu lên, thấy một con chim ưng đang sải cánh giữa trời xanh, lúc thì nó vỗ cánh liệng đi liệng lại lúc sau nó lại xoải cánh ra dừng lại giữa tầng không một lúc lâu, như gắn chặt vào một chỗ; rồi chợt nó lại lao xuống, nhanh như một mũi tên. Tôn Tử như bị con chim ưng kia hút lấy, dừng hẳn chân lại, ngẩng mặt lên trời, mãi không thấy cất bước, khiến cho Ngô vương ngẩn người ra không hiểu tại sao. Rồi ông bỗng như cảm nhận ra điều gì, buột miệng hỏi:
– Đại vương hãy nhìn xem, con chim ưng oai hùng ở trên cao kia, làm sao mà nó có thể bay khoẻ lượn giỏi như thế được không?
Hạp Lư thấy Tôn Tử hỏi có vẻ ấu trĩ, nực cười, trả lời luôn không đắn đo:
– Dương nhiên là bởi tại nó có đôi cánh khoẻ.
– Nếu chặt đôi cánh ấy đi thì sao nhỉ? – Tôn Tử hỏi dồn.
Hạp Lư đáp:
– Chặt đôi cánh ấy đi, thì nó chẳng bằng một con ngan ngờ nghệch, làm sao có thể bay lượn thế kia ở trên không được.
– Nếu như đang bay thế kia mà chặt cánh thì sao nhỉ – Tôn Tử lại hỏi.
Hạp Lư không chút hàm hồ, trả lời ngay:
– Thì rơi xuống đất chết chứ còn sao nữa.
– Hay lắm! – Tôn Tử cao hứng như muốn nhảy lên, khoa chân, múa tay trên bãi cỏ xanh – Đại vương trả lời hay lắm!
Tuy trả lời rất chính xác, khiến cho Tôn Tử phải mừng rỡ khác thường, nhưng Hạp Lư vẫn không rõ được tại sao mà Tôn Tử lại hỏi nhưng câu như thế, làm cái chuyện chẳng đâu vào đâu thế, và cái gì đã khiến Tôn Tử mừng rỡ như điên như rồ. Sau khi nói là chẳng hiểu gì, ông lại thật thà khiêm tốn nêu ra câu hỏi. Tôn Tử đã phân tích rằng, nước Sở cũng ví như con chim ưng kia, chim ưng cố nhiên là khác với chim sẻ, tuy nhiên nó có thể bay lượn giỏi giang, lại có thể bắt được bồ câu và thỏ rừng, chính là vì nó đã dựa vào đôi cánh khoẻ mạnh dẻo dai, mà đôi cánh ấy không phải là cái gì khác, với nước Sở, đó chính là đông đảo những nước phụ thuộc như nước Từ, Chung Ngô, Hồ, Thẩm, Trần, Hứa, Thái, Đốn… Nếu như chặt những vây cánh ấy đi trước, thì nước Sở lại chẳng như con chim ưng trên không rơi xuống mà chết hay sao? Hạp Lư nghe xong, bấy giờ mới vỡ lẽ, ngầm tự than mình không bằng người, kiên quyết làm theo sách của Tôn Tử, đánh dẹp bọn phản thần của nước Ngô, để chặt vây cánh của nước Sở.
Muốn đánh đẹp hai tên phản thần là Yểm Dư và Chúc Dung, tiêu diệt hai nước Từ và Chung Ngô, tuy không phải là chuyện khó, nhưng đây lại là lần dấy quân đầu tiên sau khi Tôn Tử nhận làm nguyên soái, nên ông không muốn vì thế mà khinh suất. Trước khi đi đánh, ông đã tập trung các tướng lĩnh lại một chỗ, huấn luyến riêng về những vấn đề còn tồn tại trong những lần diễn tập vừa qua. Trong huấn luyện đã áp dụng phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, trước tiên, Tôn Tử đã lên lớp giảng giải những điều thường thức trong binh pháp và tập trung nói về trách nhiệm, điều kiện và cách chỉ huy chiến đấu của người làm tướng lĩnh, sau đó, dưới sự chỉ đạo của những lý luận đó, tiến hành diễn tập một lần nữa.
Sự chỉ huy của tướng soái, là nhân tố chính để phát huy tính năng động chủ quan trong chiến tranh. Tình trạng chính trị, cơ sở kinh tế, thực lực quân sự, ngoại giao và điều kiện địa lý, thiên thời vv… của hai bên tham chiến, trong tiến trình thực tế của chiến tranh, đều thuộc về những điều kiện hiện thực tồn tại khách quan. Muốn làm cho những điều kiện hiện thực này chuyển hoá thành những nhân tố chiến tranh sống động, mấu chốt là ở chỗ kế hoạch và sự chỉ huy của tướng lĩnh. “Tướng” là nội dung chủ yếu mà ông nêu ra là “ngũ sự” (năm mặt phân tích nghiên cứu khả năng thắng bại của chiến tranh) là đạo (lý lẽ), trời, đất, tướng, pháp (kỷ luật), và “thất kế” (vua thì có đạo – lý lẽ – tướng thì có tài trời đất thì phải được, pháp lệnh thì phải theo, lính tráng thì phải mạnh, tướng sĩ phải được rèn luyện, thưởng phạt phải rõ ràng), là nhân vật mấu chốt phò tá vua chúa quyết định sự an nguy của đất nước. Tôn Tử nói: “Làm tướng, chính là người phụ tá đất nước, nếu làm chu đáo thì nước sẽ mạnh, làm không đầy đủ nước sẽ yếu”. Ông cho rằng, một tướng soái hiểu biết về binh lính và biết dùng binh, chúa tể vận mệnh của trăm họ, là trụ cột quyết định an nguy của đất nước.
Tôn Tử chỉ ra rằng, một tướng soái tốt, cần phải hội đủ năm phẩm chất tư cách là trí, tín, nhân, dũng, nghiêm. Trí tức là sự khôn khéo mưu mô, chỉ khả năng mưu hoạt chiến tranh, chỉ huy chiến tranh; Tín, tức là lòng tin, là niềm sở cậy, lời nói phải có độ tin cậy, nói lời thì giữ lời, thưởng phạt đúng như đã hứa; Nhân, tức là tấm lòng bao dung yêu mến cấp dưới của mình, gắn bó với trăm họ; Dũng tức là gan dạ quả quyết, tức là dứt khoát kịp thời, không biết run sợ; Nghiêm, tức là đòi hỏi chặt chẽ, giữ nghiêm kỷ cương trong quân đội; Nhân là từ lòng tin mà được binh lính tin cậy, có thể quên mình vì tướng; Trí và dũng đủ để mưu hoạch chiến tranh, dẫn quân đón đánh địch; Nghiêm sẽ sinh ra uy, là cơ sở để làm cho quân lệnh như sơn, cho sự điều độ được nhịp nhàng nhất trí, khiến cho quân đội trở thành một tập thể kiên cường. Năm loại phẩm chất nói trên vừa là điều kiện của tướng soái và cũng là đòi hỏi ở tướng soái.
