Để thực thi chiến lược làm trì trệ phía địch về nhiều mặt, năm Ngô vương Hạp Lư thứ 7 tức là năm 508 trước Công Nguyên, nước Ngô đã dụ nước Đồng phản lại nước Sở.
Kinh đô nước Đồng ở Đồng thành, phía tây nam huyện Thư Thành tỉnh An Huy bây giờ, lúc ấy là nước phụ thuộc của nước Sở. Có thể là do thổ ngơi, cũng có thể là do quan hệ nhiều con gái đẹp, được mệnh danh “mỹ nhân quốc”. Đối với các bậc vua chúa phong kiến mà nói, gái đẹp bao giờ cũng có sức quyến rũ hơn của cải giàu đẹp thậm chí hơn cả vàng bạc châu báu, thế nên, từ thời Xuân Thu trở đi, những nước chư hầu lớn mạnh đều tranh nhau nhòm đôi mắt tham lam vào đất nước nhỏ bé này. Nước Sở đã là một nước lớn ở đông nam chỉ thua kém có nước Tề nước Tấn, lại ở gần nước Đồng nhất, có những điều kiện ưu việt độc đáo không ai có được, nước Đồng nhỏ yếu, lẽ đương nhiên trở thành nước phụ thuộc của nước Sở. Cũng như các nước khác, đã là nước phụ thuộc dù hàng năm nước Đồng phải mang đồ cống tiến nước Sở, nào là ruộng đất, vàng bạc, châu báu, đoán xem nước Sở thích gì, nghe theo nước Sở muốn gì, chịu bị sai khiến của nước Sở, mặc cho nước Sở cắt đặt. Ngoài những việc ấy ra hàng năm còn phải dâng con gái đẹp lên nước Sở, để cho vua tôi nước Sở hùng mạnh dâm lạc chơi bời. Sở vương quy định cho nước Đồng “kiến mỹ” vào ngày mồng một tháng năm hàng năm, thế là nước Đồng lấy cả tháng tư làm tháng “chọn hoa hậu”. Con gái đẹp được chọn từ trong dân chúng, cho nên tháng tư trở thành cái giờ khắc tai hoạ của trăm họ ở nước Đồng, hỏi có ai còn muốn xa rời cha mẹ, lìa bỏ quê hương đến nơi đất khách quê người để kẻ khác giày vò xác thịt? Để tránh bị gọi đi chọn lựa, các cô gái đẹp thường nhảy xuống sông trẫm mình hay thắt cổ trên xà tự vẫn… những người phải theo nhau tìm đến cái chết như thế, nhiều không biết đâu mà kể. Năm nọ nối năm kia, trên mảnh đất màu mỡ xanh tươi của nước Đồng, có bao nhiêu là oan hồn khuất quỷ đang than khóc, đang kể lể và vạch tội?… Khi lợi ích của mình bị xâm phạm thì chống lại, đó là bản năng của động vật; giữ an toàn cho con cái, không để rơi vào nanh vuốt độc ác của kẻ thù, là thiên chức, là trách nhiệm không thể thoái thác của mỗi người làm cha làm mẹ trên đời. Để chống lại những thế lực đến bắt bớ con gái, có biết bao nhiêu người làm cha làm mẹ chết thê thảm trên vũng máu của mình, lại có biết bao nhiêu người làm cha làm mẹ bỗng trở nên người điên dại! “Tháng tư”, “chọn hoa hậu”, những nỗi kinh hoàng đã làm cho không biết bao nhiêu người dân lành của nước Đồng lâm vào cảnh cửa nát nhà tan…
Thực ra ở nước Đồng đáng thương này, người gặp những tai hoạ này đâu chỉ có dân đen, mà ngay cả hoàng thân quý tộc cũng chẳng thoát được. Ngay như nhà vua của nước Đồng lúc này là Đồng Linh hầu, thì mẹ đẻ bị Sở Bình vương cướp mất, ái phi của ông ta bị Sở Chiêu vương chiếm mất, em gái cũng bị Nang Ngoã cướp đi. Đến nhà vua cũng còn như thế, quý tộc quốc thích thế nào tưởng khỏi cần phải nói nữa. Đối với chuyện này, cả nước Đồng từ trên xuống dưới, không người nào là không chất chứa căm hờn, dân nghèo, quân yếu! Cá lớn nuốt cá bé, cá bé thì ăn tép tôm, tép tôm thì ăn đất cát, đó là cái lý muôn đời không thay đổi, Đồng Linh hầu cũng chẳng biết làm sao. Ông ta cũng chẳng dám mơ ước hão huyền rằng trong một sớm một chiều đất nước của mình có thể lớn mạnh lên, để thoát được ra ngoài sự ràng buộc của nước Sở, thậm chí có thể lấy yếu đánh mạnh, đương đầu chống lại nước Sở, cho nên đành nén giận trong lòng, có gẫy răng cũng phải nuốt vào bụng, để mặc cho nước Sở bài bố và cắt đặt.
Sói dữ ăn cừu non, đương nhiên là quyết định bởi bản tính tham lam và tàn nhẫn của sói, ấy thế nhưng có lúc bản thân cừu non hầu như cũng phải chịu đôi phần trách nhiệm. Chẳng hạn, có những con cừu đến trước mặt sói còn khoe màu lông mình nõn nà như tuyết, mịn màng như gấm như nhung. Để lấy lòng sói dữ, có con cừu già còn dâng lên cho sói một vài con cừu non để sói nếm thử, vv… như vậy đấy. Chẳng ai xa, cha đẻ của Đồng Linh hầu là Đồng Giảm hầu, chính là một con người lẩn thẩn, đi lấy lòng sói dữ bằng cách đấy. Thế cho nên, tai hoạ ở nước Đồng này, ở một mức độ rất lớn, có thể nói thẳng ra rằng là chính tự mình chuốc lấy vậy.
