Tôn Tử Truyện

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 55 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Xxxiv Quân Tần Cứu Sở – Quân Ngô Rút Về
Chương Xxxiv Quân Tần Cứu Sở – Quân Ngô Rút Về

❊ ❊ ❊

Giữa Tùy thành và Sính đô, thường vẫn có người qua lại, Hạp Lư làm gì, Ngũ Tử Tư hành động thế nào, Tôn Tử hiểu rõ như lòng bàn tay, mỗi khi có một tin tức gì không vui từ Sính đô truyền về lại như thêm một hòn đá ném vào lòng hồ phẳng lặng nơi trái tim Tôn Tử, làm toé lên những bọt nước và muôn lớp sóng lăn tăn. Những bọt nước và lớp sóng lăn tăn lan ra ấy khiến ông đau khổ, áy náy và không yên lòng. Ngũ Tử Tư báo thù, vốn là chuyện hợp tình hợp lý, nhưng mà dụng tâm hiểm ác thế, thủ đoạn cay độc thế, lấy việc chém giết dân lành bừa bãi để hả cơn giận riêng của mình, điều đó hoàn toàn nằm ngoài suy nghĩ của Tôn Tử. Cũng như vậy, sự thay đổi lớn lao của Ngô vương Hạp Lư đã làm cho Tôn Tử khó tin, bởi đã từng có một thời ông ta tỏ ra có chí khí lớn lao, có gan dạ và hiểu biết, khát khao người hiền, tôn trọng kẻ sĩ, khiêm tốn tiếp nhận mọi lời khuyên, mạnh dạn sửa chữa sai lầm thiếu sót, cũng chính vì thế Tôn Tử mới nhận lời của Ngũ Viên giúp ông ta chấn hưng lại nước Ngô, đi chinh phạt nước Sở, hoàn thành nghiệp lớn là thống nhất được thiên hạ. Thế mà nay, cuộc trường chinh vạn dặm chỉ mới đi được mấy bước đầu tiên, vào Sính đô chưa được mấy ngày, Hạp Lư bỗng chốc hóa thành hạng người tâm địa hẹp hòi, một kẻ tiểu nhân đam mê tửu sắc, tầm nhìn thiển cận nhỏ nhen. Cứ thế này mãi, sẽ có một ngày công cũ sẽ hoàn toàn trở thành nước lũ ra sông hết, mười năm rèn luyện tập tành phút chốc trở thành công dã tràng xe cát, làm gì còn nói đến chuyện xưng bá chư hầu xưng vương thiên hạ được nữa. Nhìn tận mắt cảnh này, suy ngẫm về tương lai Tôn Tử bất giác thấy tim mình đau nhói từng cơn và lo lắng khôn nguôi. Ông đang nghĩ, con người và muông thú, thử hỏi cuối cùng thì khác nhau bao nhiêu? Ít nhất ra, về những thói tật như tự tư, tham lam, tàn bạo, hung hãn, dục vọng, tranh giành nhau, cắn xé nhau vv… hầu như chẳng khác gì nhau, thậm chí ở một bộ phận nào đó, là hoàn toàn giống nhau. Mặc dù vậy, Tôn Tử cũng muốn làm một tia sáng, chiếu dọi vào cái xó xỉnh tối tăm ấy của cuộc đời, nguyện làm một trận gió thổi lên lớp đất khô cứng vì băng phủ, nguyện làm một tiếng sấm mùa xuân thức tỉnh những con người đang ngủ say hoặc còn nửa mê nửa tỉnh; nguyện làm một liều thuốc giải độc, để cứu những con người đang mang hoặc nhiễm độc cả tâm linh lẫn thể xác. Thế nên ông quyết định đến Sính đô ngay tức khác để bàn bạc và trao đổi thật cạn lời một phen với Ngũ Từ Tư và Ngô vương Hạp Lư.

Tôn Tử đến Sính đô, trước hết xin vào yết kiến Ngô vương Hạp Lư, nhưng đi tới ba lần đều bị vệ binh ngăn lại, nói rằng đại vương đang còn yên nghỉ ở hậu cung, và có lệnh bất kỳ ai đến thăm, nhất loạt không tiếp ai. Giờ Thìn yên nghỉ, giờ Ngọ cũng yên nghỉ, giờ Mùi vẫn còn yên nghỉ, thật là hết sức vô lý, phải chăng Hạp Lư đang chui vào tổ kén ngủ đông? Từ đó đủ thấy rằng, những tin tức nghe được ở Tùy thành không phải là điều bịa đặt mà là chính xác trăm phần trăm. Lần thứ ba xin vào thăm bị ngăn lại, Tôn Tử giận đứng cả tóc gáy, bảo nội thị vào nói với Ngô vương, nếu không gặp nữa, Tôn Vũ sẽ lập tức rời nước Ngô về nước Tề. Hạp Lư nghe báo thế, lúng túng không biết làm thế nào, tiếp Tôn Tử ở ngay phòng ngủ của Chân Mai Phi. Tiếp đại thần tại phòng ngủ trong cung phi tần, một chuyện xưa này chưa từng đâu có. Hình tượng của Hạp Lư, lại càng khiến Tôn Tử thấy tởm lợm: mình không mặc áo bào, đầu không khăn mũ, lưng không thắt đai, đi dép lê, buông tóc xoã, mặt bủng ra, mắt thì nhử đóng thành cục, miệng ngáp liên hồi. Tôn Tử đến đây với tất cả tấm thịnh tình, nhìn thấy cảnh này, bất giác thở một hơi dài ngán ngẩm và thấy lòng nguội lạnh. Bao nhiêu lâu chẳng gặp nhau, đến giờ mới thấy mặt, song Hạp Lư không hề hỏi han Tôn Tử đi tới đất Tùy triển khai công việc tình hình ra sao, mà chỉ lơ đễnh hời hợt hàn huyên vài câu. Thôi thì gặp nhau đã ngại ngùng thế này, việc quái gì cả hai cùng phải khổ, chẳng thà bỏ phắt mà đi cho xong. Và như thế, những lời lẽ ân tình và đạo lý cao rộng sâu xa mà Tôn Tử đã chuẩn bị để mang ra thổ lộ, đành không nói ra một câu một chữ nào và lặng lẽ cúi chào ra đi, ý định rời nước Ngô trong ông lại càng thêm nung nấu.

