Tôn Tử Truyện

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 55 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Xxxiii Đào Mả Đánh Thây – Xây Mồ Tế Tổ
Chương Xxxiii Đào Mả Đánh Thây – Xây Mồ Tế Tổ

❊ ❊ ❊

Ngày thứ hai sau khi đánh được nước Sở và vào Sính đô, Hạp Lư liền sai người đi phá huỷ tông miếu của nước Sở. Cùng lúc ấy, Ngũ Tử Tư đã sửa soạn hương nến đến trước mộ của cha anh mình khóc lóc và tế bái, an ủi cho vong linh của cha anh và đông đảo những hồn ma oan khuất. Mộ của cha con Ngũ Xa, vì mười sáu năm nay Ngũ Tử Tư lưu lạc nước ngoài, vừa không có người thân tế tảo, lại không luôn được đắp điếm sửa sang, chỉ còn lại là hai ụ đất, nếu không có những người dân lén lút tới đắp cho dăm ba hòn đất, e rằng sớm đã bị mòn mỏi thành đất phẳng mất rồi. Nhìn cảnh ấy Ngũ Tử Tư bất giác thêm thương tình, định sẽ xây cất sửa sang phần mộ, xây lại lăng để cho cha anh và họ hàng được yên tâm thoải mái, mát mặt yên nghỉ dưới đất sâu. Tế lễ xong, Ngũ Tử Tư còn chưa chịu rời gót, đứng trước cảnh hoang vắng trước mắt, bất giác ông thấy rưng rưng lệ nhoà: Hơn chục năm nay, một mình xuôi ngược bôn ba, trải đủ mọi nỗi gian nan khảm khắc, đến cuối cùng hy vọng bỗng thành mây khói. Lúc này đây, tuy tiếng là đã đánh vào được đến Sính đô, phá được tông miếu của nước Sở, cũng coi như là trút được một phần oan uổng, thế nhưng Sở Bình vương và Phí Vô Cực đều đã chết, Sở Chiêu vương trốn mất biệt tăm, nỗi niềm mong mỏi được trả nợ nước thù nhà còn chưa toại nguyện. Muốn trả được món nợ máu sâu sắc ngày nào, ắt phải chạm được lưỡi dao vào đầu vào cổ kẻ thù, thế nhưng lúc này, kẻ thì chết, kẻ thì trốn mất, biết làm sao đây? Chẳng lẽ đeo đuổi đến đây rồi đành bỏ dở? Không được! không bắt sống được thì cũng nhìn thấy hắn chết, tìm xác của Sở Bình vương rồi dùng cái đạo mà hắn đã dùng nó để hại người, bây giờ lại hại cho bản thân hắn. Cắt lấy cái đầu hắn xuống, tán ra thành bột, sau cùng mang tới đây để tế các vong linh, an ủi những bậc trung thần, như thế mới hả được một hận trong tim. Ngũ Tử Tư dứt khoát với ý định của mình rồi, liền đi tìm gặp Ngô vương Hạp Lư:

– Thần đi theo đại vương, góp sức khi có chiến sự, đi đến đâu giặc tan đến đó. Ngày nay, kinh đô nước Sở đã bị ta chiếm giữ, tất cả mọi thứ như núi non, sông ngòi, ruộng đất, của cải, phố phường, cung điện, báu vật và cả đến con gái đẹp vv.. của nước Sở, đều trở về tay đại vương, riêng thần đây, thù nhà chưa trả được, biết bao điều hối tiếc, xin đại vương hãy để cho thần được thực hiện cái sở nguyện chưa thành đó của mình.

Hạp Lư ra chiều đăm chiêu suy nghĩ, sau đó liến thoắng nói:

– Quả nhân thừa biết điều sở nguyện đó của ái khanh thế nhưng Bình vương thì chết rồi, quả nhân những muốn bắt sống được Chiêu vương, rồi để ái khanh tận tay chém hắn, nhưng không ngờ hắn lại trốn được ra nước ngoài, không biết nên làm thế nào bây giờ.

Ngũ Tử Tư cương quyết lắc đầu, nói dứt khoát:

– Bình vương tuy đã chết, nhưng mối thù giết cha của hắn với hạ thần, là không đội trời chung, niềm uất hận đó chẳng bao giờ phôi pha.

Hạp Lư mềm mỏng hỏi lại:

– Vậy theo ý của ái khanh lúc này thì làm thế nào mới có thể báo thù rửa hận được?

Ngũ Tử Tư vái rạp xuống đất, nói:

– Tha thiết mong đại vương ân chuẩn, thần muốn đào mồ Sở Bình vương lên, phơi thây hắn ra, rồi dùng dao chém. Nếu không như thế, khó mà trả được mối thù hận của cha anh và hơn ba trăm người nhà phải chịu chết oan.

Hạp Lư nghe nói thế, bỗng rùng mình. Mối thù sâu tựa biển của Ngũ Viên, không thể không báo, nhưng đào mả phơi thây, thì từ thượng cổ đến nay chưa ai nói đến, dù sao cũng có điều quá ư tàn nhẫn… thế nhưng đánh Sở phen này, Ngũ Viên là người có chiến công nổi trội, huống hồ không có Ngũ Viên cũng chẳng có Tôn Tử, cũng chẳng có công lao đánh tan nước Sở mà vào Sính đô, sao có thể từ chối lời hỏi đến của một công thần? Hạp Lư nghĩ trong bụng như thế, bèn tỏ ra gắng gượng trả lời:

– Nếu không như vậy, khó mà hả được nỗi uất hận trong lòng, thôi cứ theo như ý của Ngũ đại phu mà làm vậy!

Đã được Ngô vương ân chuẩn cho lời đề nghị của mình, Ngũ Tử Tư lập tức đến núi Tây Long để tìm lăng tẩm của Sở Bình vương. Núi Tây Long là nơi nhiều đời vua nước Sở lấy làm nơi để lăng mộ, từng lớp, từng hàng, từng ngôi mộ một, cao to hùng vĩ, lặng lẽ trang nghiêm, tựa hồ như một nẻo phố phường. Trước mỗi ngôi mộ đều có bia mộ, Ngũ Tử Tư đi dò từng tấm bia, xét từng ngôi mộ mà chẳng thấy ngôi nào mang tên của Bình vương. Ngày hôm sau, Ngũ Tử Tư lại mang theo mấy người tâm phúc theo hầu, lệnh cho họ mỗi người mang theo một cây choòng sắt, tiếp tục đi tìm lăng mộ của Sở Bình vương. Vừa đi dò hỏi, nghe dân chúng bảo rằng, mộ của Sở Bình vương thì nhiều vô kể, bên ngoài bốn cửa nam bắc tây đông nơi nào cũng có, đều ở cách thành hàng chục dặm đường. Mộ lại xây vừa cao vừa to, như một quả gò, ngay từ xa đã có thể nhìn thấy. Thế nhưng những ngôi mộ ấy đều là mộ giả cả, Ngũ Tử Tư sai người thử đào ra xem sao, trong quan cách đều thấy trống không đừng nói xác người, ngay đến một mẩu xương cũng chẳng có. Ngũ Tử Tư sai người tìm tư cửa đông sang cửa nam rồi lại từ cửa tây tìm sang cửa bắc, đào tung lên đến mười mấy chỗ, ngôi nào cũng thế.