Từ thời Xuân Thu đến lúc này, tuy nói rằng hàng năm nước Sở đến cướp người đẹp của nước Đồng, nhưng ngẫu nhiên gặp một hai vị minh quân, có lúc có thể cũng giảm bớt thậm chí từ bỏ hẳn sự cướp bóc đó. Sở Linh vương tuy chẳng phải là một ông vua nhân đức nhưng quan điểm thẩm mỹ của ông ta khác với mọi người. Ông ta lấy dáng lưng ong làm đẹp, thậm chí thích quá thành nghiện, bất kể đàn ông hay đàn bà, hễ cứ ai có vòng thắt lưng thô, ông ta đều coi như cái gai trong mắt, cái găm trong da thịt. Sau khi xây dựng xong cung Chương Hoa, liền chọn con gái đẹp các nơi cho đến ở, mà điều kiện trước hết của những người con gái ấy chính là eo phải nhỏ, bởi thế nên Chương Hoa cung còn có tên gọi là “Tế yếu cung” – cung eo nhỏ. Để lấy lòng Linh vương, các cung nữ cố nhịn ăn nhịn uống, thắt lưng buộc bụng, để có lưng ong, thậm chí có người vì thế mà chết đói cũng chẳng hề ân hận. Chẳng những chỉ đàn bà con gái, ngay trăm quan vào chầu, ai cũng đều phải dùng thắt lưng lụa mềm để đai lưng lại cho nhỏ, để cho Linh vương khỏi ghét. Ấy thế nhưng con gái nước Đồng lại người nào người nấy lưng đều rất thô, khiến cho Linh vương nhìn thấy mà sinh ghét, vì thế nên không chọn con gái của nước Đồng vào cung nữa. Thực ra, con gái nước Đồng đâu há phải người nào lưng cũng thô, nếu như thế thật, thì làm gì còn có tên gọi là “mỹ nhân quốc” nữa? Chẳng qua là mọi người thấy chuẩn mực mà Sở Linh vương chọn hoa hậu, để tránh khỏi phải vào hang cọp, để khỏi phải rơi vào tay ma quỷ họ đã cố ý độn lưng cho thô ra, thậm có người còn buộc hẳn một chiếc ruột gối vào ngay lưng để đi thi chọn, như thế làm gì mà lưng chẳng thô?…
Năm 528 trước công nguyên, công tử Khí Tật giết ba anh, tự xưng làm vua, tức là Bình vương. Bình vương mới lên ngôi, các nước phụ thuộc, đi theo nước Sở lũ lượt đến chúc mừng. Đến mừng, tất nhiên phải có lễ mừng, để lấy lòng tôn chúa mới lên ngôi, vua chúa của những nước nhỏ khốn khổ khốn nạn kia không thể nào không nghiến răng nhắm mắt, đem những thứ quý giá thiêng liêng của đất nước mình hai tay dâng công lên Sở Bình vương, chẳng hạn như một thanh gươm báu, một hạt châu, một pho tượng quý, một chiếc đỉnh vàng vv… Đồng Giảm hầu muốn cho khác người, đã dâng lên mười hai cô gái. Nước Đồng gần nước Sở nhất, Giảm hầu biết tỏng rằng Khí Tật cũng là hạng đam mê tửu sắc. Mười hai cô gái người nào cũng có sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành, rất được Sở Bình vương tấm tắc khen thầm, cũng vì thế mà Đồng Giảm hầu bỗng thành người có giá thêm hàng trăm lần, trong hoạt động triều cống chúc tụng lần này, đương nhiên được Bình vương mến nể hơn nhiều, giành được một vinh dự và địa vị khác thường. Tuy nhiên, đấy lại cũng là bởi tại thắp hương nên ma mới tới, chế độ cung tiến người đẹp của nước Đồng cho nước Sở đã bỏ từ lâu, lúc này lại được tái lập, hơn nữa còn mang hoạ cả đến triều đình nước Đồng.
Nếu như đánh giá rằng tất cả con gái nước Đồng đều không muốn xa rời cha mẹ lìa bỏ quê hương, đến nơi đất khách quê người để người khác giày vò thân xác là điều không chính xác, lắm, thì mười hai cô gái sang nước Sở lần này mới cam chịu một bề như thế. Đối với họ mà nói thì, là thân gái ấy mà! Vốn dĩ sinh ra đã là hoa cho người ta hái, còn người ta cắm vào lọ sành bày ở nơi nhà dột, sao bằng được cắm vào lọ sứ bày ở sảnh nhà sang? Đến cung vua nước Sở, thôi khỏi phải vai mang đầu đội, tay xách nách mang, lại được ăn no sơn hào hải vị, mặc chán tơ lụa nuột nà, với tay là có mặc, há miệng là được ăn, như thế thì tội quái gì chẳng vui vẻ mà làm? Chẳng những thế, cao xa hơn, họ còn đang ôm ấp bao nhiêu là mơ mộng tốt đẹp hão huyền, rằng miễn là cứ tận tình chiều chuộng hết mức, để được Bình vương sủng ái, lập cho làm quí phi, thậm chí phong lên ngôi hoàng hậu, lập tức làm chúa trong tam cung lục viện, hô ra thép hét ra lửa; rồi sinh con nối ngôi, nắm quyền hành cả nước, mình bóng lên ngôi quốc mẫu, như thế mới thật là vẻ vang và tôn nghiêm biết bao! Thực ra, những suy nghĩ đó của đám con gái này không hoàn toàn là viển vông, họ quả thực rất có khả năng thực hiện lý tưởng đó. Vận mệnh người con gái không phải tất cả đều bi đát, tư sức tuyệt vời chính là thứ vốn liếng hơn hẳn mọi người của họ, Mạnh Doanh, mẹ đẻ của Chiêu vương mới kể ở phần trên, chính là một trong những trường hợp ấy…