Ngũ Tử Tư nói với Tôn Tử rằng Hạp Lư vào cung nước Sở, chiếm phi tần thê thiếp của Chiêu vương làm của riêng mình, lại từng tuyên bố với các tướng lĩnh rằng chiến tranh đã chấm dứt rồi, nên vua tôi mới dâm lạc xa xỉ đến như thế. Tôn Tử nghe nói vậy, bất giác cau mày suy nghĩ, vẻ mặt sững sờ. Chiến tranh đâu đã là chấm dứt, nước Việt rất có thể thấy Ngô đánh Sở, trong nước bị sơ hở, sẽ đánh lớn sau lưng nước Ngô. Những nước lớn mạnh như Tề Tấn, rất có thể cứu nước Sở đánh nước Ngô. Chư hầu trong thiên hạ rất có thể cũng kéo đại quân đi hỏi tội rồi liên quan lại mà đánh nước Ngô, như thế thì nước Ngô đang ở thế bị trăm người nhòm ngó, riêng về mặt này mà nói, một cuốc chiến tranh tàn khốc với quy mô lớn còn chưa nổ ra, làm gì có chuyện chấm dứt? Chưa nói tới chuyện chư hầu trong thiên hạ, chỉ nói riêng nước Ngô và nước Sở, thì cũng mới chỉ là sự ngưng nghỉ giữa chừng của một trận chiến đấu, trong sự bình lặng, đang âm ỉ một cuộc chiến đấu khác khốc liệt hơn. Tôn Tử nói với Ngũ Tử Tư:

– Hiện nay, Sở Chiêu vương đang ở trong một vùng rừng sâu xa xôi cách Tùy thành ba trăm dặm, đang ngày đêm đang lấy lại tinh thần, chỉnh đốn lại quân ngũ, với ba vạn tinh binh sắp xếp lại lực lượng, quyết tâm đánh đuổi quân Ngô thu phục đất nước.

Ngũ Tử Tư nghe thấy vậy, lấy làm lo sợ, hỏi:

– Những tin tức nguyên soái vừa nói, có đáng tin cậy không?

Tôn Tử thở dài sườn sượt nói:

– Điều đáng lo của quân ta, không phải là ở chỗ ba vạn quân địch mà là ở chỗ sĩ khí của quân ta ngày một suy đồi. Lấy vũ lực đánh nhau để giành thắng lợi, thực ra không khó lắm, cái khó nhất, là chinh phục được lòng dân nước địch. Muốn thu phục được lòng dân, thì phải nghiêm khắc với ham muốn của mình, không cướp bóc, không tranh giành, không gian dâm, không chém giết, để cho dân được an cư lạc nghiệp. Thế mà ngày nay, Ngô vương và chư tướng lại nhằm giữa lúc ngưng nghỉ của một trận chiến đấu, để cho lợi ích và lòng ham muốn làm mờ lương tâm, tự ý làm càn, thực ra là tự hủy hoại mình và làm những hành động tiếp tay cho địch vậy. Tôi vốn không phải người nước Ngô, vì muốn giúp Ngô vương hoàn thành nghiệp lớn là thống nhất thiên hạ, giúp tướng quân đền nợ nước rửa thù nhà, nên mới tham gia vào trận đánh này, tình hình hiện nay khiến tôi trăm mối tình cảm rối ren, lòng cũng rất lấy làm hổ thẹn và hối hận.

Những lời lẽ đó, tuy không như những làn roi đánh thẳng vào Ngũ Tử Tư, nhưng Ngũ Tử Tư lại thấy rất lúng túng, đối với ông ta, hình như Tôn Tử lúc này toàn kể tội ông ta và những lời kể tội ấy còn hơn là hai cái tát giáng vào mặt, ông ta thấy mặt mình rát lên ràn rạt, vội vàng đỡ lời:

– Nguyên soái! Hay là chúng ta lập tức khuyên giải đại vương, nói cho người hiểu về đại nghĩa, được không?

Tôn Tử lắc đầu, kể lại một lượt tình hình diễn biến khi mình ba lần đến xin bái yết Ngô vương cho Tử Tử nghe, sau cùng nói:

– Lúc này khuyên giải đại vương, chẳng có ích gì cho công việc, mà lại dễ gây ác cảm, khiến các tướng công phẫn, việc quái gì lại tự đi lấy dây để buộc vào mình, bốc phân mà bôi lên mặt thế.

Ngũ Tử Tư thấy nguyên soái nói rất có lý, thở dài than vãn, bó tay không còn cách nào. Sốt ruột, lo lắng, không yên tâm, đó là tình cảm tư tưởng chung của Ngũ Tử Tư và Tôn Tử lúc này, và đó cũng là nền tảng tư tưởng để ông ta có thể thành khẩn tiếp nhận sự phê bình của Tôn Tử, dứt khoát và mạnh dạn sửa chữa sai lầm, để hai người đi đến những nhận thức giống nhau.

Hôm sau Tôn Tử rủ Ngũ Tử Tư dạo chơi ngoại thành. Tuy còn chưa sang tháng ba, nhưng vùng Giang Nam vốn khác với miền bắc, ở đó còn là đang độ xuân sang lạnh giá tiêu điều, thì ở đây sớm đã nồng nàn hơi ấm, cây cối nơi nơi đã trổ chồi non, nụ lộc trên cành chúm chím, cả một vùng chan hòa cảnh sắc của mùa xuân. Một đoàn hơn chục người, đến bên một cánh rừng thưa, chọn một gò cao, thả mình trên cỏ mượt như nhung, tận hưởng cánh sắc của núi sông trước mặt. Cảnh trí nơi đây vốn mang sẵn đặc điểm của mình, một dòng sông như dải lụa chạy suốt từ đông sang tây, bờ bắc là rừng xanh, bờ nam là đồng ruộng, nhưng rừng xanh cũng vậy, đồng ruộng cũng vậy, nơi nào đất đai cũng phì nhiêu và sẵn nước, màu xanh mới trổ trông thật mỡ màng và đầy sức quyến rũ, tràn trề nhựa sống, dâng ngập đất trời. Những chồi non mới nhú lại càng căng đầy sức sống. Cây cỏ ấy, rừng núi ấy, cảnh trí ấy khiến Tôn Tử nghĩ gần nghĩ xa, như dại như ngây. Ngũ Tử Tư thấy vậy không hiểu, hỏi:

– Nguyên soái làm sao mà ngẩn ra như vậy?

Tiếng hỏi của Ngũ Tử Tư khiến Tôn Tử như tỉnh lại, bản thân ông cũng thấy nực cười, nói:

– Tôi đang nghĩ tới những cánh rừng kia, hàng cây kia tại sao có thể xanh tươi rậm rịt mượt mà mênh mang như thế được.