Tôn Tử còn đòi hỏi các tướng lĩnh được hiển quý mà không kiêu ngạo, được giao trọng trách mà không độc đoán chuyên quyền, nguy nan không run sợ, mỗi hành động đều phải trong sáng như ngọc không tì vết. Tôn Tử chỉ ra rằng, người làm tướng soái, có năm nhược điểm chủ yếu: Có khoẻ mà không có mưu, chỉ biết đánh thục mạng, rất có thể bị địch dụ mà giết; lúc lâm trận thì run sợ, ham sống sợ chết, sẽ có thể bị địch bắt sống; nôn nóng dễ nổi giận, chạm vào là bùng nổ ngay, thì rất dễ bị địch sỉ nhục mà manh động; muốn giữ mình trong sạch mà háo danh, tự tôn quá mức, cũng rất có thể bị địch lăng nhục mà mất đi lý trí; chỉ biết “yêu dân” thì rất có thể bị địch quấy rầy mà lâm vào thế bị động. Năm điểm này là những sai lầm mà tướng soái dễ mắc phải, là niềm hoạ hại của kẻ dùng binh. Quân đội bị thảm bại, tướng soái bị giết hại, phần lớn đều do năm nhược điểm chủ yếu kia gây nên, đó là những điều mà mỗi người làm tướng soái không thể không cân nhắc thận trọng.
Người làm tướng soái, còn phải biết xử lý chính xác mối quan hệ giữa mình và nhà vua. Tôn Tử chỉ ra rằng, tướng soái chỉ huy tác chiến, nhận lệnh của nhà vua, mục đích chinh chiến của tướng soái, là ở chỗ yêu nước phò vua, bởi vậy, phải chịu trách nhiệm trước nhà vua, là chức trách của tướng soái.
Sau khi nhận lệnh, tướng soái không thể lúc nào cũng phải gò bó hoặc chấp hành lệnh vua một cách máy móc, mà phải căn cứ vào tiến trình thực tế của chiến tranh để quyền biến. Đồng thời, phải nắm được và thông hiểu cái hay của cứu biến, có những con đường không nên đi qua, có những kẻ địch không nên đánh, có những thành ấp không nên vào, có những chỗ đất không nên tranh giành, có những lệnh vua có thể không chấp hành.
Cùng với việc giảng giải nhưng vấn đề trên cho các tướng lĩnh, Tôn Tử còn thẳng thắn nhắc nhở Hạp Lư, có ba trường hợp mà vua chúa có thể di hại đến quân đội: Không biết rằng quân đội không thể tiến lên mà lệnh cho tiến lên, không biết rằng quân đội không thể rút lui mà ra lệnh rút lui, như thế gọi là trói buộc quân đội; không biết sự việc của nội bộ quân đội, lại can thiệp vào công việc hành chính của họ, thì quân sĩ sẽ không biết tin vào đâu; không biết quyền mưu khi dùng binh lại can thiệp vào công việc chỉ huy, thì tướng sĩ sẽ nghi hoặc. Ba quân vừa không biết tin cậy vào đâu, lại vừa nghi hoặc, chư hầu sẽ nhằm chỗ sơ hở đó mà đánh, là tai hoạ sẽ đến ngay, như thế gọi là làm rối loạn quân ta để cho quân địch thắng lợi.
Đối xử như thế nào với cấp dưới, đối xử như thế nào với binh lính, là một vấn đề quan trọng mà người làm tướng cần phải xử lý tốt, về vấn đề này.
Tôn Tử nhấn mạnh hai điểm, một là “yêu quân” hai là “ngu binh”.
Tôn Tử nói, làm tướng soái đối đãi với binh lính phải được như người cha thương yêu con trẻ của mình, như vậy, binh lính sẽ cùng với tướng soái xông vào nơi nước sôi lửa bỏng; đối với binh lính, tướng sĩ có thể thương yêu gắn bó, quan tâm như yêu con mình, binh lính sẽ có thể cùng sống chết cùng hoạn nạn với tướng soái. Ngay cả với những người lính ngu đần hay bướng bỉnh khó bảo, cũng phải tỏ ra ôn tồn, đối đãi với họ bằng tấm lòng yêu thương, quyết không được bỏ rơi hay khinh rẻ họ, cũng không thể khiên cưỡng đối với họ, đúng như binh pháp đã nói: “Lấy nhu để khắc cương, lấy yếu để chế ngự mạnh. Nhu chính là đức vậy”. Yêu quân còn bao gồm cả việc đòi hỏi nghiêm ngặt và sử dụng đúng mức, nếu đối xử với binh sĩ mà hậu đãi quá mức và có ý cùng chiều, không thể sai khiến được, phạm kỷ luật cũng không thể xử lý nghiêm túc thì quân đội đó sẽ trở thành “kiêu binh” khó có thể xung phong vào trận.
“Ngu binh” là bắt binh sĩ phải phục tùng tuyệt đối, phục tùng mù quáng. Tôn Tử nói: Thống soái quân đội thì phải trầm tĩnh, tỉnh táo, dò trước xét sau, nghiêm túc thận trọng mà có đầu có cuối. Che bịt tai mắt của binh lính, khiến cho họ không được biết mảy may gì về kế hoạch quân sự; thay đổi nhiệm vụ, thay đổi mưu kế, làm cho không ai có thể biết được, thường xuyên thay đổi chỗ đóng quân, hành quân vu hồi quanh co, khiến người ta không có cách nào biết được ý đồ hành quân của ta… Nhiệm vụ mà tướng soái giao phó cho binh lính, như cho lên cao rồi ở dưới rút thang, khiến cho họ chỉ tiến không lui được. Cho một bộ phận thâm nhập ào đất của chư hầu, phải như tên nằm trên lẫy nỏ, khiến cho tên bay đi không trở lại. Phá ván để chìm thuyền, bày tỏ quyết tâm phải chết. Như người lùa đàn cừu lùa đi rồi lại lùa lại, làm cho nó cuống lên không biết nên thế nào.
Trong cuộc tập trung huấn luyện lần này, từ các mặt chiến lược, sách lược, chiến thuật vv… Tôn Tử đã bàn tới nghệ thuật chỉ huy của tướng soái, nhất là nêu bật hai vấn đề lớn là tính chủ động và tính linh hoạt trong chiến đấu.
Nắm chắc quyền chủ động, đó là vấn đề người chỉ huy phải giải quyết trước hết trong chiến đấu. Quân đội mà mất quyền chủ động trên chiến trường, tất nhiên sẽ rơi vào tình trạng bị động và chịu đòn. Tôn Tử nói, kẻ thiện chiến phải luôn luôn làm sao cho mình đứng ở thế không thua, lại không bỏ qua bất kể một dịp nào có thể giành thắng lợi. Bởi thế, kẻ thắng luôn luôn trước hết phải tạo ra điều kiện giành thắng lợi rồi sau đó mới tác chiến với địch. Kẻ thua thường tác chiến với địch trước rồi sau đó mới giành thắng lợi bằng cách ăn may. Tôn Tử chỉ ra rằng: phàm những người đến chiến địa mà chờ địch, bao giờ cũng ung dung tự chủ, kẻ đến sau lại phải vội vàng đối phó, vừa mệt mỏi lại bị động cho nên người thiện chiến, thường căng địch ra mà đánh chứ ít khi chịu để địch lôi kéo mình, Nếu như kẻ địch chiếm lĩnh địa thế có lợi ở chiến trường sớm hơn mình một bước, thì phải tìm mọi cách chuyển hoá tình hình địch ta, rồi căng dãn địch ra, làm cho tình thế chủ động và có lợi chuyển sang phía ta. Để đạt mục đích đó, đối với những kẻ địch đã được chuẩn bị đầy đủ, người làm tướng có thể qua những biện pháp như đánh úp, quấy rối vv… để cho chúng phải mệt mỏi kiệt sức vì phải đối phó. Đối với những kẻ địch được cung cấp đầy đủ phải biết dùng cách cắt đường lương thực, đốt phá kho lương của chúng, khiến cho chúng đói khát cũng không có gì mà ăn. Đối với kẻ địch cố tình án binh bất động, thì phải đánh vào chỗ hiểm yếu của chúng, cướp lấy những thứ mà chúng vốn ưa thích để chúng phải ra giữ, nhằm điệu hổ ly sơn.