Cái đẹp vốn muôn hình muôn vẻ, như những áng mây ngũ sắc trên trời, đủ mọi hình dáng, lấp lánh muôn màu. Gió mát trời trong là vẻ đẹp mùa xuân, sức sống trào dâng là vẻ đẹp của mùa hạ, mây nhẹ trời cao là vẻ đẹp của mùa thu, trắng ngời, và lặng lẽ là nét đẹp của mùa đông, sáng chói ngời ngời là vẻ đẹp của mặt trời, trong suốt như nước là vẻ đẹp của mặt trăng, nhấp nháy đua sáng là nét đẹp của các vì sao, phô sắc toả hương là nét đẹp các loài hoa, thấm đượm ngọt ngào là vẻ đẹp hàm chứa trong muôn thứ quả… Mười hai cô gái nước Đồng dâng hiến lên, môi người một vẻ, ai cũng muốn hơn người về mặt lẳng lơ, họ hoặc là cao quý đĩnh đạc như quân tử lan, hoặc u nhã cao vời như bạch ngọc lan, hoặc rực rỡ như hải đường đón nắng, hoặc ẻo lả yêu kiều như điếu lan, hoặc lả lơi quyến rũ như các loại hoa đơn, hoặc đa tình hiền dịu như hoa trà. Sở Bình vương quấn quít sớm chiều với họ, thôi thì trăng gió mây mưa, đủ bề lạc thú, mọi vẻ phong lưu, suốt ngày lâng lâng, như gã say lạc bước vào cõi tiên, ngọt ngào thấm thía như nếm mật ăn đường, ngây ngất bềnh bồng như đè mây cưỡi gió. Ông ta cứ chơi bời phóng túng như thế, buông thả như thế, tự biến mình thành một vũng bùn, thành những trận mưa xuân dai dẳng, không hề tỏ ra hẹp hòi keo kiệt, hết mình với đám thiếu nữ tuổi xuân hơ hớ kia… Tuy nhiên, dục vọng vốn như một cái hố lấp không bao giờ đầy, Sở Bình vương vẫn chưa cho như thế là đủ và nghĩ rằng mười hai cô gái đẹp mà vua nước Đồng vừa mới cống nạp lên, tuy là có siêu phàm thoát tục, đều thuộc hàng tuyệt thế gian nhân, nhưng chắc chắn rằng đây chưa phải là hoa khôi số một của nước Đồng, nàng Anh Thường, cơ tần của hắn ta, nhất định phải đẹp hơn nhiều. Đối với ông ta mà nói, con người là một giống động vật rất tự tư tự lợi, không đời nào lại chịu nhường món đồ chơi tốt nhất cho người khác, giữ thứ tồi hơn lại để mình dùng. Nếu có ai đó làm như thế, thì đấy là thằng ngốc một trăm phần trăm. Nước Đồng đã nhỏ lại yếu, Đồng Giản hầu hèn kém bất tài, thế mà lại được hưởng thụ những thứ tốt đẹp hơn Sở vương như thế, thế là trời ở không công, đất xử không bằng, ông ta phải ra tay chống chọi tranh đấu với trời đất! Sở vương thảo một bức thư, sai người đi ngày đi đêm tới trao cho vua nước Đồng. Trong thư ca ngợi sự trung thành vô hạn của nước Đồng với vua Sở, khen Giảm hầu trị nước giỏi giang, trong một thời gian không dài mà đã tự vì cho nước Đồng được quốc thái dân an. Để ban thưởng cho những công trạng đó và để truyền tụng rộng rãi cái đạo trị nước của Giản hầu, Bình vương sẽ sang thăm và thị sát nước Đồng, mong Giản hầu hãy ở lại trong nước chờ đợi chớ đi đâu xa. Thư viết là nhiệt tình, lời lẽ rất là khéo léo và khẩn thiết làm cho Đồng Giảm hầu cảm động muốn rơi nước mắt.
Từ khi đọc thư của Sở Bình vương, lòng dạ Đồng Giản hầu cứ như có ai rưới mật, ngọt dịu vô cùng, lại như có ai cắm vào đó một đoá hoa, lúc nào cũng lung linh tươi đẹp, vui mừng đến nỗi đêm nằm không sao ngủ được. Ông ta vừa mừng vừa lo, cứ y như là lần đầu tiên được nếm trải mùi sung sướng trên đời, cũng như được niềm khoái lạc của kẻ làm vua. Ông ta tích cực bắt tay vào sửa soạn, sắm sanh mọi thứ để đón Sở vương với nghi thức long trọng nhất. Ông ta sai người đi khắp mọi nơi để săn lùng của ngon vật lạ, chuẩn bị mở một bữa tiệc thịnh soạn nhất gọi là tiệc tẩy trấn để đón Sở Bình vương. Ông cho mời những nhạc sư nổi tiếng để biên soạn và biểu diễn những điệu múa lời ca của cung đình, để mua vui khi Sở vương uống rượu. Ông có một nàng sủng cơ tên gọi là Chu Giao, chẳng những đẹp xinh như ngọc như hoa, lại có biệt tài hát múa dẻo, để làm vui lòng Bình Vương, ông còn cho mời học trò của Khổng Tử là Tần nhiên đến để dạy về nghi lễ, môn sinh của Sư Khoáng[1] là Công Lương Hoàn đến dạy học… để múa hát đón mừng Sở Bình vương. Tóm lại, để đón tiếp thánh giá của Sở Bình vương, Đồng Giản hầu đã mang hết tâm can, dốc hết những gì vốn có, tận mọi khả năng, có thể nói là moi hết tâm can ra đối đãi.
Ngày Sở Bình vương giá lâm, Đồng Giản hầu dẫn văn võ trăm quan cùng lên dân trăm họ thân chinh ra tận Trường đình ngoài mười dặm để đón chào. Trong Trường đình, nhà nào cũng cờ kéo đèn chăng, ngay cây cối ở hai bên đường cái cũng cây nào cây nấy không tô xanh thì cũng điểm hồng, nơi nơi chan chứa không khí náo nức tươi vui của ngày hội lớn. Quan lại đi trước, dân chúng nối theo sau, lần lượt xếp hàng đứng đợi ở hai bên đường cái. Các quan viên người thì khom lưng, người thì vái chào, người thì cúi đầu, người thì sụp xuống để lễ. Người nào người nấy ra chiều cung kính, tựa như lễ bái thần linh. Dân chúng bên đường chỗ thì thổi kèn đánh trống, chỗ thì tung hoa, múa lụa, hoặc nhảy hát bên đường hoặc hô to vạn tuế… tất cả hình thành một biểu âm thanh và sắc mầu rộn rã và sáng tươi. Đồng Giản hầu thì rón rén cung kính, thận trọng từng cử chỉ, niềm nở tươi cười đi bên Sở Bình vương, không thể nhận biết được trong lòng ông lúc này hãnh diện tự hào hay băn khoăn lo lắng.