Lăng mộ của Sở Bình vương xây dựng vừa đúng ba năm, ông ta thừa biết rằng có quá nhiều người thù ghét mình, e rằng sau này mình chết đi, sẽ có kẻ đến đào mồ cuốc mả, huỷ xác phơi thây, cho nên toàn bộ công trình xây dựng làng mộ đều làm bí mật, chẳng những dân chúng ở Sính đô không ai được biết, mà ngay các quan văn võ trong triều, nội thị trong cung cũng không ai rỏ. Bận rộn liên tục một số ngày, Ngũ Tử Tư vẫn chưa cam chịu, trở vào trong cung dò hỏi những thái giám tuổi cao cũng như những cung nữ lớn tuổi. Có hai thái giám nói rằng, nghe đâu mộ của Bình vương để ở vùng hồ Liêu Đài ngoài cửa đông thành, cụ thể ở vị trí nào của hồ, thì không được rõ, vì lúc bấy giờ chẳng ai được tới đó. Ngũ Tử Tư nghe tin, mừng hết chỗ nói, lập tức mang theo quân hầu qua cửa đông đi thẳng tới vùng hồ Liêu Đài.

Hồ Liêu Đài ngang dọc mỗi bề hơn chục dặm. Ngũ Tử Tư đứng ở bên hồ đưa mắt nhìn ra xa, chỉ thấy nước hồ mênh mang, bốn phía bờ hồ chỉ thấy toàn là rừng cây bụi cỏ, ngay một mô đất nhỏ, cũng không nhìn thấy, lấy đâu ra mộ với lăng? Chẳng lẽ hai vị thái giám ấy nói xằng, không bao giờ! Họ không dám thế. Ngũ Tử Tư tung mình xuống ngựa, những người theo hầu cũng lần lượt xuống theo, cùng với Ngũ Tử Tư đi tìm thật kỹ một lượt ven hồ, xem có thấy dấu vết gì là lăng mộ. Một đoàn cả chục con người, từ sáng sớm tìm đến chiều tối, kết quả là tay không lại vẫn tay không, Ngũ Tử Tư bất giác thương tâm mà rơi lệ. Tên sống không bắt được, đứa chết rồi cũng không tìm thấy, lẽ nào chịu để oan chìm đáy biển, vĩnh viễn không có ngày trả thù hay sao? Mười sáu năm trời nay, ông phải ngậm đắng nuốt cay, râu tóc đều bạc trắng, chỉ mong sao có ngày đánh được nước Sở mà vào Sính đô, nào ngờ ngày mong mỏi ấy đến được, lại không trông mong gì trả được thù nhà!… Thấy Ngũ Tử Tư thương tâm khóc lóc như một đứa trẻ, một trong những người đi hầu đã bước ra khuyên:

– Xin tướng quân hây lau khô nước mắt, trời cũng đã tối rồi, tạm thời về phủ nghỉ ngơi, ngày mai lại đến tiếp tục tìm nữa, tìm thấy đương nhiên là tốt, nhược bằng tìm không thấy, thì tướng quân cũng đã lo tròn chữ hiếu, dưới cửu tuyền, lão thái sư và lệnh huynh cũng không trách gì tướng quân.

Ngũ Tử Tư buông một tiếng thở dài, thấy mặt trời đã khuất sau rừng, màn đêm đã buông, đành ra lệnh kéo nhau về phủ, ngày mai lại ra tìm. Tìm luôn như thế ba ngày, không có một chút kết quả gì, Ngũ Tử Tư uất ức trong lòng, đùng đùng nổi giận, trở về đến phủ, lệnh cho người thư ký thảo ra một tờ yết thị, rồi chép ra nhiều bản, dán khắp hang cùng ngõ hẻm. Nội dung yết thị là: “Bản tướng đang muốn tìm mộ của Sở Bình vương, ai biết ở chỗ nào, đến báo cho biết ngay, ắt sẽ được trọng thưởng; kẻ nào biết mà không báo, sẽ bị giết cả nhà. Nếu trong ba ngày không có người đến báo mộ của Sở Bình vương, bản tướng sẽ cho cả Sính đô này tắm máu”, dưới cùng là chữ ký của Ngũ Tử Tư. Các bậc trung liệt mấy đời của họ Ngũ, từng có công lớn với nước Sở. Sở Bình vương nghe lời sàm tấu của Phí Vô Cực, giết cha con Ngũ Xa và cả nhà ông hơn ba trăm người một lúc, đã gây nên trong cả nước từ trên xuống dưới một làn sóng bất bình đối với Sở Bình vương, sự căm ghét đối với Phí Vô Cực, sự đồng tình và quan tâm với cảnh ngộ của Ngũ Tử Tư. Thế nhưng sau này vì muốn báo mối tư thù của mình, Ngũ Tử Tư đã phản lại tổ quốc, giúp Ngô vương nhiều lần đem quân đánh nước Sở, khiến cho ruộng vườn của hàng ngàn hàng vạn dân lành vô tội của nước Sở bị huỷ hoại, đồng đất hoang vu, lưu lạc tan tác, đói rét khóc than, dân chúng từ lâu đã trở nên oán ghét Ngũ Tử Tư. Ngày nay Ngũ Tử Tư lại một lần nữa dẫn quân Ngô về đánh nước Sở vào Sính đô, huỷ hoại tông miếu của nước Sở, làm cho sinh linh của nước Sở chịu bao nỗi lầm than, từ chỗ oán ghét, dân chúng đã đi tới chỗ coi Ngũ Tử Tư là kẻ thù không đội trời chung với họ, xem những dòng yết thị đó, lại càng xem Ngũ Tử Tư như nước lũ, như thú dữ, một là run sợ kinh hãi, hai là căm ghét thù oán, nhao nhao lên chửi bới. Người này bảo: “Dưới con mắt Ngũ Viên lúc này, trăm họ không hơn gì dê chó, muốn đánh thì đánh, muốn giết thì giết”. Người kia nói: “Ngũ Viên chỉ hù doạ vậy thôi, cho rằng có biết mộ của Bình vương ở đâu, cũng không nói cho hắn biết, chẳng lẽ hắn lại có thể giết được hết dân chúng ở Sính đô nay sao”. Lập tức lại có người thứ ba phụ hoạ: “Đúng! Trước mặt cái tên còn hung hăng bạo ngược hơn sói lang này, dân chúng cần phải cứng cỏi lên. Nếu có kẻ nào đó đi báo với hắn lăng mộ của Bình vương ở đâu, thì chúng ta hãy giết kẻ ấy trước”… Đông đảo dân chúng mỗi người một câu, nỗi uất ức trong lòng họ như bật tung ra theo từng câu nói, kết quả là ba ngày hẹn qua đi, Ngũ Tử Tư cũng chẳng hề nhận được tin tức gì. Đang giữa lúc Ngũ Tử Tư căm tức như bầm gan tím ruột, muốn tắm máu Sính đô, thì có một cụ già tóc bạc, tuổi ngoài tám mươi, lưng gù rạp, lóc cóc đi một mình đến phủ thái sư thăm Ngũ Tử Tư. Thấy vị khách không mời mà đến này, Ngũ Tử Tư kinh ngạc hỏi:

– Lão trượng đến thăm, chẳng hay có việc gì vậy?

Cụ già tóc bạc thở hổn hển, bước vào khỏi cửa là ngồi bệt xuống đất, một lúc lâu mới nói từng câu nhát gừng:

– Thảo dân người ở ngoại thành, nay thấy tướng quân nổi giận, muốn tắm máu cả Sính đô này, nên vội vàng đến đây, mà không biết dân chúng Sính đô đã mắc tội gì?

Giọng nói của cụ già tóc bạc nghe ra có vẻ rất ôn hoà, nhưng vẫn hàm chứa sự trách móc. Ngũ Tử Tư thấy ghét quá, đã định sai người xua đi, nhưng thấy tuổi tác ấy vẻ mặt ấy, linh cảm như rất có thể cụ là người biết chỗ để mộ của Bình vương, thế là đành nén giận, kiên nhẫn giải thích:

– Tôi là hậu duệ của họ Ngũ, năm đời trung thần, ngày nay về kinh đô, dân chúng trong thành chẳng những không chiêng trống đón mừng, ngược lại cứ làm như gặp hổ gặp báo, sợ hãi lảng tránh hết. Tôi muốn trả thù cho cha anh và hơn ba trăm con người trong gia đình bị giết hại, trọng thưởng cho người nào đến báo cho biết mộ của Sở Bình vương ở đâu, thế nhưng, đã ba ngày rồi, cũng chẳng có ai giúp bản tướng một tay, cái bọn ngu muội bướng bỉnh không biết đâu thiện đâu ác, chẳng hiểu thế nào là nghĩa lý ở đời, để chúng phỏng có ích gì, cho nên định giết hết…

Nghe hết những lời Ngũ Tử Tư nói ra, cụ già tóc bạc gật gù ngẫm nghĩ và nói:

– Tướng quân cuống quít sôi sục lên đi tìm mộ của Sở Bình vương, không hiểu là có ý gì không?

Ngũ Tử Tư nghiến răng nghiến lợi nói:

– Đào mộ hắn lên, phơi thây hắn ra, chém đầu hắn chứ còn làm chi nữa!

Cụ già ngạc nhiên không nói, mãi sau mới thốt lên:

– Ôi! Tướng quân lầm rồi!

Ngũ Tử Tư hầm hầm nói:

– Lão già vô tích sự, sao dám nói bậy nói bạ! Có biết mộ của Sở Bình vương ở đâu thì nói ra mau; không biết, thì cút ngay!

Ngũ Tử Tư nói những lời làm mếch lòng người như vậy, nhưng cụ già vẫn không để ý, thành khẩn khuyên nhủ:

– Xin tướng quân hãy tạm cho nguôi giận, người xưa đã có câu, quân tử có thù ai, người ấy chết thì thôi. Nay tướng quân muốn đào mồ của người thù địch, phơi thây họ, chém đầu họ… thực ra thế là trái với lẽ thường đấy!

Đang tức đấy ruột đời nào Ngũ Tử Tư chịu nghe theo lời khuyên của cụ già, bèn quát lên:

– Đào mồ phơi thây, tự tay ta chém đầu lâu Sở Bình vương, ý ta đã quyết, chớ có nói gì thêm.

Thấy Ngũ Tử Tư ngoan cố bướng bỉnh, cụ già nghĩ rằng có khuyên cũng chẳng ăn thua gì, nhưng vẫn liều chết khuyên một điều:

– Bình vương tuy là ông vua không lấy gì làm nhân đức, giết lầm cha của tướng quân và hơn ba trăm người trong nhà, tội ác không thể đổ cho ai được, tuy nhiên tội đáng chém không tha, là ở tên gian tặc Phí Vô Cực. Cứ cho là lầm lỗi ở như một mình Sở Bình vương, thì vua có giết tôi, cũng như cha giết con mình, làm gì có con nào lại đi đào mả cha mình mà phơi thây ra vậy? Huống hồ, ngày nay tướng quân đã đánh diệt nước Sở, huỷ hoại cả tông miếu Sở cũng coi như đã báo được thù, rửa được hận rồi. Còn không cứ ân ân oán oán thế này, báo thù lại rồi rửa hận đi, biết đến bao giờ mới thôi. Cứ cho rằng Bình vương ác độc không thể tha, có đào mồ, phơi thây, cũng mới đáng tội, nhưng việc ấy nào có dính dáng gì đến dân chúng, nay tướng quân định tắm máu cả kinh thành Sính đô, giết chết người vô tội, thì là lẽ gì? Tướng quân nên biết rằng, nước Sở là nơi chôn nhau cắt rốn của mình, là đất ông bà cha mẹ, dân chúng ở Sính đô là đồng bào, là anh em ruột thịt của mình sao có thể manh động mà chém giết?