Ngũ Tử Tư thản nhiên mỉm cười, buột miệng trả lời ngay:

– Điều đó có gì lạ, vùng này đất đai phì nhiêu, nước non đầy đủ, hoa màu và cây cối đương nhiên là mọc lên tươi tốt thôi!

– Nếu không có đất và nước thì sao? – Tôn Tử như đang lẩm bẩm một mình nhưng lại như gạn hỏi Ngũ Tử Tư.

– Không có đất và nước, chẳng những hoa màu cây cối khô héo mà chết, hơn thế trên đời này cũng chẳng còn màu xanh tồn tại nữa – Ngũ Tử Tư chẳng cần suy nghĩ đáp ngay.

Ngũ Tử Tư đã trả lời rất đúng, Tôn Tử hài lòng gật đầu và cười thông cảm, cười xong lại gợi ý hơn một chút.

– Hoa màu, cây cối, màu xanh trên đời… tất cả đều dựa vào một điều kiện để sinh sống và lớn lên là đất và nước, thế còn chúng ta – vua chúa, nhân thần, tướng lĩnh, quan lại, binh lính thì dựa vào điều kiện gì để tồn tại? Cái gì là đất và nước mà chúng ta cần thiết gắn bó, không được xa rời?

Đến lúc này Ngũ Tử Tư mới bàng hoàng vỡ lẽ ra và cảm nhận được dụng ý sâu xa của Tôn Tử khi rủ ông ta đi dạo ra ngoài thành, đến chỗ đất đai phì nhiêu, nguồn nước dồi dào này để nói chuyện với ông ta về rừng với cây. Ngũ Tử Tư bỗng thấy hổ thẹn không để đâu hết, không biết lánh mặt vào đâu, đành bắt buộc cúi đầu, một lúc lâu sau mới rụt rè nhỏ nhẹ, nhưng lại không chút hàm hồ nói:

– Dân chúng trăm họ là đất và nước mà chúng ta dựa vào để sinh sống, rời xa họ, chúng ta sẽ khô héo như cây thiếu nước.

Ngũ Tử Tư lại vẫn trả lời rất đúng, Tôn Tử không nói thêm gì nữa, im lặng ngó mông lung về phương xa, ông như muốn ngầm bảo rằng: “Đã biết thế, sao ông còn chém giết dân lành vô tội để hả nỗi thu hận riêng của mình? Rồi tại sao lại khiến dân phải mệt người tốn của, tại sao lùa hàng ngàn người dân lao khổ tới để sửa sang mồ mả, xây đựng lăng tẩm cho tổ tiên của ông? Lẽ nào ông lại không sợ rằng mất họ đi thì ông sẽ trở nên khô héo hay sao?”. Ngũ Tử Tư không phải là phường ngu muội, từ ánh mắt thâm trầm và tư thái nghiêm trang của Tôn Tử, ắt hẳn là đã lĩnh hội được tất cả.

Tâm tư của Ngũ Tử Tư hết sức nặng nề, ông ta đang đau lòng nhức óc kiểm điểm lại mình, lúc tìm trong mọi khía cạnh xem xét lại mọi hành động của mình, đồng thời ngay lúc đó cũng vạch ra một phương án sửa chữa sai lầm và chuộc lỗi. Bỗng nhiên một giọng hò chèo thuyền thô và đục ở đâu đó vang lên phá tan bầu không khí ngột ngạt như quánh lại, mọi người không ai bảo ai, đều đưa mắt về phía ấy, chợt thấy trên mặt sông không lấy gì làm rộng lắm, hàng ngàn cánh buồm cùng căng lên, hàng ngàn còn thuyền tranh nhau lướt sóng, tạo nên một cảnh tượng rộn rã tấp nập. Những chiếc thuyền lớn nhỏ kia, cái thì căng buồm, cái thì kéo dây, cái thì đẩy bằng sào… tất cả đều rẽ sóng tiến lên, tốc độ nhanh như chớp.

Để cho không khí dịu bớt lại, Tôn Tử bảo mọi người hãy bỏ rượu, thịt và thức ăn mà mình mang theo ra, mọi người ngồi ở bờ sông ven rừng, ăn uống với nhau một bữa dã ngoại đầy thi vị. Không biết thời gian qua đi bao lâu, từ chân trời phía tây bắc bỗng đùn lên một ụ mây đen, màu sắc y như mực, quánh lại như sơn, cùng tiếng gió rít gào, đám mây đen ấy lan ra nhanh chóng, mở rộng mãi ra, bao trùm khắp nơi, trong phút chốc nó biến thành dải non cao trùng điệp, dồn đến che lấp đất trời. Một nháy mắt nữa, trời đất tối sầm, cuồng phong lồng lộn, gió rừng gào thét, mưa trút xuống như xối nước. Trên mặt sông sóng dựng từng cơn, thuyền bè đụng vào nhau, cái bị lật, cái bị chìm, cột buồm gãy, mái chèo mất, thuyền vỡ người chết, vô cùng thảm thương, khắp sông dậy lên tiếng khóc than ai oán.

Gió bão đến cũng mạnh, mà đi cũng nhanh, khoảng chừng chưa ăn xong một bữa cơm, gió bỗng lặng, mây bỗng tan, mặt trời trên cao le lói. Sự thay đổi nhanh chóng đó của tự nhiên, mang lại cho Tôn Tử và Ngũ Tử Tư một điều gợi ý mới, hai người không ai bảo ai cùng thốt lên: “nước có thể đẩy thuyền, nhưng cũng có thể lật thuyền”… Đời sau có người thêm vào phía trước bốn chữ “dân cũng như nước”, khiến cho vấn đề càng trở nên trong sáng hơn. Muôn ngàn năm nay, có biết bao nhiêu người đã nhắc lại câu nói chứa đầy triết lý ấy. Tuy nhiên, từ trong cốt lõi của nó nhận ra tính chân lý của nó, để cho nó hòa tan vào trong máu, chỉ đạo mỗi một lời nói việc làm của mình… thì lại chẳng được mấy người, ngược lại kẻ vừa có chút quyền bính trong tay, bèn coi dân chúng như những kẻ ngu muội, thì đáng buồn là lại hơi nhiều…

Tôn Tử và Ngũ Tử Tư đang trao đổi ý kiến với nhau quanh vấn đề sự quan trọng của nhân dân và nên đối xử với nhân dân thế nào cho phải, bỗng đâu có một bóng ngựa phi tời, một hiệu úy vừa chợt tới nơi đã tung mình xuống ngựa hấp ta hấp tấp trình lên:

– Dạ thưa nguyên soái! Hỏng to rồi ạ. Viện quân nước Tần kết họp với quân nước Sở thành mười vạn, đang kéo đến sông Tương. Đại vương lệnh nguyên soái và Ngũ tướng quân lập tức về thành để bàn việc đem quân đón đánh địch.