Không khí và quy mô bữa tiệc, ở nước Đồng này có thể nói là không tiền mà cũng là khoáng hậu. Gian sảnh đường lớn rộng như bé hẳn lại bởi bàn ghế kê từng hàng chật kín bên trong, cứ ba người một mâm, mâm trên cùng là Sở Bình vương và Phí Vô Cực, Đồng Giản hầu ngồi bên hầu rượu, còn lại văn võ bá quan lần lượt vào ngồi. Đồ uống là thứ rượu màu vàng nấu bằng gạo quý gọi là thử mễ, màu như hổ phách, chất nồng, mùi thơm không rượu nào sánh được. Rượu lạnh được đựng trong vò làm bằng thiếc rồi đốt bằng củi đay để nó từ lạnh ấm lên, rồi từ ấm nóng dần cho đến lúc sôi. Đến lúc rượu sắp sôi, trên miệng vò hình phễu dần dần đùn lên một đám bọt hình nấm, đám bọt càng dâng càng cao, khi sắp tràn ra khỏi miệng vòi, người ta vội lấy vò rượu ra khỏi bếp lửa, rót vào những ấm chuyên rượu cũng làm bằng thiếc, lớp bọt đặc ấy vừa chảy vào lòng ấm chuyên, gặp lạnh nổ bem bép, thế là khắp căn phòng ngào ngạt một mùi thơm quyến rũ.
Đồng Giản hầu thân chinh nâng chén luôn luôn tiếp thêm rượu cho Sở Bình vương và liên tiếp mời rượu, lòng ông hồ hởi, tình cảm chân thành, ý nghĩ ông đằm thắm… Món ăn lần lượt đưa lên, chẳng những số lượng nhiều, cách thức xào nấu cũng vô cùng phong phú, lại toàn là thức ăn quý hiếm trên đời, nào là hải sâm, bào ngư, tổ yến, vây cá, bàn tay gấu, vó lạc đà, tôm hùm, cá đối không thiếu thứ gì, nguyên cá ngon cũng đã có đến bốn năm thứ cá ngon nổi tiếng ở Bắc Hải, Đông Hải, Trường Giang, Thái Hồ… Rượu đã ngà ngà, các cung nữ bắt đầu mùa hát để cho bữa tiệc rượu thêm vui thế là ánh đèn trong phòng bỗng mờ đi, ánh sáng mờ ảo dịu dàng, như trong mơ trong mộng; Tiếng nhạc du dương, như rót vào tai như réo rắt trong lòng. Dáng múa thướt tha, lưng ong yểu điệu, như trong sương đục mây mờ, như ráng chiều lảng lảng. Tiếng hát ngọt ngào như nước luồn khe đá, như oanh hót trong rừng… Ca múa vừa xong, Đồng Giản hầu cho vời ái cơ Chu Giao ra dâng rượu Sở Bình vương. Thì ra ở phía trong của gian phòng bày tiệc có rủ một bức trướng màu phấn hồng, phía ngoài treo hai chiếc đèn lồng màu đỏ gọi là cung đăng. Đấy là nơi tạm ngăn ra như vậy, Chu Giao và các cung nữ nép mình ở phía trong, trang điểm xong ngồi nghỉ và đợi lệnh, chẳng khác gì chốn hậu đài trong rạp hát ngày nay. Theo một tiếng truyền gọi từ bên ngoài, sau rèm bỗng vang lên tiếng leng keng của những vòng ngọc bội, kế đến là tiếng sột soạt của xiêm áo mới, chỗ rèm vừa vén lên một người con gái đẹp hiện ra trên tay bưng chiếc khay đồng yêu điệu bước ra, trên khay đặt một chiếc nậm rượu bằng bạc và chiếc chén vàng khảm ngọc, lưng nàng thon như dáng liễu, nếp váy lăn tăn như gợn sóng, bước đi nhẹ nhàng như nước êm trôi, nhẹ gót như lướt tới trước mặt Sở Bình vương, vai dài một vái, nhỏ nhẻ và nũng nịu thưa lên:
– Đại vương cao cả, tiện thiếp tôi xin có lời chào! – Nàng đặt chiếc khay đồng lên mặt án thư, rót đầy một chén rượu, hai tay nâng lên đưa tới chỗ Bình vương, lại nhỏ nhẻ từng lời nói tiếp – đại vương vất vả ngày đêm trên đường, tiện thiếp xin dâng lên một li rượu nhạt, gọi là uống mừng đại vương giũ bụi dọc đường…
Sở Bình vương nhận chén rượu trên tay, nhưng chưa uống vội, đôi mắt tham lam ngẩn ra nhìn chòng chọc nhìn vào người thiếu phụ kiêu sa còn vượt cả tiên trên trời và hơn xa ngọc nữ đang đứng trước mặt mình, thấy thân hình nàng thon thả nhưng đẫy đà, tầm vóc vừa phải nhưng cân xứng, tóc xanh như mây, như làn sóng lăn tăn khẽ gợn, mặt mày không thoa phấn nhưng ánh lên như sáp nặn, miệng chẳng tô son mà đỏ tựa chu sa, đôi mày ngài khẽ nhướng ngời lên vẻ tình thần, cặp mắt đưa qua, lúng liếng như mặt hồ thu dậy sóng, nàng khẽ mỉm cười, như có chất rượu nồng toả lên đôi má… Trong cung vua nước Sở có biết bao nhiêu phi tần cung nga, Bình vương cũng như đã từng mộng du đến chốn thiên cung, đã từng gặp vô vàn tiên nữ, tuy nhiên người đẹp ở trên trời và cả ở trần gian nếu có đem để cạnh nàng Chu Giao mà so sánh, chắc rằng chẳng có ai mà không cúi đầu nể sợ. Trang quốc sắc thiên hương này, một mình nàng cũng đủ khiến người ta hồn phách rụng rời, xiêm y đơn sơ kia của nàng, cũng đủ khiến người ta thất điên bát đảo, say đắm ngả nghiêng. Nửa người trên, nàng chỉ mặc phong phanh chiếc áo cánh màu phấn hồng, màu nhạt như nước, lụa mỏng như cành chuồn. Nửa người dưới nàng mặc một chiếc váy nhiễu trắng tinh như tuyết, dài che kín chân… Ngó từ xa, nàng đứng như ngọc tạc, như một đoá sen hồng vươn lên nở rộ, như một bông ngọc lan lấp ló đầu vành. Đến gần mà nhìn, hầu như mọi đường nét trên thân hình nàng đều bày ra trước mắt, cặp đùi như bạch ngọc, mịn màng mà như ánh lên dưới mắt người. Cặp mông đẫy đà, chợt thắt lại bởi quãng lưng ong dịu dàng, lồng ngực hơi nhô cao và căng đầy, phập phồng theo nhịp thở… tất cả tạo nên những đường cong tuyệt vời và đầy sức quyến rũ. Đường nét và nỗi xúc cảm ấy dồn lại ở đôi bầu vú căng tròn như một cặp bánh bao, cả cái chỗ đỉnh cao màu phớt hồng như những đường nét phơi bày rõ nhất nhưng lại phập phồng thoắt ẩn thoắt hiện, khiến cho bất cứ một gã đàn ông nào nhìn vào đáy cũng nhỏ rãi ra vì thèm thuồng.
Chu Giao vốn là một người con gái không chính chuyên, trước khi vào cung vua nước Đồng đã từng nhiều phen tằng tịu với người khác, nay thấy Sở vương là vua của một nước lớn, cây to thì rễ sâu, cành nhiều lá rậm, không nhỏ yếu như nước Đồng lúc này, cứ như một chiếc thuyền con lênh đênh trên biển rộng bao la, bất kể lúc nào cũng có thể có nguy cơ chìm đắm, hơn nữa Bình vương lại có mẽ ngoài đạo mạo, dáng vẻ bảnh bao, cho nên ả định nhân cái dịp trời cho này, bám vào vai rồng vai phượng để được thênh thênh nhẹ bước thang mây. Ả rất tự tin, cứ bằng tư sắc của mình với vẻ lẳng lơ và các thủ đoạn khác, cho dù có phải sang nước Sở thì rồi ả cũng làm chủ được tam cung lục viện, khiến cho Bình vương phải say như điếu đổ mà yêu mến riêng mình. Ả nghĩ vậy, và đau đáu nhìn vào ông vua của một nước lớn đang đứng ngẩn ra ở trước mặt mình, bất giác cúi xuống vén váy, ngồi ghé vào bên cạnh Bình vương, rồi như ngả thân hình của mình vào lòng ông ta, kề cặp vú phập phồng của mình vào sát bầu má béo căng của ông ta. Trước đó, nếu như bằng thị giác và cảm quan, Bình vương đã cảm nhận được hình hài quyến rũ ấy, thì lúc này đây, thông qua xúc giác và khứu giác, ông ta đã lĩnh hội được mọi điều bằng chất cảm bởi sự ấm áp và chút hương nồng từ đấy thoảng ra. Sở Bình vương vốn quá quen với chuyện vần vò những người con gái đẹp như món đồ chơi, đến lúc này đây mới từ chỗ đứng ngây người ra quay về với thực tại, đột nhiên ôm chặt Chu Giao vào lòng, hôn lấy hôn để lên trán, lên má, lên môi ả, tay phải hắn lùa vào ngực ả xuê xoa sờ soạng. Chu Giao không hề kháng cự, cũng chẳng tỏ ra sượng mặt thẹn thùng, mà như một con mèo, ả co dúm vào trong lòng Bình vương, mặc cho ông ta mân mó, cất lên những tiếng cười ẻo lả nhõng nhẹo, ả tỏ ra hết sức nũng nịu làm như mình rất sung sướng hả hê. Họ quên tất cả rồi, đây đâu có phải là phòng ngủ của cung vua nước Sở với giường chiếu nhớp nhúa, mà là giữa chốn đình trung với đông đảo mọi người, trăm mắt đều nhìn vào… Thực ra họ đâu có quên điều đó, mà là cố ý không hề kiêng dè; bất chấp tất cả. Đối với họ, hễ đã nắm trong tay quyền sát quyền sinh, là có quyền mặc sức muốn sao được vậy, chẳng sợ một ai, nhân tính và thú tính với hạng người này chẳng khác gì nhau, bởi vì những điều họ đã làm đều trần trụi như thế chẳng hề phải che giấu, đậy điệm làm gì.
Nhìn tận mắt mọi điều xảy ra trước mắt, Đồng Giản hầu không thể nào ngồi yên được nữa, máu ghen không biết từ đâu dồn lên ngực ông và cơn lửa giận cũng bốc lên theo. Ông nhổm đứng dậy, đi đi lại lại trong phòng, vò đầu bứt tai, rên rỉ thờ dài, không biết làm thế nào. Ông giận mình đã cõng rắn về cắn gà nhà, tự ngả lẫy rượu đắng để rồi tự uống…
Sở Bình vương thì còn bụng dạ nào mà uống rượu nữa, vội lệnh Đồng Giản hầu đưa ông ta về hậu cung yên nghỉ, vua nước Đồng chỉ còn biết làm theo.
Văn võ bá quan tự thấy chẳng còn hứng thú gì, lũ lượt bỏ ra về, bữa tiệc thế là tan, chẳng lấy gì làm vui vẻ.