Về tính linh hoạt, Tôn Tử nói: “Việc quân sự dùng binh tác chiến không có kiểu cách hay phương pháp gì cố định không thay đổi, cũng như nước kia vốn không có một hình dạng gì cố định, nhưng tướng lĩnh có thể lựa theo sự thay đổi tình hình của địch để giành thắng lợi thì đó gọi là giỏi như thần”. Ông đòi hỏi ba quân phải thành một thể thống nhất, phối hợp chặt chẽ với nhau, hơn thiệt phải nhất trí với nhau, như rắn ở Hằng Sơn đánh vào đầu, thì nó lấy đuôi ứng cứu. Tôn Tử còn chỉ ra rằng, cầm quân tác chiến, còn là một hành động dối trá, làm tướng soái, phải biết nguy trang cho giỏi tạo nên giả tượng, có thể tấn công lại làm ra là không, muốn đánh đấy nhưng lại làm ra là đang phòng thủ, muốn hành động ở gần đâu đó lại cố làm như sẽ sắp hành động ở nơi xa, muốn hành động ở nơi xa lại làm ra gần. Tôn Tử đã dạy cho các tướng lĩnh phải “tuỳ địch mà tìm cách thắng” địch có biến đổi, ta cũng phải biến theo, linh hoạt mà chỉ huy. Lại phải biến hoá giữa kỳ và chính, xen kẽ giữa thực và hư, khiến cho địch không sao mò ra được tình hình. Phải tránh thứ chiến thuật cứng đờ, chấp hành mệnh lệnh rập khuôn máy móc, cố giữ cách làm theo chủ nghĩa kinh nghiệm cũ rích.
Qua học tập lý luận và thực tập quân sự một lần nữa, những người chỉ huy các cấp trong quân đội của nước Ngô, đã được dùng “Tôn Tử binh pháp” vũ trang cho đầu óc của mình, nâng cao tố chất quân sự, phát triển tài năng chỉ huy, Tôn Tử thấy vậy, ngầm vui trong lòng. Người ta thường nói làm ruộng thì phải năng ra đồng ngựa hay phải được thử sức trên chiến trường xa xôi, Tôn Tử quyết định lập tức dấy quân đi diệt. trừ bọn phản thần còn rơi rớt lại như Yểm Dư, Chúc Dung, tiêu diệt Chung Ngô[1] và nước Từ để thử xem sức chiến đấu và trình độ chỉ huy của các tướng lĩnh thế nào.
Nuôi quân ba năm, đánh giặc một giờ, nhắc đến chuyện dây quân đi quét sạch lũ tàn ác còn rơi rớt lại đánh Chung Ngô và nước Từ. Khỏi cần phải nói, khắp nước Ngô từ trên xuống dưới, trong và ngoài quân đội không ai là không vui mừng, vỗ tay khoan khoái, thế nhưng trong việc bố trí binh lực lại nảy ra sự bất đồng. Tôn Tử đề nghị phong Ngũ Tử Tư làm đại tướng, Bá Bỉ phò tá, lấy một phần ba số quân, lên phía bắc đánh Chung Ngô và nước Từ. Ngũ Tử Tư nói:
– Từ với Chung Ngô không bõ một đòn, mổ gà cần gì phải dùng dao giết trâu?
Bá Bỉ nói:
– Từ Yểm Dư và Chúc Dung, như bắt cá ở trong vại làm gì mà nguyên soái phải dấy quân rầm rộ thế.
Phu Khái nói:
– Từ và Chung Ngô đều là nước nhỏ, cứ sai sứ sang mà bắt bọn quan chạy trốn ấy về, chúng không dám không theo, việc quái gì phải mang quân đi mệt mỏi xa xăm thế!
Từ và Chung Ngô là hai nước phủ thuộc của nước Sở ở giữa hai tỉnh Giang Tô và An Huy ngày nay và ở phía bắc vùng Hồ Hồng Trạch lại sát ngay bên nước Ngô, cả hai đều là nước nhỏ, dân nghèo, quân ít, có đánh nhau với nước khác, thì mười phần nắm chắc chín phần thua nên mục tiêu nhằm vào nước Từ và Chung Ngô chủ yếu là để bắt phản thần, quét sạch những tên độc ác còn rơi rớt, chặt bớt vây cánh của nước Sở thực ra là giao chiến với nước Sở. Tôn Tử nghĩ rằng thanh thế quân Ngô lớn mạnh đến thế, Yểm Dư và Chúc Dung quyết không dám ra mặt chống lại và tất sẽ chạy sang nước Sở. Nước Sở sẽ đối xử như thế nào với phản thần của nước Ngộ, họ sẽ thu nhận hay sẽ đuổi đi? Liệu họ có cử quân hùng tướng mạnh giúp Yểm Dư và Chúc Dung đón đánh quân Ngô để trả mối thù Kê Phụ? Hơn nữa, thấy nước Ngô đem quân tiêu diệt hai nước phụ thuộc của mình, nước Sở liệu có khoanh tay ngồi nhìn hay không? Và một điều nên biết nữa là đất đai nước Sở hàng ngàn dặm, xung quanh có hàn chục nước phụ thuộc, dân giàu, nước mạnh, phương tiện chiến tranh đầy đủ, Tử Tây, Nang Ngõa, Thẩm Doãn Tuất, Vũ Thành Hắc, Tử Tất… đều là những hạng có sức khoẻ muôn người không địch nổi, hơn nữa, những tướng lĩnh có mưu trí thì nhiều như sao trên trời, sao có thể mù quáng mà lạc quan, sao có thể khinh suất được. Tôn Tử đang muốn nhân dịp này, thăm dò nông sâu, để sau này có đánh Sở không đến nỗi phải chết đuối. Tôn Tử đã nói với Ngô vương và đông đảo các quan văn võ về suy nghĩ và dụng ý này, và đương nhiên là được mọi người đồng lòng tán thưởng, thế là đã chọn ngày để cất quân tiến lên phía bắc.