Đến khi Tôn Tử với Ngũ Tử Tư về đến triều đình nước Sở, Hạp Lư đang nổi trận lôi đình với bọn Phu Khái, Bá Bỉ:

– Nghe nói quân cứu viện của nước Tấn đã hợp lại cùng quân Sở, đang đánh vào Sính đô, các ngươi có biết không?

Câu hỏi ấy cũng bằng thừa, từ khi vào được Sính đô đến lúc này, tướng lĩnh của nước Ngô chìm đắm vào trong vòng tửu sắc, chẳng ai còn hỏi gì đến chiến sự, suốt ngày ra sức mà hưởng lạc, làm sao còn biết được tình hình quân địch ra sao. Hạp Lư thấy chuyện đã gấp rút như lửa cháy ngang mày, các tướng lại chẳng ai hề hay biết, bất giác lửa giận nổi lên đùng đùng, cáu kỉnh hạ lệnh:

– Các tướng ai về vị trí người ấy, chuẩn bị ứng chiến. Phu Khái điều ngay một vạn quân, đến thẳng sông Tương, để phá liên quân Tần – Sở!

Phu Khái nhận lệnh, hí hửng trong lòng, rốt cuộc vẫn là anh em ruột thịt trong nhà vẫn khác, mới chịu san sẻ gánh nặng cho ta gánh đỡ, không như Tôn Vũ, lúc nào cũng giành cơ hội lập công cho một mình Ngũ Viên.

Ngay hôm về thành, Ngũ Tư Tư lập tức cho dán yết thị khắp nơi, thu hồi lệnh cũ, thôi không xây mộ sửa lăng cho tổ tiên mình nữa.

Tần là một nước nhỏ yếu ở phía tây, làm sao lại có thể đột nhiên đem quân đến cứu nước Sở được chứ?

Người anh kết nghĩa của Ngũ Tử Tư là Thân Bao Tư, từ sau ngày Sính đô thất thủ, trốn vào núi Thạch Ty ở Di Lăng để lánh nạn, nghe nói về hành động đào mồ đánh thây của Ngũ Viên, nhớ đến câu thề ngày nào lúc chia tay với Ngũ Viên: “Sau này hiền đệ có làm cho nước Sở ngả nghiêng, ngu huynh sẽ làm cho nước Sở an bình; hiền đệ nếu có diệt nước Sở, ngu huynh sẽ phải xây dựng lại nước Sở”, cho nên đã kiên quyết sang nước Tần xin cứu viện. Thân Bao Tư sang Tần là có căn cứ: Một là mẹ của Sở Chiêu vương thái hậu Bá Doanh vốn là công chúa Vô Tường của nước Tần, là chỗ chị em ruột với Tần Ai Công; tình thân máu mủ, lại là phận em, quyết không thể nào ngồi yên trước nỗi đau mất nước mà chị mình đang vấp phải. Hai là Tần – Sở ở sát bên nhau, khăng khít như môi với răng, nếu Ngô diệt Sở, ắt sẽ đe dọa đến an toàn của nước Sở, Tần sẽ đứng ở góc độ giữ an toàn cho bản thân mình, tất sẽ đem quân cứu Sở. Mấy ngày liền, Thân Bao Tư đi ngày đi đêm về phía tây, gót chân nứt nẻ ra, máu rớm ra từng giọt, xé vạt áo ra bó gót chân lại tiếp tục lên đường. Đến được Ung Châu, Thân Bao Tư bái kiến Tần Ai công để nói cho ông ta hiểu về lý lẽ và cũng động lòng thương vì tình:

– Ngô nay là một nước sói lang, lòng tham như gấu, dạ độc như rắn, từ lâu đã nuôi ý định thôn tính chư hầu, nay mang quân đi xâm lăng nước Sở, quân Sở phòng ngự tỏ ra bất lực, đô thành và những địa điểm quan trọng, đều lần lượt thất thủ. Nhà vua của chúng tôi phải lánh nạn đến một vùng rừng rậm, lệnh hạ thần sang cáo cấp với thượng quốc, xin nhà vua hãy cho quân đi giải vây giúp.

Trước lời thỉnh cầu đó của vua tôi nước Sở, phản ứng của Tần vương tỏ ra lạnh nhạt, nói:

– Thần ở nơi biên thùy phía tây hẻo lánh, quân thì yếu, tướng thì ít, giữ mình còn chẳng nổi, còn làm sao cứu được người khác.

Đúng thế, nước Tần vốn không lớn mạnh như Tề, Tấn, thế nhưng trong các chư hầu, so với kẻ tầm thường, cũng hơn được một cái đầu, Tần Ai công khiêm nhường như thế, là để chống chế cho qua chuyện, hiển nhiên là những lời thoái thác mà thôi, Thân Bao Tư lại giở giọng trách móc nói:

– Đại vương một mực từ chối như thế, lẽ nào lại không nghĩ tình thân máu mủ ruột thịt? Nghĩ đến tình cậu cháu…

Câu nói ấy của Thân Bao Tư hình như có gây cho Tần Ai công một sự xúc động, trên mặt ông ta thoáng hiện lên một nét đau đớn, và xem ra có vẻ áy náy trong lòng, đứng ngồi không yên, nhưng chỉ trong nháy mắt, lại trở lại binh tĩnh và lạnh lùng như cũ. Sau khi im lặng hồi lâu, Tần vương dằn từng tiếng nói:

– Đạo làm chính trị, phải coi trọng lợi ích của cả nước hơn tất cả, tình máu mủ ruột thịt, ai mà chẳng nhớ, thế nhưng người làm vua đâu có thể chỉ quanh quẩn vì tình riêng mà làm rối loạn việc nước? Phàm những việc gì ngược lại lợi ích của đất nước, cho rằng việc giữa hai nước cha con, cũng không thể làm được, huống chi là giữa cậu với cháu. Dám mong hiền khanh hãy hiểu cho nỗi khổ của quả nhân, lúc này đây quả thật là quả nhân không làm gì được.