Ở cung điện của Chu Giao, theo sự sắp đặt kỹ lưỡng của ả, tỏ ra rất ấm cúng và quyến rũ. Bước vào cửa là một phòng khách rộng, ở bốn góc phòng bày bốn chiếc bồn, đồng chạm rất tinh vi hình lưỡng long tranh châu, trong bốn khói xanh lởn vởn, ánh lửa lập loè, những thứ cỏ thơm như lan, tiêu, ngải, thược, chỉ, hồi, chu, thuyên, nhẫm cháy âm ỉ trong bồn, căn phòng tràn ngập một mùi hương lạ đến mê hồn, khiến cho con người ta thấy da thịt đê mê, tâm hồn chếnh choáng. Sự bày biện rất trang nhã, những thứ đồ cổ và châu báu hiếm có và đắt tiền, cùng với những sắc điệu nền nã đa tình, cùng những vật ánh sáng mông lung mờ ảo và ánh sáng nên lung linh chập chờn, nhẹ nhàng uyển với tiếng nhạc lúc bổng lúc trầm… tất cả đã dệt nên một tấm lưới, đó là tấm lưới tình, tấm lưới của hạnh phúc, một tấm lưới đủ để làm làm tan mọi ý chí của bất cứ một gã đàn ông nào. Sở Bình vương, như con lợn hạch, như con lừa đực, như con trâu mộng, như con chó đực cắn nhau… sung sức giữa mùa xuân, cũng đã rơi vào tấm lưới này, như con bướm chui đầu vào nhuỵ hoa, như rồng giỡn mây ngũ sắc, buông thả thoải mái đến vô cùng…
Đồng Giản hầu đưa Sở Bình vương và ả Chu Giao vào tẩm cung, bị Bình vương quay lại đóng cửa gạt ra ngoài, chẳng khác nào sét đánh ngay tai, như ngàn mũi tên đâm ngập vào tim. Ông ta muốn khóc, nhưng không ra nước mắt, muốn cười chẳng ra tiếng, ông muốn gào lên nhưng chẳng ra lời, muốn đập đầu chết, lại chẳng có gan. Cho đến khi trong nội cung vọng ra những tiếng mây mưa trăng gió, những lời thủ thỉ tâm tình, Bình vương được thoả thê dâm đãng, Chu Giao rên lên trong sung sướng, hai người họ gắn với nhau, bện lấy nhau, họ chan hoà vào làm một, không sao mà tách được nhau ra. Đồng Giản hầu bất giác thấy trời đất quay cuồng, ngã quay ra mặt đất. Không biết như thế bao nhiêu lâu, có đám lính đi tuần đêm bắt gặp, quanh mình ông đã ướt đẫm sương đêm, còn ở trong cung lại vọng ra đều đều tiếng ngáy…
Sở Bình vương ở lại kinh đô nước Đồng một nửa tháng, Đồng Giản hầu đêm đêm khắc khoải bồi hồi ở bên ngoài tẩm cung của Chu Giao. Nửa tháng sau, Bình vương trở về Sính đô và đem theo cả ả Chu Giao. Ả Chu Giao ngày ấy chính là mẹ đẻ của Đồng Linh hầu, kẻ nắm quyền binh của nước Đồng lúc này. Sau này ái phi tiệp dư của Đồng Linh hầu bị Sở Chiêu vương chiếm mất, em khác mẹ của ông ta là Diệm Dung cũng bị Nang Ngoã bắt đi, cũng đều diễn ra những chuyện tương tự như thế. Bây giờ đây Sở Chiêu vương lại sai người đến cầu thân, muốn đưa Đằng Thường cô con gái mới mười sáu tuổi của ông vào cung. Đằng Thường lại do chính Tiệp Dư đẻ ra, hai mẹ con sao có thể cùng một lúc dâng lên để một người dâm lạc, đây quả thật là hành động của loài súc vật loạn luân…
Sứ nước Sở đi rồi, Đồng Linh hầu cơm không thiết ăn nước chẳng thèm uống, không biết nên tính toán ra sao, y như có một con dao cùn đang nhay từng thớ thịt, đang cứa vào tâm can ông. Đưa con gái thân yêu của mình vào cung nước Sở, vừa không nỡ thì chớ, lại chẳng ra một thể thống gì, mà không đưa, tất sẽ nước Sở lớn mạnh kia gây hoạ binh đao, có nguy cơ tan cửa nát nhà, dân chúng lại lâm vào cơn nước lửa. Đang giữa lúc ông mặt ủ mày chau, thì Phiếm Khải là sứ thần nước Ngô, theo lệnh Tôn Tử đã tới kinh đô nước Đồng. Phiếm Khải là con người có học vấn cao sâu, đầu óc nhạy bén, lại có tài giao tiếp, là một sứ thần ngoại giao mà Tôn Tử đã chọn lựa từ trong những sĩ quan cấp dưới sau khi ông nhậm chức. Tuổi ngoài ba mươi, người dong dỏng cao, mặt vuông tai to, mày thanh mắt sáng, cử chỉ điềm đạm… mới nhìn qua cũng biết được ngay rằng Phiếm Khải là một kẻ sĩ được học hành đầy đủ, là một đấng quân tử khiêm nhường. Hình thế của hai nước Ngô, Sở, xu thế chiến tranh giữa hai nước trong hai năm lại đây, Đồng Linh hầu đương nhiên không còn xa lạ gì. Tuy là nước phụ thuộc của nước Sở, lại còn có người thân ở nước Sở, nhưng từ nơi sâu thẳm của tâm hồn, Đồng Linh vương lại cứ mong muốn làm sao trong cuộc chiến tranh sắp tới, Ngô sẽ thắng Sở sẽ thua, Sở sẽ suy vong để Ngô thịnh vượng, như thế mới hả được mối hận thù cướp mẹ, tranh vợ, bắt con, ép con… đang dồn chứa trong lòng ông… bởi thế nên Đồng Linh vương đã tiếp kiến sứ thần nước Ngô với nghi thức long trọng nhất, mở tiệc tẩy trần thịnh soạn nhất để khoản đãi Phiếm Khải. Ngày thứ hai sau khi đến nước Đồng, Phiếm Khải xin được gặp riêng vua nước Đồng. Đồng Linh Vương lòng dạ ngổn ngang trăm mối, lên tiếng hỏi:
– Tiên sinh phải vất vả đường xa lặn lội tới nước Đồng, chẳng hay có điều chi chỉ dạy?