Quả không ngoài dự đoán của Tôn Tử, Yểm Dư, Chúc Dung nghe tin quân Ngô với vị đại gia binh pháp Tôn Vũ làm nguyên soái, Ngũ Tử Tư, Bá Bỉ đang thống soái đại quân thuỷ lục tiến quân về phía nước Từ và Chung Ngô, thì sợ hết hồn hết vía, vội vàng hẹn nhau ra hàng Sở. E rằng nước Sở không chấp nhận, họ đã dùng lễ hậu, vàng bạc để hối lộ hữu doãn nước Sở là Nang Ngoã. Đọc xong thư xin hàng của Yểm Dư và Chúc Dung, Sở chiêu vương như mó vào sâu róm, hết sức khó xử, vội cùng bàn bạc với Nang Ngoã xem nên đối xử như thế nào với hàng tướng nước Ngô. Nang Ngoã cố làm ra vẻ thận trọng suy nghĩ nói:
– Công tử Quang giết Vương Liêu, thoán quyền cướp Ngôi, trừ Khánh Ky, củng cố chính quyền; đề trừ hậu hoạ, nay lại tìm đánh Yểm Dư, Chúc Dung. Những viên quan đang trốn chạy này của nước Ngô muốn tìm đường sống nên đã ra hàng, ta không có lý nào để từ chối, hơn nữa họ còn mang theo hàng vạn binh lính, đối với ta chỉ có lợi mà không có hại, cớ sao lại không vui vẻ nhận lời?
Chiêu vương lại cho rằng sự việc không hề đơn giản như vậy, nhận hàng tướng nước Ngô, tất sẽ làm cho quan hệ với nước Ngô xấu đi.
Nang Ngoã thản nhiên nói:
– Tiếp nhận Yểm Dư và Chúc Dung sang hàng, quả là có ảnh hưởng đến tình hữu nghị giữa nước ta và nước Ngô, tuy nhiên một nước Sở hùng mạnh, sao có thể vì nể sợ nước Ngô mà từ chối miếng béo bở kề tận miệng.
Tử Tất ở bên cạnh xía ngang vào:
– Tiếp nhận anh em Yểm Dư có thể mở rộng được lãnh thổ, tăng thêm binh lực, quả là một tên trúng hai đích, tuy nhiên Ngũ Tử Tư và Bá Bỉ từ lâu đã muốn đem hết sức ra để báo thù, nay ta nhận hàng tướng của nước Ngô, bọn vong thần của nước Sở như Ngũ Tử Tư vv… liệu có thể thôi thúc Hạp Lư, lấy cớ đánh quân phản nghịch, mà đem quân đánh ta không?
Nang Ngoã nghe xong cười ha hả. Chiêu vương hỏi:
– Cớ sao ái khanh lại cười?
Nang Ngoã vẫn cười, cười xong mới đáp:
– Thần không phải không lo đến chuyện đó, ta nhận hàng tướng của nước Ngô, nếu Ngũ Tử Tư có đem quân đến khiêu chiến, thần đã có một diệu kế để chống lại.
– Ái khanh có kế gì hay vậy? Khá nói ta nghe ngay – Chiêu vương thúc giục hỏi.
Nang Ngoã chậm rãi đáp:
– Nếu quân Ngô đến đánh, tất trước hết sẽ đánh Dưỡng ấp ở vùng biên giới của ta. Yểm Dư, Chúc Dung sang hàng mang theo cả ba vạn quân, ta sẽ nhiệt liệt đón nhận, sau đó cử họ giữ Dưỡng ấp. Nếu quân Ngô đánh đến, thì chỉ có anh em nhà họ cọ xát với nhau, ta chẳng mất gì, anh em Yểm Dư mà thắng; ta thu lợi không phải ít, nếu thua, ta cũng chẳng đau đớn gì đến thân.
Chiêu vương nghe vậy, thấy quả là một diệu kế, tấm tắc khen mãi và lập tức ban chỉ, tiếp nhận Yểm Dư, Chúc Dung sang hàng.
Yểm Dư, Chúc Dung mang ba vạn quân sang hàng. Sở Chiêu vương đón tiếp vào cung, mở tiệc chiêu đãi và nói:
– Hai vị tướng quân là vương tộc của nước Ngô, nay sang với nước Sở, khiến quả nhân mừng không để đâu hết, nay sửa một mâm cơm nhạt gọi là để tẩy trần cho hai vị.
Anh em Yểm Dư, Chúc Dung tiến thoái lưỡng nan, trước sự khoản đãi thịnh tình của Sở vương, cảm động tận đáy lòng, bái phục sát đất, nói:
– Anh em chúng tôi như hai con chó lạc nhà, đại vương đã chẳng chê, đã tiếp nhận còn hậu đãi thế này, thật không bao giờ quên, mai sau dù gan nát lóc lầy cũng xin báo đáp.
Trong bữa tiệc, hương rượu thơm lừng, của ngon vật lạ lần lượt bày ra, thôi thì đèn sáng rượu hồng, chén bát chạm nhau tíu tít, rượu đã ngà ngả, Nang Ngoã mới nâng chén nói:
– Mai sau thời vận đến với hai vị, sẽ là Ngô Vương và Thái tể, nâng chén này để chúc hai vị không lâu nữa nắm quyền nước Ngô, chúc hai nước Ngô Sở mãi mãi thân mật hoà thuận.
Chiêu vương nói:
– Thành Dưỡng ấp[2] của ta là nơi gần với nước Ngô nhất, quả nhân muốn để thành này cho hai vị trấn giữ để làm căn cứ sau này cướp lại quyền lớn. Nếu cần thiết, nước Sở ta sẽ mang hết sức mình ra giúp.
Nang Ngoã cũng nửa tỉnh nửa say nói:
– Người xưa nói “Chim Việt đậu cành nam; ngựa Hồ hý gió bắc”. Hai vị tướng quân đem quân ra đóng ở Dưỡng ấp, làm sao lại chẳng nhớ chốn cũ muốn quay về mà rèn quân luyện mã chứ.
Vua tôi nước Sở đã sắp đặt như thế, không có gì khác là để khi quân Ngô đánh vào, lấy họ ra làm mộc chắn tên, nhưng kết quả lại làm cho kẻ cùng đường hết lối lại nảy sinh ra một viễn cảnh tươi sáng – Có được sự trợ giúp lớn lao của nước Sở, rất có thể sẽ cướp được quyền lớn của nước Ngô về tay! Ôm ấp một giấc mộng đẹp hão huyền như vậy, hai anh em quỳ rạp xuống đất khấu đầu lia lịa tạ ơn Sở vương, từ miệng họ vẳng ra những lời ngu đần: “Mai sau cướp được chính quyền, nhất định sẽ không quên ơn đại vương”.
Anh em Yểm Dư đã mắc lừa nước Sở, ôm ấp giấc mơ phục quốc hão huyền, từ Sính Đô phải đến Dưỡng ấp để coi giữ biên cương cho nước Sở.
Anh em Yểm Dư ra đi không lâu, tả lệnh doãn Tử Tây đi sứ về, nghe biết chuyện này thấy rất không vui. Ông ta trách móc Sở vương và Nang Ngoã, không nên tiếp nhận hàng tướng nước Ngô, như thế tất sẽ thành cái cớ và lý lẽ để nước Ngô đem quân đánh Sở. Đối với Tử Tây, lần này nước Ngô có dấy quân, mục đích chủ yếu không phải là ở chỗ tiêu diệt nước Từ và Chung Ngô, bắt sống hoặc giết Yểm Dư và Chúc Dung mà mũi giáo sẽ chỉ thẳng vào nước Sở. Vấn đề rất rõ, diệt nước Từ và Chung Ngô chẳng qua như giết lợn mổ chó mà thôi, việc quái gì phải đao to búa lớn, làm cuộc đại can qua, huy động tới một phần ba số quân như thế? Bắt sống Yểm Dư và Chúc Dung cũng thế, như bắt cá trong vại lấy đồ trong túi, việc quái gì mà phải đến Tôn Vũ làm soái, Ngũ Tử Tư và Bá Bỉ làm tướng như thế? Từ khi có lịch sử đến nay, nước Ngô luôn bị nước Sở xâm lăng cho nên oán hận đã sâu. Sau khi Ngũ Tử Tư chạy sang theo nước Ngô, cả chục năm trời lúc nào cũng đau đáu muốn mượn quân đánh Sở để trả thù sâu oán nặng về cả nhà bị giết. Bá Bỉ sau này cũng chạy sang nước Ngô với mục đích như thế, lúc này họ vừa vặn một người làm chủ tướng, một người làm phó tướng, dẫn quân thuỷ bộ cùng tiến, khí thế rầm rầm như thế đâu há chỉ dừng lại ở chỗ chỉ diệt nước Từ và Chung Ngô, giết Yểm Dư và Chúc Dung không thôi? Nước Ngô ngày nay, từ lâu đã khác xa nước Ngô ngày nào. Ngô vương Hạp Lư, là một ông vua rất có thể làm nên, biết chiêu hiền đãi sĩ, biết nghe lời can gián khuyên ngăn sửa chữa sai lầm, mang hết sức ra trị vì đất nước. Từ khi lên nắm chính quyền đến nay, ông đã trừng trị bọn thối nát, đề xướng sự liêm khiết, khuyến khích việc cày cấy phát triển nghề làm thợ và buôn bán, luyện tập quân đội, coi trọng cả lính thuỷ lính bộ, nên mới chỉ có hai năm trời, đã trị vì nước Ngô thành một đất nước quân mạnh nước giàu, lính giỏi ngựa hay.
Tôn Vũ vốn có tài thâu trời tóm đất, với khả năng xoay chuyển càn khôn, có sức ngăn sóng dữ, đã từng viết ra mười ba bài “binh pháp”, là tác phẩm để các nhà quân sự vươn lên những đỉnh cao, như ánh mặt trời xán lạn, chiếu sáng được đến tất cả mọi nơi, để nếu có thủ thì vững như kim thang, nếu có công thì vững không sức gì đánh đổ. Ngũ Tử Tư là lớp người sau của ba đời danh tướng nước Sở, nổi tiếng trên đời về trí dũng thiện chiến, nay mang mối thâm thù trong lòng đến đây với các thế như hổ dữ lao xuống núi. Ngoài ra còn Bá Bỉ, Phu Khái, Chuyên Nghị con của Chuyên Chư, Bị Ly em của Yếu Ly, đều là những con người ưu trí dũng cảm nổi tiếng trong ba quân. Đứng trước một kẻ địch mạnh mẽ như vậy, nước Sở sao có thể tự cho mình là ghê gớm, mà không chuẩn bị, mà dám khinh suất. Cho Yểm Dư và Chúc Dung đóng giữ Dưỡng ấp để chống chọi, chẳng khác gì lấy bánh bao để ném chó, thực ra chỉ làm cho chó thèm khát thêm. Trời sắp đổ mưa, nước lũ tràn về, phải nhanh chóng tu sửa đê điều, để ngăn lũ lụt, nếu không, đê vỡ nước tràn, hậu quả không sao mà lường hết được. Tích cực chuẩn bị đối phó với chiến tranh, tăng cường quốc phòng, dàn binh ra vùng biên giới giáp nước Ngô và nước Sở, để sẵn sàng đón đợi quân Ngô, đó chính là công việc gấp rút của nước Sở, chớ có để cho quân Ngô vào tới biên cương nước Sở, vượt lên thành ấp nước Sở để thăm dò nông sâu.
Tử Tây và Nang Ngoã là tả hữu lệnh doãn, chẳng khác gì hai cánh tay của Chiêu Vương, ấy thế nhưng người nọ với người kia lại vốn có tị hiềm, cứ như thế mâu thuẫn càng thêm căng thẳng, ngay cả trên triều đình, họ tranh cãi với nhau ngay cả trước mặt đông đảo văn võ bá quan, Nang Ngoã thậm chí còn buông thả, thượng cẳng chân hạ cẳng tay, vu cho Tử Tây là đã bị nước Ngô mua chuộc, cho nên mới đề cao chí khí của nước Ngô, làm mất oai phong của nước Sở. Cũng còn may là Sở Chiêu vương vốn không đần độn như Bình vương, ông biết phân biệt phải trái, trước hết đã nhìn lại mình, rồi sau mới phê bình Nang Ngoã, thế là hạ chiếu ban chỉ điều binh khiển tướng, bố trí đón đánh địch.
Trước đông đảo đình thần, Nang Ngoã bị bẽ mặt, tức tối đầy một bụng, đương nhiên là không cam chịu, ém ở bên mình Chiêu vương mối hiểm hoạ có thể bùng nổ bất kể lúc nào.
Lại nói Ngũ Tử Tư và Bá Bỉ, cầm quân tiến về phía nước Từ và Chung Ngô, còn chưa đến nơi, đã nghe tin Yểm Dư và Chúc Dung trốn sang hàng nước Sở và theo lệnh Sở vương, đồn trú ở Dưỡng ấp để chống lại quân Ngô. Hai tướng chẳng khó khăn vất vả gì tiêu diệt được Chung Ngô, yết bảng hiểu dụ để yên dân và lập tức kéo quân đến nước Từ. Nước Từ không phải như vua tôi nước Ngô từng dự đoán là không bõ một đòn, vua nước Từ là Chương Vũ ỷ vào kinh đô nước Từ bốn bề núi cao bao bọc, địa thế hiểm yếu, một người giữ ải muôn người khó qua, một mặt sai sứ sang nước Sở, đi ngày đi đêm, cáo cấp và xin cứu viện, một mặt dựa vào thành cao hào sâu, co lại cố thủ, để chờ quân Sở đến cứu.