Tình máu thủ ruột rà đã không lay chuyển được Tần vương, Thân Bao Tư đành xoay sang một góc độ khác tiếp tục nói:

– Việc cứu viện cho nhau, nếu quả như lời đại vương, không thề vì tình riêng, thế nhưng là nước láng giềng thì thế nào đi nữa cũng nên cứu giúp, đại vương đã nói: “phải coi trọng lợi ích đất nước hơn tất cả”, thì lẽ nào không nghĩ đến mối lo môi hở thì răng lạnh hay sao? Ngô vương để tâm tìm mọi cách muốn độc chiếm trung nguyên, một khi nước Sở đã diệt vong, nước Ngô ắt sẽ kéo quân sang Tần, lúc ấy nước Tần ắt lâm nạn còn nói gì đến chuyện “coi trọng lợi ích đất nước hơn tất cả” nữa? Nếu đại vương có thể đem quân đi cứu nước Sở thì một là tháo gỡ được khó khăn cho nước Sở, hai là bỏ được mối lo lâu dài cho nước Tần, lý lẽ rõ rành rành như thế, cúi xin đại vương suy xét lại cho kỹ lưỡng rõ ràng ạ!

Tần vương nghe nói thế, cảm thấy rất có lý, trầm ngâm suy nghĩ thêm chút nữa và nói:

– Hiền khanh hãy cứ ra quan dịch và nghỉ ngơi, để quả nhân bàn thêm lại với các đại thần, rồi hôm khác sẽ trả lời sau.

Thân Bao Tư tạ ơn cáo lui và nói:

– Vua tôi nước Sở đang lánh nạn nơi rừng rú, chờ một ngày bằng cả năm, thần đâu dám ra quán dịch mà yên nghỉ được! Vả lại cứu binh như cứu lửa, không thể chậm trễ được, thần cứ ở đây để chờ trả lời cũng được.

Ngay sau đó Tần Ai công đã cho với các trọng thần tới bàn bạc, nhưng kết quả chẳng có ai tán thành việc đem quân đi cứu nước Sở. Thân Bao Tư nghe thấy thế, ứa nước mắt ra và lớn tiếng than rằng:

– Không được Tần vương cứu giúp, nước Sở ắt sẽ mất. Kẻ mất nước, há lại quay về để cho bọn giặc cướp lăng nhục sai khiến hay sao, thần có chết cũng không rời chỗ này.

Tần vương khuyên răn hết lời vẫn không xong, đành buộc phải hạ lệnh cho vệ sĩ:

– Đưa tướng quân này ra nơi quán dịch, tạm nghỉ ít ngày, rồi sẽ đưa về nước!

Từ đó, Thân Bao Tư như một kẻ điên rồ, suốt ngày thân thể lõa lồ, đi quanh chân tường cung điện mà gào khóc bảy ngày bảy đêm, không ăn qua một hạt gì vào bụng. Tần vương nghe báo, chợt thốt lên:

– Nước Sở có những trung thần như thế, sao có thế mất nước được..

Có một đêm, trăng sáng sao thưa, Tần vương mặc thường phục ra theo dõi, ngoài tường xây quả là thấy Thân Bao Tư trần truồng trong đêm sương lạnh, khóc than thảm thiết: “Thân Bao Tư ta đây mang danh là bậc nhân thần, không có đủ sức để bảo vệ đất nước, bảo vệ vua chúa, để cho đất nước rơi vào cảnh lầm than, vua chúa phải đi lánh nạn nơi rừng rú. Hỡi trời cao xanh, hỡi trăng vằng vặc, tội nghiệp ta sâu nặng quá biết làm sao chuộc lại bây giờ”…

Tần vương nhìn thấy vậy, bất giác thấy cay nơi sống mũi, lẩm bẩm một mình: Nước Sở có những bậc hiền thần như thế này, nước Ngô còn diệt, quả nhân không có những hiền thần như thế, nước Ngô đâu há bỏ qua, vì thế mà lệ nhỏ ướt đầm vạt áo, mới viết nên bài thơ “không mặc áo”.

Cảm động trước lòng trung trinh và khí tiết của Thân Bao Tư, Tần vương lệnh Cơ Liễn làm nguyên soái, thái tử lớn Tử Bồ làm tiên phong; thái tử thứ hai Tử Hổ làm đại tướng trung quân, mang bảy vạn tinh binh, trong ba ngày lên đường cứu Sở.

Lại nói Phu Khái ỷ vào sự hung hăng kiêu dũng, đem quân đến Tương Thủy dàn quân ra đối địch với quân Sở. Hôm sau bắt đầu khai chiến, Phu Khái tế ngựa xung phong, đại tướng quân Sở lệnh Thái Tử Tây hăng hái xông ra đón đánh. Hai bên đánh nhau giáp lá cà, túi bụi khó phân thắng bại. Phu Khái thế như hổ dữ, sắc bén không gì ngăn cản nổi, Tử Tây yếu sức không chống nổi quay đầu bỏ chạy. Phu Khái hăng hái xông lên đuổi theo, chiến mã tung vó như bay, đột nhiên, từ trong bụi rậm xông ra một tướng, chắn ngang đường đi. Viên tướng này tiếng như sấm động, mắt sáng như đèn, mặt như hung thần ác quỷ, tay cầm cây thương dài, khí thế ghê người. Con người cao lớn ra tướng mạo kỳ dị đó không phải ai khác, mà chính là nguyên soái của quân Tần – Cơ Liễn. Tuy sức khỏe vô cùng anh dũng và thiện chiến, xưa nay chưa từng thua ai, đánh trận nào thắng trận ấy, nhưng lúc này đây, giao chiến với Cơ Liễn ở đây, Phu Khái bỗng thấy lực bất tòng tâm, đánh được mươi hiệp, đành phải tháo chạy. Quân Sở thấy Phu Khái bỏ chạy, liền từ bốn phía vây lại như bầy thú ào xuống núi, trống trận thúc ầm vang, tiếng hò reo như núi nhào đất lở. Phu Khái lúc nào cũng chỉ lăm le lập công cao, chơi trội với mọi người, không ngờ tướng của quân Tần lại ghê gớm thế, binh lính tướng sĩ vốn thống lĩnh trong tay Phu Khái lúc này đây bị đánh cho tan tác, không còn ra hồn nữa.

Trận đầu bất lợi, tổn tướng hao binh, Ngô vương Hạp Lư ngầm rên rỉ trong lòng, hỏi kế quần thần. Qua một lát trầm ngâm, Tôn Vũ trịnh trọng nói:

– Quân đội, ví như một thứ hung khí, phải năng dùng mà không được giữ lâu. Đất Sở vốn rộng bao la, lòng dân nước Sở còn chưa phục, ngày nào thần xin với chúa công cho lập Mê Thắng lên làm vua, để vỗ về lòng dân nước Sở, chính là lo đến sự biến hôm nay. Thế mà lúc này đây, quân ta đã lan tràn trên đất Sở, đã đánh chiếm kinh đô của họ, oai phong của nước Ngô như mặt trời giữa lúc ban trưa, chi bằng ta sai sứ sang thông đồng với nước Tần, hứa sẽ phục hồi vua Sở; cắt vùng giáp ranh miền tây nước Sở, để rộng biên cương nước Ngô, chúa công cũng chẳng phải là không có lợi. Nếu còn tiếc mãi cung vua nước Sở, cầm cự lâu dài với nước Sở, người Sở sẽ có ngày vùng lên, người Ngô do kiêu mà sinh nhác, lại thêm nước Tần như hổ như lang, chỉ thấy hại mà không hề có lợi.