Phiếm Khải mỉm cười nói:
– Bệ hạ quá khách sáo đấy ạ! Thần đâu dám nghĩ đến hai tiếng “chỉ dạy”? Mà chẳng qua chỉ là phụng mệnh của Ngô vương và Tôn nguyên soái, đến đây để chúc mừng đại vương mà thôi!
Đồng Linh hầu cười chua chát nói:
– Tiên sinh xin chớ cười quả nhân, nước Đồng tôi nhỏ, dân lại nghèo, thấp hèn không ai đếm xỉa, sống gửi thác nhờ, trông chờ người khác, ngày đêm thấp thỏm không yên, liên tục trong buồn lo và sỉ nhục, làm gì có chuyện đáng mừng.
Với giọng nói xót xa cay đắng, Phiếm Khải nói:
– Công chúa hiền thục của đại vương cách đây không lâu đã phải gả sang cung nước Sở để làm phi tần, dựa vào vai rồng vai phượng, vững vàng chắc chắn như thế, há chăng phải là chuyện đáng mừng lắm sao?
Phiếm Khải vừa nói vừa đưa tay vẫy, tuỳ tùng liền bưng quà mừng lên, mở ra coi, toàn bạc vàng, châu báu, đồ trang sức, gấm vóc… Ôi! Những món quà mừng mới quý làm sao!
Nghe những lời nói ấy, mắt lại nhìn thấy những thứ quà tặng, Đồng Linh như dao cứa trong lòng, đau đớn không sao chịu nổi, ông cúi đầu, hai mắt rân rấn ra hai đòng lệ nóng hồi. Những biểu hiện đau khổ đó của Đồng Linh hầu, Phiếm Khải làm như không nhìn thấy, và nói:
– Nước Đồng và nước Sở vốn có một mối nhân duyên đặc biệt từ xưa đến nay hiếm thấy trên đời, từ mẫu hậu của đại vương đến công chúa hiền thục hiện nay, con gái xinh đẹp của nước Đồng phải tiến cống sang cung nước Sở đã là người thứ tư, có thể nói rằng đó là duyên thắm phận nồng, nối tiếp dài lâu, chỉ có điều, công chúa hiền thục sang cung nước Sở, lại cũng sẽ là vợ của Chiêu vương, nếu gặp người mẹ đã đẻ ra mình, ái phi của đại vương xưa, thì sẽ xưng hô thế nào?…
Đồng Linh hầu ngắt ngang lời của Phiếm Khải:
– Thôi! Xin tiên sinh đừng xát thêm muối vào trái tim đang rỉ máu này của quả nhân nữa! Tiên sinh cho rằng bốn người con gái ấy của nước Đồng đều vui vẻ tự nguyện bước vào cung của nước Sở sao? Tiên sinh cho rằng bị người ta sỉ nhục, bị người ta hiếp mẹ hiếp con mà dễ chịu sung sướng lắm hay sao? Nước Sở chính là kẻ thù không đội trời chung của quả nhân, Sở Bình vương, Chiêu vương là cả một lũ thối tha dù có ăn sống nuốt tươi bọn chúng, cũng khó mà hả nỗi giận trong lòng này!…
Phiếm Khải nói:
– Nếu đã thế, nước Đồng còn làm gì phải coi Sở là nước tôn chủ của mình nữa, việc gì phải cam chịu là nước phụ thuộc của họ nữa? Tại sao không làm phản mà chống lại, vươn vai đứng thẳng, đường đường chính chính đạp đất đội trời trong thiên hạ?
Đồng Linh hầu huơ hai tay ra trước mặt, vô cùng chán nản nói:
– Quả nhân làm gì mà chẳng muốn đường đường chính chính làm người trong thiên hạ kia chứ? Ngặt một nỗi nước Đồng tôi đất hẹp binh hèn, khó mà đương đầu được với nước Sở lớn mạnh thế, không để cho họ cắt chia giày xéo, liệu có xong với họ không?
– Tại sao lại không xong nhỉ – Phiếm Khải nói – thần lại có cách nhìn khác hẳn với mọi người, muốn nói với các bậc quân vương, không hiểu bệ hạ có muốn nghe không?
– Xin mời tiên sinh cứ nói, tiên sinh hãy nói ngay đi! – Đông Linh hầu sốt sắng như không thể đợi thêm được nữa – Quả nhân xin lắng nghe đây!
Theo lời của Đồng Linh hầu, Phiếm Khải nói ra vanh vách một hồi nghe rất xuôi tai. Ông phân tích tình thế thiên hạ lúc này; giới thiệu sự sáng suốt, lớn lao của Ngô vương Hạp Lư cũng như sự nhân đức và mưu trí của nguyên soái Tôn Vũ, sự anh dũng ngoan cường của các tướng soái nước Ngô như Ngũ Tử Tư, Phu Khái vv… và sự đoàn kết trên dưới một lòng của triều đình nước Ngô. Ông ta vạch ra bộ mặt và hành động tham lam tàn bạo, cuộc sống hoang phí xa xỉ của Sở Bình vương, Chương vương, nêu ra mâu thuẫn ngày càng gay gắt giữa vua nước Sở và trăm quan văn võ cũng như sự đối kháng đi đến thanh toán lẫn nhau giữa các phe phái trong hàng ngũ quan lại nước Sở. Ông cũng gợi mở ra điều kiện và quyết tâm đánh Sở của vua tôi nước Ngô: Theo đó, ông đã viện dẫn ra những chứng. cớ nêu lên xu thế và kết quả tất nhiên của cuộc chiến tranh Ngô Sở và sự phát triển chung trong thiên hạ. Sau cùng, ông đã kể cho Đồng Linh hầu nghe ba thí dụ thực tế trong đời sống khiến người ta phải suy ngẫm sâu sắc.