Nguyên là kinh đô nước Từ phía bắc núi cao vây như thành, đỉnh nhô lên tận mây xanh, vách đá cheo leo, khe sâu vực thẳm, khuất nẻo âm u khiến người ta chỉ nhìn đã toát mờ hôi hột. Thế núi ấy đã tạo nên một bức bình phong tự nhiên, kẻ nào đến xâm lăng, muốn đến gần nước Từ bằng hướng bắc thì còn khó hơn là lên trời. Sông Đà chảy từ Tây bắc tới, đến đây vòng một nửa vòng tròn, chảy về hướng đông bắc rồi lại vòng uống phía nam chảy vào sông Hoài. Phía nam kinh đô nước Từ, mé bờ trái của sông Đà là một lưng núi, như giữ cho kinh đô này không bị dòng sông xói lở. Nói cách khác, kinh đô nước Từ ở chân những quả núi cao, giữa một vùng lòng chảo tựa lưng vào vách núi, giả sử như trên vách núi đó đực ra một lỗ hổng, thì nước sông Đà sẽ ào ào rót thẳng vào kinh đô, người sẽ làm mồi cho tôm cá, của cải sẽ chìm trong nước và trở thành một vùng mênh mông. Từ vốn nước nhỏ quân ít không bao giờ có tham vọng đi chinh phạt người khác, mà lúc nào cũng phải luôn luôn đề phòng nước lớn xâm lược, thế nên rất chú trọng việc xây dựng thành trì, bồi đắp nhiều đời, đến lúc này đã trở nên luỹ cao hào sâu, vững như kim thang, khó bề công phá, một là để giảm thương vong, hai là tranh thủ thời gian. Vì biết quân nước Sở thế nào cũng đến cứu, cho nên phải công phá được kinh thành nước Từ trước khi quân sở đến nơi, Tôn Tử đã quyết định dìm kinh đô nước Từ trong nước lũ.
Đây là một kế sách rất tuyệt diệu, là điều chưa từng được nêu ra trong mười ba bài “binh pháp”, không cần đánh trận, có thể tranh thủ được thời gian, lấy được kinh đô, tiêu diệt nước Từ. Tuy nhiên dân chúng sẽ bị liên luỵ, sẽ phải chịu đựng một cơn tai hoạ, thế nên khi chọn kế sách này, Tôn Tử đã phải trải qua một cuộc đấu tranh tư tưởng rất khổ sở. Bất kể thế nào, chiến tranh vẫn là một gã điên cuồng khát máu, là một con quái vật khiến người ta không nắm bắt nổi. Bất kể một cuộc chiến tranh với tính chất như thế nào, giành đi kéo lại, người chịu khổ nhiều nhất lại vẫn là đám dân đen. Tuy nhiên con quái vật ấy nó vẫn cứ sờ sờ tồn tại giữa đất trời, như đất đai, như sông núi, không thể còn hay mất theo sự yêu ghét của con người, mà là một hiện thực khách quan không thể thay đổi theo ý chí con người. Nó là tội lỗi và tàn ác, là tượng trưng của máu và lửa, là nguồn gốc của đau khổ và tai nạn, thế nhưng nó lại là động lực lớn lao thúc đẩy lịch sử loài người tiến về phía trước. Cho nên Tôn Tử đã bỏ sức ra chuyên tâm nghiên cứu binh pháp, cuối cùng, dùng chiến tranh để tiêu diệt chiến tranh, giành lấy hoà bình và hạnh phúc. Tuy vậy, chuyện đó lại phải trả giá bằng máu với số lượng nhiều như nước biển Đông và với một thời gian dài dằng dặc. Trời vừa mới rơi một trận tuyết lớn, những mầm lúa mạch trên đồng đang mọc lên dưới tấm chắn tuyết dày, dồn nén sức mạnh chuẩn bị đầy đủ cho một vụ bội thu vào mùa hè năm tới. Từ sông Đà đến kinh đô nước Từ lại có một cánh đồng rộng tới năm dặm, nếu đục sườn núi ở mé trái sông Đà ra, dòng nước sông vô tình sẽ nhấn chìm biết bao nhiêu mẫu ruộng màu mỡ và đầy mầm lúa mạch. Dân dĩ thực vi thiên, đất đai, chính là cái gốc của mạng sống con người… Để cố gắng giữ cho ruộng vườn bị nhấn chìm ít nhất, Tôn Tử đã đào mương đắp đê ở phía trong sườn núi thẳng tới tận chân thành kinh đô nước Từ, để cho nước sông chảy thuận theo những mương máng đó mà không tràn ngập ra đồng ruộng. Không những thế, Tôn Tử còn hạ lệnh cho đào hào đắp đê trước chuẩn bị cho việc dẫn nước đổ vào thành, tạm thời không đục ngang lưng núi. Phải tổ chức hàng trăm người xung trận, ra tay vung cuốc vung xẻng, xe qua gánh lại ở nơi định thủng ngang lưng núi để che mắt đối phương. Tôn Tử làm như vậy nhằm mục đích là tăng thêm áp lực với vua nước Từ là Chương Vũ, ép cho hắn phải mở cổng thành ra hàng. Nếu vua nước Từ vẫn tỏ ra ngoan cố bướng bỉnh, không nghĩ gì đến tài sản của dân chúng trong và ngoài thanh, gan lì cố thủ, thì chỉ còn cách tập trung binh lực đột kích đục thủng lưng núi xả cho nước xối vào kinh thành. Chiến tranh vốn rất tàn khốc sao có thể đối xử với nó bằng tình cảm của đàn bà con gái được?…
Tôn Tử thân chinh tổ chức một cuộc họp quân nhân để động viên và sắp đặt trước khi bước vào trận đánh, nói rô tôn chỉ, trình bày về cách đánh, nhấn mạnh rằng quan quân của nước Ngô phải coi dân chúng nước Từ như người ruột thịt, không được đe doạ và xâm phạm họ. Người dân rơi vào cảnh chiến tranh, đã là một điều không may lắm rồi, tướng sĩ của nước Ngô phải đối với họ bằng trái tim nhân ái và tấm lòng trắc ẩn, nếu phát hiện thấy kẻ nào chà đạp giày xéo lên người dân nước Từ, nhất định sẽ phải trừng trị thật nghiêm khắc. Sau khi động viên, công trình đào hào đắp đê được triển khai toàn diện, trên ngang lưng núi cũng sôi lên sùng sục, ồn ào khác thường. Từ lưng núi vào phía trong, chia ra làm mấy đoạn, do các bộ phận lần lượt hoàn thành. Lính tráng chia làm ba toán, trong mười hai canh giờ của một ngày liên tục không ngơi nghỉ, mặc dù là gió bấc gào rít hay là tuyết trắng tung bay đầy trời, mọi người đều cởi phăng cả áo bông, hăng hái làm việc, xẻng cuốc vung lên vào vèo như gió, người chở đất chở cát chạy đi chạy lại như bay. Đêm đêm, trên mảnh đất rộng ở ngang lưng núi bên ngoài kinh thành, đèn đuốc thắp lên, sáng như ban ngày, tiếng hát hò, tiếng gọi nhau; như biển rộng ào ào sóng gió. Dân chúng nước Từ lũ lượt bỏ cả nhà cửa công việc, chạy đi lánh nạn. Từ hôm khởi công đến lúc này, về căn bản không gặp điều gì trắc trở, công trình tiến triển khá thuận lợi.