Ngũ Tử Tư tán thành ý kiến và chủ trương của Tôn Tử, Hạp Lư ra lệnh rút quân và nói:

– Nguyên soái nói rất có lý, với đà như nước cuốn thế này, rút quân về lại Cô Tô.

Không ngờ quân lệnh ban ra, Bá Bỉ lại ngang nhiên chống lại:

– Quân ta từ khi rời biên giới nước Ngô, dọc đường thế mạnh như chẻ tre, năm trận chiếm được Sính đô, nay gặp quân Tần đến cứu, không đánh mà rút quân, không sợ người đời cười cho à? Xin đại vương cho bản tướng hai vạn tinh binh, ắt đánh cho quân Tần mảnh giáp không còn; nếu đánh không thắng, xin chịu theo quân pháp.

Ngô vương Hạp Lư lúc này bỗng trở nên con người không hề có chủ kiến, nghe nói sao cũng thấy bùi tai, và điều quan trọng hơn là còn quyến luyến đất đai và đám người đẹp trong cung dinh nước Sở, cho nên đã sửa lại quân lệnh:

– Bá tướng quân nói chí phải! Ta sẽ điều cho hai vạn binh mã, hiền khanh kíp dẫn quân đi đón đánh địch.

Tôn Tử và Ngũ Tử Tư hết lời can ngăn nhưng không kết quả, Bá Bỉ dẫn quân đi. Quân lính hai bên gặp nhau ở Quân Tường, dàn thành trận thép. Bá Bỉ thấy liên quân Tần Sở hàng ngũ lỏng lẻo kỷ luật rệu rã, bất giác xì mũi coi khinh, bèn cho dóng trống, giục quân xông vào, vừa hay, đụng độ ngay với Tử Tây, liền mắng:

– Tên bại tướng mất nước kia, lại còn muốn thổi lửa trên tro nguội à?

Tử Tây cũng mắng lại:

– Thằng giặc phản quốc kia, lại còn dám dày mặt mà hé môi nói thế à. Nhìn đây!

Tử Tây giơ kích lao thẳng vào Bá Bỉ. Dùng lưỡi qua giơ lên, Bá Bỉ đỡ đòn và đánh lại. Hai bên qua đi kích lại nhanh như chớp giật, đánh nhau chết thôi, chẳng ai không mang hết tài hết sức ra đối địch. Đánh nhau chừng non chục hiệp, bỗng nhiên Tử Tây vờ thua bỏ chạy, Bá Bỉ cười quân Sở không chịu nổi một đòn của mình, dốc hết quân ra, đuổi riết không tha. Đuổi chừng năm dặm, bên trái quân của Thẩm Chi Lương áp tới bên phải thì quân của Vĩ Diên đánh ra, tướng Tần là Từ Bồ, Tử Hổ đem quân chư lực từ giữa xông thẳng vào trận địa của quân Ngô. Ba cánh quân ấy cắt quân Ngô ra làm bốn đoạn. Quân Ngô trúng vào trận phục kích này, người nào người nấy hồn xiêu phách tán, thảm hại tả tơi tìm đường mà trốn. Bá Bỉ tả xung hữu đột mà không sao thoát được ra, trong lúc hỗn chiến mình đầy vết thương, mấy lần xuýt chết. Đúng lúc ấy, quân của Ngũ Tử Tư kịp đến, đánh nhau một trận rất to, cứu được Bá Bỉ, hai vạn binh mã, đến lúc này còn lại chưa đầy ba ngàn. Bá Bỉ tuy được cứu ra, nhưng vì vết thương khá nặng, lại khốn đốn mệt mỏi, chợt lịm đi bất tỉnh nhân sự. Cho mãi đến lúc di chuyển tới nơi an toàn, Bá Bỉ mới tỉnh lại, thấy Ngũ Tử Tư săn sóc bên mình, kinh ngạc hỏi:

– Sao Ngũ tướng quân lại ở nơi đây?

Ngũ Tử Tư trả lời:

– Tôn nguyên soái đoán trước tướng quân lần này ra trận dễ gặp bất trắc, lệnh cho tôi đến đây cứu viện. Nếu không có Tôn Tử tham mưu dự đoán trước, lại đoán việc như thần thế, ngày này sang năm, sẽ là ngày giỗ của tướng quân.

Theo lệnh pháp, Bá Bỉ phải chịu chém đầu, nhưng cân nhắc thấy lúc này quân địch còn ở trước mắt, chém đại tướng e rằng sẽ hủy hoại quân tâm, nên đã tha tội chết cho và để theo quân đi lập công chuộc tội.

Liên quân Tần Sở mỗi lúc một áp sát tới, Hạp Lư hối hận đã không tiếp nhận lời khuyên của nguyên soái ngay từ đầu, kéo quân về nước Ngô, để đến nỗi bây giờ muốn lui không được, muốn tiến cũng không xong, đành phải theo kế mới của Tôn Vũ, mang toàn bộ lực lượng ra đón đánh. Hạp Lư để Phu Khái và Công tử Sơn ở lại trấn giữ Sính đô, còn mình thân chinh ra tuyên trước trực tiếp chỉ huy bài binh bố trận. Quân Ngô hạ trại ở nơi cách liên quân Tần – Sở chừng mươi dặm, Ngũ Tử Tư và Bá Bỉ đem quân mai phục ở nơi cách hai bên phải trái của đại doanh không xa lắm, chờ khi quân địch đánh vào, tạo thành thế gọng kìm hai bên phải trái giáp công. Quân Ngô tuy chỉ có năm vạn, nhưng Tôn Tử túc trí đa mưu, lại thêm vùng đất đang cố thủ thế núi cheo leo hiểm trở, vách cao suối sâu và nhất là có Ngô vương thân chinh ra đốc chiến, tướng sĩ đều một lòng căm giận quân địch, binh lính tinh nhuệ không sức gì cản nổi. Hai bên cầm cự với nhau đã hơn chục ngày đều chẳng bên nào dám khinh địch liều lĩnh xuất kích.