– Đủ rồi! – Ngũ Tử Tư giận dữ quát lên một tiếng cắt ngang lời khuyên bảo ân cần thiết tha của cụ già tóc bạc – Bản tướng đã nói trước rồi, ý ta đã quyết, còn dám nhiều lời, thì giết ngươi trước để tế đao.

Cụ già lại thở dài sườn sượt, mãi sau mới nói:

– Nếu cuối cùng vẫn không tìm ra mộ của Bình vương ở đâu, thì tướng quân làm thế nào?

Không hề do dự, Ngũ Tử Tư liền đáp:

– Quân lệnh đã ra, tuyệt đối không sửa lại, nếu cuối cùng không thấy được xác của Bình vương, thì ta sẽ cho Sính đô tắm máu.

Cụ già tóc bạc thấy Ngũ Tử Tư vẫn như một hòn đá ngang ngạnh, cho dù có nói rát cổ bỏng họng, cũng khó làm cho ông có thể gật đầu. Vì an toàn tính mệnh cho con dân trong toàn kinh thành, vạn bất đắc dĩ, đành nói như dằn dỗi:

– Già này những muốn thuyết phục tướng quân nên mới đến đây, nhưng thấy tướng quân lòng dạ đã như sắt đá thế này, đành phải nói cho tướng quân biết nơi để mộ của Sở Bình vương.

Ngũ Tử Tư nghe nói, mặt mày bỗng rạng rỡ hẳn ra, vội vàng quỳ mọp xuống đất, quay về phía cụ già rập đầu lia lịa nói:

– Xin lão trượng hãy nói ra, ân tình này, bản tướng đến chết cũng không quên.

Cụ già ngó mông ra phía xa, hồi lâu sau mới xót xa nói từng tiếng một:

– Mộ của Sở Bình vương, không ở trong lăng mộ vương thất ở núi Tây Long, mà ở trong hồ Liêu Đài.

Ngũ Tử Tư lạ lùng hỏi:

– Có nghĩa là ở dưới nước hồ sao?

Cụ già khẽ gật đầu.

– Đúng là ở phía dưới nước hồ.

Trên gương mặt của Ngũ Tử Tư bỗng hiện lên những nét hồ hởi vui mừng:

– Hèn nào mà ta mang người đi tìm khắp vùng bờ hồ Liêu Đài, chẳng hề phát hiện ra một chút dấu vết gì của lăng mộ hết – Với khẩu khí như bàn bạc, ôn hoà nhã nhặn hỏi cụ già – Lão trượng có ưng dẫn đường tới đó được không?

Cụ già miễn cưỡng gật đầu. Cụ đành phải thế, bởi vì không tìm ra lăng mộ của Bình vương, Ngũ Tử Tư sẽ bắt cả kinh thành Sính đô tắm máu.

Ngũ Tử Tư bỗng dưng quay ra kính trọng cụ già tóc bạc, thấy cụ tuổi cao sức yếu, đi lại khó khăn, xếp cho cụ ngồi trên cỗ xe ngựa trang trí rất diêm dúa đi ở hàng đầu, thực tế là làm nhiệm vụ dẫn đường, phía lưng ngựa mang theo sau mấy trăm binh lính, rầm rầm đổi dạng, mặt hồ mênh mang như không bến không bờ, nước hồ trong xanh ngăn ngắt, trên hồ đảo lớn đảo nhỏ nhấp nhô như trong tranh vẽ, tuy giữa ngày đông tháng giá, nhưng vẫn một màu nước biếc non xanh, sắc trời rực rỡ, vắng vẻ và u nhã. Tuy thế, nhưng chẳng ai còn bụng dạ nào mà ngắm nước ngắm trời, Ngũ Tử Tư sốt ruột hỏi cụ già:

– Mộ của Bình vương ở đâu?

Cụ già tóc trắng từ từ xuống khỏi xe, Ngũ Tử Tư cũng vội vàng xuống ngựa, cụ già đi trước, mọi người đi tiếp theo phía sau, lần theo ven hồ quanh co đi lên phía trước, đi chừng hơn mười dặm thì dừng chân, trước mắt là một vách đá lớn đột ngột nhô lên, cụ già đưa tay ra hiệu, nói một cách dứt khoát:

– Đấy! Dưới những lớp đá kia là lăng mộ của Bình vương!

Ngũ Tử Tư ra lệnh một tiếng, bọn lính thuỷ xông vào đào núi đục đá, chí cha chí chát mấy hôm, cuối cùng đã đục thủng được lớp đá ấy, hiện ra phía trong, là một chiếc hang sâu. Hang tạo thành hình vuông, người có thể đứng thẳng mà đi trong đó. Đi vài chục bước, bỗng lối đi hẹp lại và thành hình tròn, phải phủ phục xuống mà bò mới qua được. Ngũ Tử Tư hạ lệnh, binh lính nhất loạt phải bò xuống đất, nối nhau như đàn cá trườn đi. Qua cái động tròn, lối đi lại rộng ra, nhưng tối như bưng, chỉ có mỗi một chùm tia sáng từ cửa động chiếu vào, thế nhưng càng lên phía trước, ánh sáng càng yếu đi, rồi dần dần hoàn toàn mất hẳn, người như đứng trong cái thùng sơn đen, đưa tay ra không nhìn thấy ngón, phải đốt đuốc, mới tiếp tục đi lên được phía trước. Vách động tạo thành chiều dốc xuống, xuyên thẳng xuống đáy hồ, người đi trong động, y như lúc xuống dốc, hết sức nhẹ nhàng. Trong hang động âm u đáng sợ, ẩm thấp như trong chiếc lồng hấp, đi một lát, quần áo đã ướt sũng, nước nhỏ ròng ròng; tiếng động không có chỗ lan toả, cho nên khẽ động vào đâu là vang lên như sấm rền, nói chuyện với nhau, chỉ thấy tiếng ùm ùm, không phân biệt được giọng nói và nội dung. Càng về phía trước, không khí như càng loãng thêm ra, người nào người nấy ngột ngạt, ai ai cũng thấy tức thở, và như vậy, để thở được mà sống cũng đã khó rồi, nói chi đến phải làm việc vất vả. Không biết đi như vậy bao lâu, thì đến chỗ tận cùng của hang động, chỗ này không gian cao rộng, tựa như một sảnh đường chính giữa đặt một chiếc quan tài đá, chế tác rất tinh vi, hoa văn cầu kỳ, bóng bảy như mài dũa. Ngũ Tử Tư và cụ già tóc bạc không thể bò vào hang, nên đứng đợi ở ngoài. Giữa lúc họ chờ đợi quá sốt ruột, không thể chịu được nữa, thì có hiệu uý vào báo, nói lại mọi điều đã thấy trong hang. Ngũ Tử Tư lệnh quân lính đưa chiếc quan tài đá ra ngoài hang để sau sẽ xử trí. Ngũ Tử Tư chỉ tay ra lệnh thì dễ, nhưng binh lính xê dịch chiếc quan tài đá ấy mới là việc khó. Một là do không khí loãng nên họ thấy khó thở, người nào người nấy há miệng ra mà hớp như cá, mặt mày tái mét, chốc chốc lại thấy chóng mặt buồn nôn, chân tay rời rã; hai là trở ra ngược đốc, chẳng khác nào phải khiêng nặng mà leo núi; ba là lòng động quá hẹp, không có cách nào đưa quan tài ra lọt. Cũng may mà nhờ có đông người, vất vả hì hục mãi rồi cũng đưa được chiếc quan tài ra cửa hang rồi đưa đến bờ hồ Liêu Đài. Thế nhưng khi cậy nắp quan tài ra xem, nằm trong đó không phải một cái thây người, mà là một pho tượng đồng, mình mặc đồ tơ lụa của vương công, vẻ mặt hao hao Sở Bình vương. Ngũ Tử Tư vừa nhìn thấy, cơn giận ở đâu lại kéo đến đùng đùng, dằn từng tiếng hỏi cụ:

– Nói mau! Sao lại thế này?

Cụ già cúi đầu nhìn xuống đất, ngửa đầu nhìn trời hay thả mắt nhìn ra hồ, im lặng không nói. Ngũ Tử Tư thấy thế, lửa giận càng bốc cao, “xoảng” một tiếng, rút cây thất tinh bội kiếm ra, dí sát mũi kiếm vào cổ họng cụ già, gầm rít lên:

– Đồ điên cuồng to gan mật lớn, lại dám trêu bản tướng à, không thể tha ngươi được!

Lúc này chỉ cần đốc kiếm trong tay Ngũ Tử Tư khẽ nhích là cụ già sẽ nhắm mắt tắt hơi. Thế nhưng ông ta không làm thế, tay cầm đốc kiếm bỗng từ từ rời xuống rồi buông thõng, bởi ông ta đã nghĩ lại, giết cụ già này đi, thì có thể không còn ai bảo cho biết mộ của Bình vương thực sự đặt ở đâu. Theo bản năng, Ngũ Tử Tư đờ đẫn nhìn vào mặt cụ già, không ra thương hại, không ra thù ghét, không ra đòi hỏi mong muốn gì ở đó. Còn cụ già thì nét mặt như sắt lại thủng thẳng từng lời, thận trọng hỏi lại:

– Già này muốn hỏi lại Ngũ tướng quân một câu, vậy chứ tại sao mà lại cứ khăng chém thây Sở Bình vương bằng được như thế?

– Không như thế, thì không hả được giận trong lòng!

– Làm gì cũng nên dừng cho đúng lúc, chó cùng hay rứt giậu, Ngũ tướng quân hiểu thấu điều đại nghĩa, mà tại sao lại không thông một chút lẽ thường này?

– Bản tướng đã quyết trong lòng, còn chưa đạt mục đích, quyết sẽ chưa thôi.

Một lần nữa cụ già lại thở dài sườn sượt, vuốt nhẹ chòm râu bạc bay trước ngực, nói:

– Già này tám mươi hai tuổi rồi, chết cũng chẳng tiếc, chỉ có điều dân chúng Sính đô thử hỏi có tội gì?

Cũng có thể Ngũ Tử Tư bất chợt nhận ra rằng, không giết mấy người dân Sính đô, thì lão già này chưa chịu nói ra sự thực. Cũng có thể lời nói của cụ già đã thức tỉnh con người này, ông ta tra kiếm vào bao, lệnh người lên ngựa cấp tốc về thành bắt một số dân thường mang ra đây. Thế rồi cũng chỉ chừng thời gian ăn xong một bữa cơm, cả chục người dân vô tội bị bọn lính Ngô hung hăng như hổ như sói trói tay giải đến, trong đó có những cụ già trạc tuổi xưa nay hiếm, có trẻ nhỏ mười mấy tuổi và có cả phụ nữ mang thai sắp đến ngày sinh. Ngũ Tử Tư ghé sát một ông già quát hỏi:

– Yết thị của bản tướng, ngươi có đọc không?

Ông già lụng bụng thủng thẳng đáp:

– Không đọc, chỉ nghe người ta nói lại thôi.

– Đã nghe người ta nói, tại sao không đến báo cho bản tướng biết lăng mộ của Sở Chiêu vương ở đâu?

Ngũ Tử Tư hỏi vặn lại.

Ông già không ngờ rằng Ngũ Tử Tư có thể hỏi ông như thế, vội giải thích luôn:

– Tướng quân lầm rồi, tôi là người nước Tần, con trai tôi buôn bán ở Sính đô, tôi mới ở nước Tần sang đây được nửa tháng nay, làm sao mà biết được lăng mộ của Sở Bình vương ở đâu?

Bị hỏi vặn đến ớ cả người ra, Ngũ Tử Tư giận quá hoá càn, quát:

– Thằng cha gian ngoan xảo quyệt này, lại dám bịa chuyện ra, để lừa bản tướng, thật đáng ghét quá thôi! – Nói xong, rút kiếm ra xỉa đúng tim ông già, một tiếng rú thảm thiết vang lên, ông già ngã trên vũng máu.

Ngũ Tử Tư liếc nhìn sang chỗ cụ già tóc bạc, chỉ thấy ông cụ cúi gằm đầu xuống, hai mắt nhắm chặt, như ngây như dại. Chờ một lát sau, Ngũ Tử Tư lại bước tới một người đàn ông đứng tuổi, hỏi:

– Ngươi thì biết tội chứ?

Người đàn ông ấy ném trả Ngũ Tử Tư một cái nhìn bằng đôi mắt trắng, thẳng thắn đàng hoàng nói:

– Tôi là một người nhà quê thật thà như đếm, suốt ngày,dậy sớm thức khuya để làm đồng, có tội gì mà biết?

Ngũ Tử Tư làm ra vẻ quan trọng nói:

– Bố người làm đao phủ thời Sở Bình vương, mười sáu năm trước từng chém đầu cha và anh ta. Xưa nay nợ của cha thì con phải trả, lại còn nói không có tội.