Vào khoảng trưa ngày thứ tư, Tôn Tử nhận được tin báo là ở Trương trang có một hiệu uý của quân Ngô thảm sát người già của nước Từ, dấn chúng nước Từ nhao nhào lên chống lại, quân với dân kịch chiến với nhau tình thế vô cùng nguy ngập. Tôn Tử dẫn binh lính đến tận nơi xem xét, thấy hàng trăm dân chúng nước Từ vung liềm vung cuốc lên chống lại binh lính nước Ngô, hai bên đánh giáp lá cà, quấn chặt lấy nhau, cả đôi bên đều bị thương vong, trên tuyết trắng, nằm rải rác tới cả chục xác chết, từng vết máu nhuốm đỏ sẫm trên mặt tuyết. Nhìn thấy thế, Tôn Tử đã nghiêm giọng hạ lệnh cho quân Ngô bỏ vũ khí trên tay xuống, buộc họ phải dừng lại, cho dù có bị đánh chết hàng trăm hàng ngàn người, cũng không được đụng đến một cái lông chân của dân chúng nước Từ! Tướng sĩ của nước Ngô, ai cũng biết quân lệnh của Tôn nguyên soái ghê gớm thế nào, đã nói là như đinh đóng cột, hai nàng cơ yêu dấu của Ngô vương Hạp Lư cũng chỉ vì làm trái quân lệnh mà phải bêu đầu lên gậy, hỏi ai còn dám coi quân lệnh của Tôn Tử là thứ trò đùa nữa?
Mệnh lệnh của Tôn Tử truyền đi trong gió bấc thét gào, giống như một tiếng thét long trời, lan qua sông Đà, vang trong rừng núi và hình như là đông đảo quân lính cũng như hàng ngàn hàng vạn dân chúng nước Từ đều nghe rành rành từng tiếng một. Quân nước Ngô vâng lệnh, trước hết đã bỏ khí giới trong tay xuống và lần lượt lại có hàng chục người đã ngã xoài trên vũng máu, dần dần, dân chúng nước Từ hình như được cảm hoá, cũng tự giác bỏ liềm, cuốc trên tay xuống và chăm chú nghe những lời nguyên soái của quân Ngô giảng giải. Nhân dịp này, ông đã nói với mọi người về nước Sở độc ác như lang sói, xâm lược nhiều nước nhỏ yếu hơn mình, tàn khốc bòn vét, bóp nặn mồ hôi nước mắt dân chúng của những nước này khiến cho trên những đất nước này người dân không một phút nào yên, trăm họ đang quằn quại trong nước sôi lửa bỏng. Ông vạch ra rằng Chương Vũ muốn giữ ngôi vua, đã bợ đỡ tâng bốc Sở vương thế nào, hàng năm đem một số lớn lương thực, vải đay, chè và vàng bạc châu báu dâng lên Sở vương, khiến cho dân chúng nước Từ đói rét quanh năm, quằn quại chờ chết. Rồi ông lại nói về quân đội nước Ngô là một đội quân nhân nghĩa, mà chức trách của đội quân nhân nghĩa ấy là trừng trị kẻ mạnh, bênh vực kẻ yếu, cứu dân chúng những nước nhỏ yếu này ra khỏi cơn nước lửa. Sau cùng Tôn Tử đã quở trách tên hiệu uý ấy của quân Ngô, tại sao lại coi thường quân lệnh, dám giết hại dân chúng nước Từ. Tôn Tử vừa hỏi chưa dứt lời, quân Ngô và dân chúng nước Từ nhao nhao bước lên tâu trình gót đầu sự việc:
– Trưởng trang có một cụ già là Trương Vạn Phát, tuổi đã ngoại bảy mươi, cả nhà chín miệng ăn tất cả trông vào hai mẫu tám sào ruộng ở trong núi để sinh sống, nếu như quân Ngô định đào hào xả nước, thì con hào đó xuyên qua ruộng đất của nhà cụ, như thế làm sao cụ chẳng xót xa trong lòng như dao cắt? Cụ đã hết lời nài nỉ van xin, quân Ngô đương nhiên là không chấp thuận. Không làm thế nào hơn, ông cụ liền nằm cản ngay dưới lưỡi cuốc lưỡi xẻng của quân Ngô, khóc lóc nghẹn ngào nói không ra tiếng:
– Có muốn đào, các người hãy đập chết ta trước đã để ta khỏi sống mà chịu tội…
Tên hiệu uý dẫn đám quân Ngô đang đào đất ở đây cũng khuyên mãi, cụ già vẫn cố ý không chịu đi chỗ khác. Quân Ngô đào hào đắp đê là nhiệm vụ chiến đấu, thời gian để thi công tất ngắn, chậm trễ cũng bị xử theo quân pháp, không thể nào chỉ vì một người chống lại mà bỏ mệnh lệnh của nguyên soái một bên không đoái hoài gì đến. Từ chỗ không biết làm thế nào hơn, hiệu uý ra lệnh tiếp tục đào, thế là cụ già phải bỏ mạng… Tôn Tử ra chỗ cụ già chết, thấy cụ quần áo lam lũ, gầy như que củi, đầu nghẹo sang một bên, máu đã chảy hết, mặt trắng bệch như nến, máu thấm đỏ cả một đám tuyết trên mặt đất, hiển nhiên là sau khi bị thương cụ già đã giẫy giụa rết ghê gớm. Ông cúi xuống lay xác chết, thấy thân thể cụ già đã cứng đờ từ lâu; nhưng đôi mắt trũng sâu thì vẫn mở trừng trừng. Cụ già chết không nhắm được mắt! Tôn Tử nhẹ nhàng đưa tay vuốt mắt cho cụ, nói mấy câu chuộc lỗi và an ủi, cụ già mới chịu nhắm mắt lại.
Trước đông đảo mọi người đều chằm chằm nhìn như thế, nên xử trí việc này như thế nào, quả thật là Tôn Tử thấy vô cùng lúng túng. Rồi nên đối xử với viên hiệu uý ra sao? Không trừng trị, thì không thuyết phục được dân chúng nước Từ; nếu trừng trị, nói cho công bằng, hiệu uý không có tội!… Bộ máy trong đầu Tôn Tử đang quay hết tốc độ, trong óc thoáng hiện lên cơ man nào là hình ảnh – phá thành, sự thống trị của nước Ngô đối với nước Từ và các nước phụ thuộc khác; đánh Sở gây lòng tin với chư hầu trong thiên hạ, để làm vua thiên hạ… rốt cuộc, là một là quân sự nên ông suy nghĩ mau lẹ, quyết đinh sự việc quả đoán vừa chứa đựng tình cảm con người, vừa không vì sự ràng buộc đó mà do dự quyết định lệch lạc, ông đã dứt khoát xuất phát từ việc lớn xử viên hiệu uý tội chết, để dẹp sự phẫn uất của dân, để răn đe kẻ khác đừng bắt chước làm theo.