Phu Khái tự ỷ vào chuyện có công đầu trong cuộc đánh Sở, vì thua trận ở Tương Thủy, dần dần Ngô vương chỉ để ở lại giữ thành, cho nên trong lòng ấm ức không vui. Lại nghe tin ở tuyến trước hai bên cầm cự chưa bên nào quyết, bỗng nảy ra suy nghĩ: theo chế độ của nước Ngô, anh chết thì em thay, lẽ ra ta phải được nối ngôi. Nay đã lập hoàng tử Ba làm thái tử, thì ta mãi mãi không bao giờ còn có dịp làm vua nữa! Chi bằng nhân dịp quân Ngô đang đánh nhau xa, trong nước trống vắng, ta tự quay về, cướp ngôi xương vương, thế há chẳng hơn là sau này phải tranh giành à? Đã rắp tâm như vậy, Phu Khái vờ nói rằng: “Hạp Lư thua trận ở nước Tần, hiện ở đâu không rõ. Nước không thể để một ngày không có vua, ta phải ra thứ lập” rồi tự xưng là Ngô vương; sai sứ qua Tam Giang sang nước Việt, bảo họ tiến quân, giáp kích vào kinh đô nước Ngô, sau khi xong việc sẽ cắt cho năm thành để tạ ơn…

Một hôm, trong doanh trại quân Ngô, Hạp Lư đang cùng Tôn Tử và Ngũ Tử Tư đang bàn việc lớn quân cơ bỗng Công tử Sơn chạy bổ vào trướng quân báo cáo:

– Không hiểu lý do gì, Phu Khái mang theo quân bản bộ, tự về nước Ngô mất rồi!

Hạp Lư còn chưa kịp hỏi chuyện, Ngũ Tử Tư đã nói trước:

– Phu Khái ra đi chuyến này, ắt là làm phản chứ không sai!

Hạp Lư vô cùng kinh sợ, trợn mắt há mồm, chìa hai tay ra trước mặt:

– Bây giờ biết làm thế nào?

Tôn Tử thản nhiên bình tĩnh nói:

– Phu Khái chỉ là kẻ vũ phu, không có gì đáng lo. Mà điều đáng lo lúc này, là người Việt thấy biến mà hành động, đại vương nên về ngay, trước hãy dẹp yên nội loạn.

Thế là Hạp Lư để Tôn Tử và Ngũ Tử Tư ở lại cố thủ, còn mình cùng với Bá Bỉ đem đội chiến thuyền thuận dòng xuống hạ lưu. Về qua Hán Thủy thì được thư cáo cấp của Thái tử Ba: “Phu Khái tạo phản xưng vương, lại kết liên với quân Việt đánh vào, kinh đô nước Ngô nguy trong sớm tối”. Đọc xong thư Hạp Lư bất giác kinh ngạc thốt lên:

– Đúng là không ngoài dự đoán của Tôn Tử, quả là người thần vậy!

Hạp Lư đi ngày đi đêm về nước, ven sông truyền dụ cho tướng sĩ của Phu Khái: “Ai theo Phu Khái mà quay về, được giữ nguyên chức cũ, kẻ nào đến sau thì chém!”, binh lính trên sông Hoài đều quay giáo trở về. Phu Khái chiêu binh mãi mã, lôi kéo dân chúng, rồi ban cho giáp mãng, đẩy vào các cuộc chém giết. Trăm họ nghe tin Ngô vương vẫn còn sống, lũ lượt bỏ đi, Phu Khái bị dân chúng phản lại, người thân xa rời, trở thành người cô quả cô đơn, đành mang số tâm phúc còn lại của mình ra đánh trận. Hạp Lư đứng ở trận tiền hỏi:

– Quả nhân tin cậy như chân tay, cớ chi lại làm phản?

Phu Khái cũng thẳng thắn đàng hoàng hỏi lại:

– Ông giết Vương Liêu, trừ Khánh Ky, há không là làm phản hay sao?

Hạp Lư giận không nén nổi, lệnh Bá Bỉ ra trận bắt sống. Hai tướng đánh nhau được mấy hiệp, Hạp Lư thúc quân thẳng tiến vào. Phu Khái tuy khỏe, nhưng ngặt vì ít không thắng được nhiều, đành thua to bỏ chạy, trốn sang nước Tống. (Cũng có người nói trốn sang nước Sở). Hạp Lư phủ dụ cho yên dân chúng, về đến kinh đô nước Ngô, Thái tử Ba ra đón vào thành, cùng bàn bạc mưu sách để chống nước Việt.

Tin tức loan ra đến tuyến trước, Tôn Tử và Ngũ Tử Tư tạm yên trong lòng, cùng bàn nhau làm thế nào chấm dứt cục diện căng thẳng lúc này để sớm rút quân về nước. Ngũ Tử Tư nói:

– Tên nghịch tặc trong nước đã được quét sạch, ở đây chúng ta cầm cự với liên quân Tần – Sở nửa tháng trời, cung cấp khó khăn, không nắm được phần thắng, chi bằng thừa cơ kéo quân về nước, ý nguyên soái thế nào?

Tôn Tử đáp:

– Cầm cự một số ngày, quân địch án binh bất động, nghiễm nhiên là không có ý muốn giao chiến, nếu ta sai sứ đang để thương thuyết với họ, ký hòa ước, ắt là họ sẽ vui vẻ tiếp nhận, chỉ có điều…

Ngũ Tử Tư vẫn còn băn khoăn lo ngại hỏi:

– Nước Sở được nước Tần giúp đỡ, đang vui mừng và kiêu căng, có chỗ dựa nên không phải lo ngại, lúc này mà giảng hoà với họ, làm sao họ có thể chấp nhận điều kiện cắt đất bồi thường, tiến cống nạp thuế… mà chúng ta đưa ra.

Tôn Tử trầm tư một lát, sau đó nói:

– Cứ như tình hình hiện nay, muốn làm cho đối phương tiếp thu nhiều điều kiện như thế quả thật là khó khăn, nhưng Tần là phía từ bên ngoài cứu viện, ở nước ngoài lâu ngày, tất sẽ nảy sinh tâm lý oán trách kêu ca, thử hỏi, có ai lại muốn thế mạng mình lâu dài ở nơi đất khách quê người? Đó là một nhược điểm chí mạng của quân địch, ta cần khéo léo lợi dụng..

Ngũ Tử Tư gật đầu khen phải, và nói thêm:

– Nguyên soái có diệu kế gì vậy?

Tôn Tử đáp:

– Ta phải đi trước một bước để hơn người, xuất kỳ bất ý mà trừng phạt, rồi tăng áp lực, ép chúng phải tiếp nhận tất cả các điều kiện của ta.