Nghe Ngũ Tử Tư nhắc đến tội danh ấy, người đàn ông thấy dở khóc dở cười nói:

– Tôi năm nay ba mươi sáu tuổi, ba tuổi đã mất cha, thành trẻ mồ côi. Cha tôi cũng làm ruộng suốt đời, chưa bao giờ làm đến chức đao phủ đao phiếc gì cả, mười sáu năm trước làm sao chém được đầu cha với đầu anh tướng quân?

– Ái chà thằng nhà quê cáo già này ghê nhỉ – Ngũ Tử Tư trợn mắt lên như hai cái chuông đồng, tiếng gầm như sấm, vung kiếm lên, ánh thép loé ra sắc lạnh, người đàn ông lập tức đầu lìa khỏi cổ, máu tuôn như xối.

Lại liếc sang cụ già râu bạc, thấy cụ ngoảnh mặt đi, nước mắt chan hoà.

Ngũ Tử Tư lại đến gần người đàn bà bụng chửa vượt mặt, nghiến răng lại nói:

– Không trách được từ khi vào Sính đô đến giờ, việc gì của ta cũng trắc trở, hoá ra đều tại cái xúi quẩy này đây – Vừa nói vừa định đưa kiếm ra mổ bụng người đàn bà…

Cụ già tóc bạc chợt quay lại, kêu lớn:

– Ngũ tướng quân hãy dừng tay! – Tiếng kêu như núi lở, như đất nhào, những người quanh đó chẳng ai là không giật mình kinh hãi. Cụ già quỳ xuống đất van lạy, hai tay khum lại, mặt ngửa lên trời cầu khẩn:

– Hỡi trời cao, sao lại để một mình tôi sống trên đời! Hời đất dày! Sao lại xui khiến để có mình tôi biết điều bí mật này!

Ngũ Tử Tư lại tỏ ra ôn tồn:

– Trời để sống mình ông, để giúp ta trả thù cho cha anh ta, đó là ý trời vậy!

Ngũ Tử Tư một lòng muốn trả thù cho cha anh, thế nhưng, rồi ai là người trả thù cho hai cái thây vô cớ bị giết hại nằm kia? Cụ già khóc rống lên thảm thiết và vật vã như không thiết sống:

– Ôi trời ắt quở ta thôi!…

Ngũ Tử Tư hằn học nói:

– Ngươi chỉ biết sợ trời quở, lẽ nào không lo bị người giết hay sao? Còn không nói thực ra, bản tướng sẽ giết hết những người này.

Không còn cách chọn lựa nào khác, vả lại cũng không thể nhẫn tâm nhìn hàng con cháu của mình trong toàn kinh thành đầu rơi máu chảy, cụ già tóc trắng đành phải nói thực với Ngũ Tử Tư về địa điểm thực của lăng mộ Bình vương. Sở dĩ cụ già lần lữa không chịu nói ra sự thực, cũng không phải chỉ vì riêng một việc là giữ nguyên lành thi thể cho Sở Bình vương, mà ở một mức độ lớn hơn là vì đông đảo dân lành vô tội. Cụ đã nói rõ với Ngũ Tử Tư: Phải dời toàn bộ dân chúng trong vòng mười dặm phía nam hồ đi nơi khác rồi mới chịu chỉ rõ, nếu không, cho dù có đem cụ ra lăng trì xé xác, cụ vẫn giữ miệng kín như bình! Chém giết bừa bãi những người dân lành ở Sính đô, chẳng có ích lợi gì cho công việc, bởi vì, trên đời này chỉ duy nhất có mình cụ biết nơi để lăng mộ của Sở Bình vương. Ngũ Tử Tư cân nhắc đắn đo mãi, sau cùng đã nhận lời đề nghị đó của cụ, thông báo cho dân chúng ở trong vòng mười dặm của phía nam hồ, trong ba ngày phải dời đến ở chỗ khác. Ba ngày sau, cụ già tóc trắng còn chưa nói ra địa điểm thực sự của Lăng mộ Bình vương thì sẽ bỏ ông vào nấu trong vạc dầu.

Nguyên là, hồ Liêu Đài từ bắc tới nam hình thành dạng quả bầu nậm, đầu bắc lớn, đầu nam nhỏ lưng chừng thắt lại như eo lưng. Dưới sự chỉ dẫn của cụ già tóc trắng, trước hết Ngũ Tử Tư sai lính dùng túi cát lấp đầy chỗ eo hồ đó lại, để nó chia hồ ra làm nửa nam nửa bắc, hai nửa hồ không thông với nhau, sau đó lại đào ở đầu phía nam ra, thải hết nước hồ phía nam, lăng mộ chính của Bình vương đã lộ ra và nhìn thấy một cách dễ dàng.

Nghèo thì khó làm nhà, với lại ấm chỗ thì khó dời, tuy Ngũ Tử Tư nói xong đã cho người đi dán yết thị khắp nơi, dân chúng vẫn cứ nay lần mai lữa không chịu di chuyển chỗ ở. Cho nên ba ngày sau khi phá bờ xả nước, thì mười người dân may ra mới có một người dời nhà. Đê quanh hồ đã bị phá, nước lũ tràn về, mênh mông một giải, vườn ruộng ngập chìm, thôn làng nhà cửa tan hoang, trong những dòng nước mênh mang đục ngầu đó, nổi lềnh bềnh nào là kèo cột, cánh cửa, quần áo, đồ dùng và nhiều hơn cả là thi thể của người và súc vật, chen chúc nhau, chồng lấp lên nhau, tình cảnh thê thảm không nỡ nhìn. Người nào may mắn còn sống sót thì hoặc leo lên gò cao, hoặc leo lên cành cây, kêu trời kêu đất, thê thảm không sao tả xiết, có là sắt đá cũng phải rơi nước mắt…

Hồ phía nam đã tháo cạn nước, giữa hồ hiện lên khu lăng mộ hình vòm cung.