Tôn Tử quay về doanh trại, dặn dò chôn cất viên hiệu uý cho tử tế, rồi lấy khá nhiều vàng bạc đền bù an ủi cho gia quyến người ấy và gạt nước mắt trước linh cữu viên hiệu uý lúc chở xác người ấy trở về và nói:
–…Nơi chín suối ngươi có hay chăng thì hãy hiểu cho nỗi khổ tâm của kẻ làm soái cầm quân lúc ấy. Ngươi tuy bị chết oan, nhưng lại chết rất đáng giá, ta lấy tính mạng của một mình ngươi để đổi lấy thành quả chiến đấu huy hoàng là lấy được kinh đô nước Từ mà binh lính không phải đổ một giọt máu, khiến muôn vàn người dân nước Từ thoát được tai hoạ bị nước nhấn chìm. Và như vậy, ngươi là một viên hiệu úy yêu nước, trung với vua; đáng được ngậm cười nơi chín suối…
Tôn Tử muốn cho viên Hiệu uý được ngậm cười nơi chín suối, nhưng bản thân ông thì nước mắt ròng ròng, nức nở nói không thành lời…
Sóng gần chưa qua, sóng xa lại tới, đúng vào ngày thứ ba, sau khi đưa linh cữu viên hiệu uý về phía sau, ở Tân Trang, có một đôi vợ chồng tên là Triệu Trinh, đốt cháy ba gian nhà tranh của mình, hai vợ chồng không nơi nương tựa, vì đào hào đắp đê đã huỷ hoại cái làng nhỏ chứa đầy ba mươi hộ của họ, giữa lúc năm hết tết đến, trời đầy băng tuyết, họ buồn không biết dời nhà đi đâu, không còn nơi che nắng che mưa, chui ra chui vào được nữa, nên đành đốt nhà tự thiêu, mong được chết gọn gàng sạch sẽ, khỏi gây phiền hà cho láng giềng. Ông già bà cả của Tân Trang với dân chúng các thôn xóm quanh đó; đã vin vào sự việc này, nhao nhao nổi dậy ầm ầm chống lại quân Ngô phá làng để đào hào. Quân Ngô thì đã có bài học sờ sờ bởi viên hiệu uý vừa bị giết, quan quân các cấp cũng không dám đàn áp mạnh mẽ, làm cho công việc đào hào đắp đê không sao tiến triển được. Sau khi được tin này, Tôn Tử lại phải đến tận nơi thấy vợ chồng Triệu Trinh đã bị cháy ra than, họ ôm chặt lấy nhau, co quắp như tôm, da dẻ cháy vàng như vịt quay nằm giữa đống đổ nát cháy nham nhở của căn nhà tồi tàn, ngói tan gạch nát thật là thê thảm và vô cùng đáng thương, bất giác thấy lòng se lại và tròng mắt ướt nhoè… Ông vội vàng an ủi qua loa cho dân chúng nước Từ, rồi về doanh trại và viết ra hai điều quân lệnh ban bố ra để thi hành: Một là những ruộng mạ lúa mạch bị huỷ hoại trong khi đào bới đắp đê, sẽ được lập tức đền bù theo sản lượng cao nhất của năm tới; Thứ hai, hào cừ nên cố hết sức đào tránh các thôn làng, chỗ nào không thể tránh được, cần trước hết sắp xếp chỗ cho dân chúng di chuyển đến và lập tức trao khoản chi phí gấp đôi khoản chi phí xây dựng một nếp nhà tương tự để năm tới họ xây dựng lại nhà cửa.
Hai pháp lệnh đó của Tôn Tử như một cơn gió đông trong lành, thổi cho vùng lưu vực sông Đà tan băng giá, như những giọt mưa xuân ngọt ngào, thấm thía vào từng trái tim mỗi người dân nước Từ. Cả chục năm nay, vua nước Từ chỉ những lăm le một lòng một dạ nịnh bợ vua nước Sở, đè nén bóc lột dân chúng rất tàn khốc, khiến cho dân chúng trên mình không một manh áo ấm che thân, trong nhà ăn bữa tối không còn bữa mai, người vừa đói vừa rét mà chết không biết đâu mà kể. Những ai may mắn còn sống sót già thì nửa ruột trống không, hoặc mắc bệnh phù thũng chân sưng như cái vại, hoặc gầy như que, gân xanh chằng chịt trên trán, chỉ cần một cơn gió nhẹ cũng có thể thổi bay; trẻ nhỏ thoi thóp chờ bú, có biết bao nhiêu đứa con thơ đã chết đói ngay trong lòng mẹ. Ngày nay, quân Ngô đại nhân,đại nghĩa mà từ trước tới nay chưa từng có như thế, làm gì chẳng khiến cho người dân nước Từ thấy ấm áp trong lòng mà mang ơn mến tướng quân Ngô. Ai có sữa cho bú thì người ấy là mẹ, dân nước Từ thôi không còn coi quân nước Ngô là thù địch nữa, từ sơ đi đến thân, rồi đón tiếp, rồi hỏi han săn sóc, người trai trẻ thì theo nhau tham chiến, giúp quân Ngô đào hào khai cừ. Thành luỹ của kinh đô nước Từ tuy vừa cao vừa kiên cố, có thể ngăn chặn được giặc ngoại xâm nhưng lại không thể ngăn chặn được tin tức từ bên ngoài. Tin tức đã lan vào trong thành, lập tức cả kinh thành như sôi sục lên, dân chúng từ chối, không chịu giao lương thực, quân lính cũng trở mặt, đến mức không thể dẹp yên, không sao khống chế nổi. Để giữ cho kinh đô khỏi bị tai hoạ nhận chìm dưới nước, quân lính và dân chúng đã gắn bó với nhau ép Chương Vũ mở cổng thành ra đón địch. Vua nước Từ thấy thế không giữ nổi, lại bị mất lòng dân, không biết làm thế nào hơn, đành cắt tóc mang theo phu nhân ra hàng quân Ngô.
Tôn Tử chẳng những không trách tội vua nước Từ, ngược lại, còn khen ông ta biết nhìn toàn cuộc, nhận được đâu là cái lớn hơn, biết coi trọng lợi ích của dân, khiến cho kinh thành nước Từ vẫn còn nguyên vẹn, khiến dân chúng nước Từ thoát được tai hoạ, khiến quân Ngô không phải làm điều bất nghĩa. Tôn Tử cho bày tiệc rượu để yên lòng vua nước Từ, mừng công, sau đó để cho họ hàng ông ta được an toàn và cho ông ta tự chọn lấy đường đi cho mình, nếu chịu làm quan nước Ngô, Tôn Tử sẽ tiến cử ông ta với Ngô vương, giữ cho ông không đến nỗi mất chức quan cao và nhiều bổng lộc, vinh hoa giàu sang.
Một kẻ đã quen làm tôi tớ, chẳng bao giờ muốn làm người chủ, cái đó gọi là “máu hèn”. Chương Vũ là một con người với đầy đủ cái thứ “máu hèn” đó. Từ lâu ông ta vốn quen là nước phụ thuộc của nước Sở, cam chịu để nước Sở hà hơi tiếp sức, chịu để nước Sở sỉ nhục, nghe nước Sở xui khiến, không tin ở những lời an ủi vỗ về tốt đẹp và lời khuyên bảo chân thành của Tôn Tử, bèn mang theo họ hàng chạy sang theo nước Sở, dọc đường gặp tả tư mã Thẩm Doãn Tuất của nước Sở mang quân đến cứu, thế là dẫn đầu quân Sở, kéo quân trở lại nước Từ, đánh nhau với quân Ngô. Chờ cho bọn chúng tới kinh đô nước Từ, quân Ngô đã rút đi từ lâu. Lòng dân đều chống lại, Chương Vũ khó mà đứng vững lại được ở kinh đô cũ. Thẩm Doãn Tuất bèn xây thành cho vua nước Tử ở Di[3] để họ hàng gia tộc của nước Từ ở đó.
❀ ❀ ❀
[1] Phía bắc huyện Túc Thiên, Giang Tô ngày nay.
[2] Đông Nam huyện Bặc, An Huy ngày nay.
[3] Đông nam huyện Hào, tỉnh An Huy ngày nay.