Thế là Ngũ Tử Tư và hai vua Đường – Thái mang quân đến Hán Thủy để mai phục, Tôn Tử cử gián điệp trà trộn vào trong đội ngũ địch tung ra tin đồn: “Lúc này, Ngô vương đang bị rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan, trong thì có nghịch tặc nổi loạn, bên ngoài thì Tần Sở đang liên quân chờ thời cơ là tiến công, Hạp Lư không làm thế nào hơn, sớm đã dẫn Tôn Tử và Ngũ Tử Tư về nước Ngô để dẹp nội loạn, hiện nay quân đội Ngô đóng giữ các nơi cũng đang chuẩn bị bỏ trốn”. Tin đồn đến tai Tử Tây, bất giác, hắn mừng như điên, nghĩ bụng, điều đáng sợ của quân Sở, là hai tướng Tôn Vũ và Ngũ Tử Tư, nay cả hai đều đã theo Ngô vương về nước dẹp loạn, quân Ngô giờ đang như rắn không đầu, muốn đánh ắt là không khó, không thể để lỡ dịp tốt, nên mang hết quân số để tiến công. Tử Tây nói lại với Cơ Liễn nguyên soái quân Tần về những ý tưởng đó của mình, Cơ Liễn hết lời tán thưởng, thế là liên quân Tần – Sở liền mở một cuộc tiến công mãnh liệt vào quân Ngô. Khi đến doanh trại quân Ngô, quả là thấy binh lính nước Ngô đang hoang mang rút lui, Cơ Liễn không nghi ngờ rằng có sự lừa bẫy, hạ lệnh truy kích toàn diện. Đuổi được chừng hơn hai mươi dặm, chợt nhìn lên đỉnh núi cao, Tôn Vũ đang phất cờ báo hiệu ra lệnh. Dưới sự chỉ huy của Tôn Vũ, quân Ngô mai phục nhất loạt xông lên ào tới như ong, vây chặt lấy Cơ Liễn. Quả là một viên mãnh tướng, giữa vòng vây mờ mịt đó, Cơ Liễn không hề tỏ ra run sợ, không kinh hãi, như rồng cuốn hổ vờn, đánh lại các tướng địch, càng đánh càng khỏe. Mặt khác, Tử Tây giao chiến với Ngũ Tử Tư lại yếu không bằng địch thủ, chỉ còn sức chống đỡ, không hề còn chút sức lực nào để đánh trả, vừa đánh vừa lui, tả tơi bỏ chạy, chạy mãi tới bên Cơ Liễn. Ngũ Tử Tư lao cây thương đâm Tử Tây, bị Cơ Liễn gạt phăng đi, quát lớn:

– Tên nhãi ranh muốn chết kia, đừng có khoe mẽ!

Ngũ Tử Tư cũng chẳng chịu lép, ngay sau khi quát mắng lại, đi từng bước tới trước mặt Cơ Liễn, cười vang ha hả:

– Ta là Ngũ Viên tiếng tăm lừng lẫy, đứa trẻ lên ba trong thiên hạ, cũng chẳng đứa nào không biết, hôm nay trước mặt người là kẻ vô danh tiểu tốt, ta muốn cho người biết chút oai phong.

Cơ Liễn từ lâu đã biết tiếng tăm của Ngũ Tử Tư, nay mới thấy mặt quả là khôi ngó dũng mãnh, không hổ thẹn được coi là danh tướng một thời, bất giác hắn mất hết nhuệ khí. Hai người giao chiến với nhau, lực lượng ngang nhau khó phân thắng bại. Bỗng nhiên, Ngũ Tử Tư hô lớn một tiếng, núi chuyển đất rung, cây đổ gỗ lao ào ào, cùng lúc ấy, cây thương dài từ trên lao tới. Cơ Liễn không kịp xoay mình, một thoáng lơ đễnh, cây thương rơi xuống đất, còn hắn cuống cuồng vỗ ngựa chạy trốn. Ngũ Tử Tư còn lại một mình đứng yên ở chỗ cũ, cũng không ra lệnh đuổi theo, để mặc cho hắn chạy đâu thì chạy, bởi vì Cơ Liễn thực ra cũng là những vị tướng hiếm thấy, người tài vốn trọng người tài, Ngũ Tử Tư không nỡ giết anh ta.

Trận đánh này, liên quân Tần Sở thua thảm hại, các danh tướng Sở như Tử Tây, Đấu Tân, Vương Tôn Điền, Thẩm Chư Lương vv.. đều tan tác bỏ chạy, trong rừng sâu, bỏ lại vô số xác chết.

Tàn quân bại tướng của liên quân Tần Sở tụ lại ở bờ đông Hán Thủy, trước hết Tử Tây đã tỉnh ngộ ra rằng do mình không biết rõ tình hình nên trúng kế, mắc lừa và chủ trương giảng hòa với quân Ngô, bởi vì không mong gì đánh thắng, thì giảng hòa còn hơn, tiến cống hay nộp thuế, trước hết hãy được sống cái đã, rồi sẽ tính sau. Các tướng gật đầu phụ họa, thế là sai Thẩm Chư Lương làm sứ giả hòa binh, đến doanh trại nước Ngô đàm phán. Vừa đến bản doanh của quân Ngô, Thẩm Chư Lương đã nói với Tôn Tử và Ngũ Tử Tư về mục đích sự có mặt của mình, khẩn thiết nói:

– Từ thời Đông Chu đến giờ, trung nguyên đã trở thành thế phân lập của mười sáu nước, tuy chiến loạn liên miên, nhưng cho đến giờ vẫn chưa có chuyện thôn tính lẫn nhau, bởi nước lớn cho dù có dã tâm mở rộng lãnh thổ, cũng không muốn mang tiếng là bất nghĩa. Nay nước Ngô đánh bại nước Sở, chưa đuổi hết giết sạch, lòng thành là chính sách nhân đức sáng suốt của Ngô vương, nước Sở từ trên xuống dưới không ai là không cảm động đến rơi nước mắt. Nay Sở vương sai tôi đến đây gửi lời chào tướng quân, nước tôi thành tâm xây đắp mối hòa hảo, cầu mong tướng quân hãy tiếp nhận cho.

Đó chính là điều mà Tôn Tử và Ngũ Tử Tư trông đợi, nước Sở đã chủ động nêu ra, hai vị tướng quân cùng tỏ ra thể tình, qua mấy lấn bàn bạc, đã đi đến một hiệp nghị, cuộc chiến tranh Ngô Sở kéo dài hai năm trời, đến đây coi như chấm dứt.

Nguyễn Bá Thính
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Tào Nghiêu Đức

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.