Trước hết, Ngũ Tử Tư sai lính gạt hết bùn đất và các tạp chất ở trên đỉnh mộ, sau đó bắt đầu khai quật khu mộ theo sự chỉ dẫn của cụ già tóc bạc. Sau khi bẩy đỉnh mộ lên, nhìn thấy phía dưới đó có một căn phòng vuông vuông, chính giữa phòng có một chiếc quan tài sơn đen rất to đặt trên bệ đá, mọi người đều cho rằng Sở Bình vương được liệm trong chiếc quan tài đó. Ngũ Tử Tư thấy thi thể của Sở Bình vương mà mình trông chờ tìm kiếm cả chục năm trời sẽ ở ngay trước mắt, nên đã sốt sắng lệnh cho quân lính mau mở nắp quan tài ra, nhưng cụ già tóc trắng lại bảo, chiếc quan tài ấy hoàn toàn trống rỗng, mộ thất chính lại ở bên dưới đó kia. Ngũ Tử Tư lệnh cho khiêng chiếc quan tài ấy sang một bên, đẩy chiếc bệ đá đi, mọi người xúm lại cậy tấm đá đó lên. Tấm đá ấy chính là một cánh cửa của con đường xuống mồ. Mấy chục con người xúm lại, mất bao nhiêu hơi sức cũng mới chỉ bẩy tấm đá lớn ấy ra một cái khe nhỏ, nhưng không sao nhấc nổi lên, bởi nó quá nặng. Ngũ Tử Tư thân hành mó tay vào, hai chân xoạng ra, bàn chân bấm xuống đất, hai cánh tay dùng hết sức bình sinh, một tiếng “kẹt” rít lên, sau cùng tấm đá cũng được kênh lên và đặt sang một bên, để lộ ra chiếc miệng hầm vuông chằn chặn. Từ cửa hầm bước xuống, là những bậc bằng đá, bên trong tối như bưng, chẳng thấy thứ gì. Ngũ Tử Tư lệnh cho đốt đuốc lên, cụ già tóc bạc vẫn đi trước dẫn đường, Ngũ Tử Tư và mọi người theo sát đằng sau, theo bậc đá lần bước xuống phía dưới. Đi thêm một quãng không xa, còn chưa bước hết những bậc đá, mọi người “ôi.” lên một tiếng, thấy trước mặt là những thây người chết ngổn ngang, chỗ thì ba bốn người dồn vào với nhau thành đống, nhìn rất rõ, trước khi chết họ đã ôm lấy nhau; có chỗ thì hai tay ôm ngực như có vẻ đã vật vã đau khổ; có những người khoác tay nhau, có người tựa lưng vào nhau, người thì ngửa lên, người thì sấp xuống, đủ hình đủ vẻ, không thiếu một tư thế nào. Tuy đó là từng đông xương trắng, nhưng từ những quần áo họ mặc trên mình còn chưa tan mục hết, hoàn toàn có thể phân biệt được ra đâu là cung nữ, đâu là nội thị, đâu là lính tráng, đâu là thợ thuyền, đâu là dân thường… Mắt nhìn thảm cảnh đó, có người khóc lên, có người chửi, có người vừa khóc vừa chửi, trong nháy mắt, tiếng khóc vang lên nức nở, tiếng chửi rủa râm ran không dứt. Mọi người len chân qua những xác chết đó đi về phía trước, tới một cung điện ngầm. Vào cửa cung, đến gian tiền điện, qua trung điện thì đến hậu điện, mỗi bước đi, đều thấy vô số đồ đá, đồ gốm, đồ vàng, đồ bạc… bày la liệt ở hai bên lối đi, lại còn biết bao nhiêu là rương là hòm, trong đó đựng cơ man nào là bạc vàng châu báu. Đến hậu điện, dưới ánh đuốc chập chờn, thấy lù lù một chiếc quan tài, mà do ba chiếc áo quan lồng vào làm một, lại thêm bề dày của gỗ nên nhìn ra mới lớn như thế. Ngũ Tử Tư ra lệnh cho lần lượt mở nắp những chiếc quan tài đó ra, khi mở đến nắp chiếc thứ ba, đột nhiên một mùi hương lạ xộc vào mũi mọi người, đủ thấy các thứ hương liệu bỏ vào trong đó nhiều đến nhường nào. Lớp nắp cuối cùng đã được lật ra, bỗng thấy Sở Bình vương áo mũ chỉnh tề đang nằm trong đó, chẳng những chưa thay hình đổi dạng lại chưa thối rữa, mà sắc mật lại vẫn hồng hào, làn da trắng nõn như còn tươi rói, hệt như một người đang nằm ngủ. Nhìn tận mặt kẻ đã biết cha anh mình và hơn ba trăm người trong nhà mình, Ngũ Tử Tư chợt thấy như một Sở Bình vương còn sống đang đứng ngay trước mặt, bất giác mi giương mắt trợn, lửa giận đùng đùng, chìa tay phải ra, thộp lấy ngực Sở Bình vương, miệng chửi:

– Tên hôn quân! Mày cũng có ngày hôm nay à? – Thuận đà lôi cái thây từ trong quan tài lên, hai tay nâng lên cao rồi căm giận vứt xoài ra đất. Ông ta đang định đưa tay rút thanh kiếm thất tinh đeo bên mình ra, cắt lấy đầu của Bình vương, đem đến trước mồ của cha anh mình để tế vong linh, nhưng lại thấy làm như vậy chưa hả giận, thế là rút từ bên cạnh sườn mình ra mấy cái roi đồng, theo tiếng hô “hôn quân, hãy chịu đòn” roi đồng tới tấp như mưa trút xuống cái xác của Bình vương, đánh liền một chập hơn ba trăm roi, cho đến lúc đánh nát cả quần áo, bay cả thịt da của Bình vương đi, ngay xương cốt có cái cũng bị gẫy tan… lúc ấy mới dừng tay. Ngũ Tử Tư đứng thở một hồi, sau đó định rút kiếm thất tinh ra cắt đầu Bình vương, thì không hiểu lửa giận ở đâu lại dâng lên. Kể cũng lạ, đánh liền hơn ba trăm roi như thế, mà lại không chạm gì đến cái đầu của Bình vương, khuôn mặt vẫn còn nguyên vẹn, hai con mắt nhắm hờ với dáng vẻ rất an nhàn thư thái. Nhìn thấy vậy, lửa giận trong người Ngũ Tử Tư càng bốc cao hơn, miệng chửi tiếp:

– Tên hôn quân! Lúc mày sống trên đời, cũng có đủ đôi mắt với hai con ngươi, vậy mà người trung kẻ gian không biết phân biệt, ai hiền ai ngu chẳng nhận được ra, tốt xấu không hề thấy rõ, đi tin nghe lời sàm tấu, giết oan cha anh và cả nhà ta, tàn hại không biết bao nhiêu bậc trung lương, ta căm ngươi muốn chết mất thôi! – Nói rồi dắt roi đồng vào bên sườn như cũ, ba ngón tay run run chìa ra, rồi “phập, phập” liền mấy nhát, lao thẳng ngón tay vào móc đôi tròng mắt Bình vương ra ngoài, sau đó mới rút kiếm cắt lấy đầu Sở Bình vương, để tế mộ cha mình. Đến đây, Ngũ Tử Tư tựa hồ như trút được gánh nặng trên vai, thấy toàn thân thanh thoát nhẹ nhàng, thở phào một hơi nhẹ nhõm nói:

– Mười sáu năm nay, mối thù khiến ta mất ăn mất ngủ, đến hôm nay rốt cuộc là ta đã trả được rồi, cha anh ta có thể yên lòng nhắm mắt ở nơi chín suối…

Ngũ Tử Tư tỏ vẻ hể hả và thỏa mãn, binh lính tận mắt nhìn thấy thủ đoạn trả thù tàn bạo ấy, người nọ nhìn người kia, chẳng ai dám nói gì, họ không tin được rằng đó lại là hành vi của Ngũ Tử Tư.

Ngũ Tử Tư đã vơi mối thù hận trong lòng, quay ra tìm cụ già tóc bạc đã báo tin, chuẩn bị ban thưởng cho cụ. Thế nhưng, cụ già vừa mới rồi còn đứng cạnh mình, lúc bỗng biên đi đâu mất tăm mất tích, đành sai quân lính bủa đi tìm khắp nơi. Bình lính tìm hồi lâu không thấy đâu, đang định quay về báo lại, chợt trên mặt hồ gần đó, nổi lên xác chết của cụ già, thì ra cụ đã không nỡ nhẫn tâm nhìn thấy thảm cảnh nọ mà nhảy xuống hồ tự tử.

Tại sao cụ giả tóc bạc ấy lại biết được nơi để lăng mộ của Bình vương? Chuyện rằng cụ già ấy tên là Trâu Tích Đức, là thợ đá xây lăng cho Bình vương. Năm năm trước khi Sở Bình vương qua đời, một hôm, tư không đại thần cho tập hợp tất cả thợ đá, thợ xây thợ mộc… của Sính đô lại một nơi, chỉ riêng thợ đá, đã có tới một trăm hai mươi người, Trâu Tích Đức cũng ở trong số đó. Họ trước còn đục đá ở bên bờ hồ Liêu Đài, kế đó là lên núi khai thác đá, lấy những tảng đá từ trong lòng núi mang về đục đẽo thành những khối những viên dài, ngắn, to, nhỏ, vuông, tròn vv… đủ các kiểu khác nhau. Họ làm như thế vừa đúng hai năm. Đá được đèo đục xong, cho chở tới bờ nam của hồ Liêu Đài, lúc đó đã sẵn có binh lính thải hết nước của bờ nam hồ, đào một cái hố sâu hàng mấy trượng ở giữa hồ, các thợ đá ở trên núi bị lùa đến đây xây cung điện ngầm. Họ thi công theo hình vẽ, chỗ thì lát, chỗ thì dựng, chỗ thì chèn, chỗ thì xếp sau rồi trát vữa lên trên, làm túi bụi làm như vậy đúng một năm nữa. Trong thời gian thi công, cứ một người thợ đá lại có một người lính luôn kèm ở bên cạnh, không cho ai về nhà, không được tiếp xúc đi lại với người nhà, không cho phép ra ngoài chữa bệnh, ăn tại chỗ, ngủ tại chỗ, ỉa đái cũng đào lỗ đi ngay gần đấy và cũng vẫn phải có lính đi kèm để tránh chạy trốn. Xong công trình họ vẫn bị nhốt ở trong đó, không được tha về, đông qua hè tới, lại hai năm nữa qua đi. Một đêm, Trâu Tích Đức lấy cớ đau bụng đi lỏng, liên tục ra hố để đi ngoài. Mấy lần như vậy, cho đến giờ Tý, tên lính theo dõi đã mệt mỏi, dặn rằng có đi thì đi rồi mau mau mà về. Trong đêm tối, Trâu Tích Đức leo lên khỏi hố, ngồi trong một bụi rậm vờ đang ngồi đi ngoài, thực ra là để quan sát động tĩnh và muốn nhân đêm tối trốn đi. Bỗng nhiên trên bờ hồ rực rỡ ánh đèn và có rất nhiều người đi tới, nào là cung nữ, nội thị, lại còn cả văn võ bá quan trong triều đình, nhìn chiếc quan tài do mười sáu người khiêng mà đoán, ắt hẳn là những người này đến để an táng Sở Bình vương. Quan tài được khiêng xuống, tất cả những người đi theo cũng lần lượt bước xuống, kể cả những tướng sĩ, binh lính thường đi đi lại lại ở đó. Một lúc lâu sau, có năm ba người như thể các bậc đại thần gì đó, từ dưới đó đi lên. Một trong những người ấy khởi động vào cái lẫy, cả tấm đá to kêu soạt một tiếng, đè lên miệng hố, thế là những cung nữ, nội thị quan văn, quan võ, tướng sĩ, binh lính và cả trăm người thợ đáng thương, đang sống nguyên lành bỗng bị giam chặt dưới hố, làm đồ tùy táng cho Sở Bình vương, mãi mãi không bao giờ còn lên được nữa. Cho đến khi bốn bề yên ắng, cảnh vật im lìm như chết, Trâu Tích Đức mới len lén từ trong bụi rậm bò ra, không dám về nhà, mà trốn vào rừng sâu, sống vạ sống vật cho đến tận bây giờ.

Về đến phủ thái sư, việc đầu tiên là Ngũ Tử Tư sai người lấy thủy ngân liệm lại thủ cấp của Sở Bình vương, để tránh bị lấy ra khỏi đất quá lâu, gặp không khí sẽ bị thối rữa để chờ mang đi tế ở mộ cha anh mình, sau đó điều động quân lính đi lùa hàng ngàn hàng vạn nông dân để hoặc lên núi đục đẽo đá, hoặc phá rừng lấy gỗ, hoặc dùng xe dùng thuyền chuyên chở những thứ đó về xây lăng mộ cho cha anh mình và tiên tổ, khí thế thật lớn lao, công trình thật là đồ sộ, tốn phí thật là ghê gớm, mức độ thê thảm về nỗi hao tài lớn của mệt dân thì từ thượng cổ đến giờ chưa từng có. Cũng còn có một điều may mắn là công trình ấy bắt đầu chưa lâu, bèn đã phải thu gọn lại chứ cũng chưa thực hiện hết tất cả.

Nguyễn Bá Thính
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Tào Nghiêu Đức

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.