Ai cũng biết rằng kim cương là thứ nhỏ trong muôn vật chứ gì, nó thứ tinh thể hình từ trong đất đá như luyện ra dưới sức nóng rất cao, không có màu nhưng lại rất nhiều sắc, là thứ cứng nhất trên đời, thế nên muốn khoan lỗ vào sành sứ, không dùng nó thì chẳng còn thứ gì hơn, tục ngữ có câu kim cương dù bé, nhưng lại khoan thủng đồ sứ lớn. Từ đó thấy rằng, lớn và nhỏ chưa hẳn là mấu chốt của thắng bại, mà mấu chốt là ở chỗ mức độ cứng rắn đến đâu.
Trong rừng sâu có một giống thú không mấy ai để ý là con sài, nó giống như con chó, lớn hơn con mèo, nhưng hung dữ còn hơn cả sói. Sài chỉ là một giống thú nhỏ, ấy thế nhưng có những con vật to lớn đồ sộ như sư tử, hổ báo lại phải sợ nó. Thân nó nhỏ nhẹ cho nên nhanh nhẹn, xuất kỳ bất ý nhảy lên cổ, lên lưng, lên mông những con vật lớn kia, cắn thịt chúng, hút máu chúng, khiến cho chúng không biết làm thế nào, và cứ như thế cho đến lúc những con thú lớn kia ra hết máu mà chết. Từ đó cũng thấy rằng, lớn hay nhỏ không phải là điều mấu chốt của thắng lợi, mấu chốt là ở chỗ biết cơ động linh hoạt.
Có một nước nọ chuyên nuôi voi, nhưng con voi to lớn được thuần hoá và huấn luyện, vừa là công cụ sản xuất, vừa là dụng cụ chiến đấu. Mỗi khi hai bên giao chiến, người ta liền lùa hàng trăm hàng ngàn con voi đồ sộ ấy xếp hàng ra ở biên giới, khi một tiếng lệnh vang ra đàn voi ấy xông như điên ra phía trước, như nước lũ lao xuống dốc, như mãnh thú ra rừng, không sức gì cản nổi, binh lính nước địch hoặc là bị thân voi chèn chết, hoặc là bị chân voi giày nát, hoặc bị ngà voi xiên chết, hoặc dùng vòi quấn ngang người chúng, tung lên cao, rơi xuống mà chết thảm hết chỗ nói.
Do có một bầy voi lớn mạnh như thế, các nước láng giềng chẳng ai dám chống chọi, thế là họ mặc sức cướp đất công thành, chẳng sợ gì ai. Cách đấy không xa có một nước nhỏ tên là Linh Lung, vua nước ấy thông minh tuyệt đỉnh, không sợ gì nước voi. Một hôm, đàn voi lừng lững rầm rầm rộ rộ áp sát nước Linh Lung, ông vua thông minh của nước Lung Linh chỉ huy tướng sĩ bày ra trên dọc tuyến biên giới hàng trăm chiếc lồng sắt, trong mỗi chiếc lồng ấy nhốt tới ba bơn chục con chuột, đợi khi đàn voi của nước địch ngang ngược bước lên lãnh thổ của nước Linh Lung, các tướng sĩ liền lần lượt thả lũ chuột ở trong những cái lồng đó ra, hàng vạn con chuột liền xô lên bâu lấy đàn voi như một bầy châu chấu. Chuột là giống nhút nhát nhất trong các giống vật trên đời này, chẳng thế mà người lại có câu “nhát như chuột ngày”, mà tập tính của chúng là đào lỗ dưới đất làm tổ, không thấy ánh sáng mặt. trời bao giờ nay đem để ra giữa thanh thiên bạch nhật, chạy khắp các nơi không có chỗ nào ẩn nấp, thấy mũi voi, chúng lầm tưởng đó là lỗ cống, nên lũ lượt theo nhau chui vào đó, lũ voi bị đau, con thì lăn kềnh ra đất, hoặc lao lên chạy xuống, hoặc lồng lộn hung tung, rồi cứ thế mà chết, có đến quá nửa, phải lủi thủi quay về. Lũ voi to kềnh càng, thế mà bỗng trở thành bại tướng trước lũ chuột nhỏ xíu, chủ của nó dĩ nhiên là không cam chịu sau khi quay về, liền dạy lại đàn voi, ba năm sau lại đánh báo thù với khí thế mạnh hơn quy mô lớn hơn. Nhà vua thông minh của nước Linh Lung, lần này không thả chuột nữa, mà sai tướng sĩ lấy cây chọc thật nhiều lỗ tròn, cứ bốn lỗ làm một chỗ, khoảng cách của nó tương tự vị trí vết của bốn chân voi. Ngày khai chiến, đàn voi xô ra thấy mặt đất đâu cũng có những lỗ tròn, với bản tính của mình, chúng sợ sẽ có chuột ở những lỗ tròn đó chui lên mà luồn vào mũi chúng, thế là chúng dùng chân dẫm cho tịt những cái lỗ tròn kia đi, mặc cho chủ của chúng đánh đập chúng cũng chẳng chịu bước thêm bước nào. Vua nước Linh Lung thấy vậy, liền sai tướng sĩ của mình xông lên, khiến cho phía đối phương hoàn toàn tan rã, bắt sống hàng ngàn thớt voi. Từ đó đủ thấy, lớn nhỏ đấu có phải mấu chốt của thắng bại, mà mấu chốt là ở chỗ thông minh tài trí, biết động não suy nghĩ.
Phiếm Khải nói rất sôi nổi, sinh động, cứ như mọi chuyện hiện ngay ở trước mắt, Đồng Linh hầu nghe như nuốt lấy từng lời đến nỗi ngẩn cả người ra, quên cả nỗi sỉ nhục và phiền não, chốc chốc còn bật cười. lên khanh khách. Cười xong rồi, Đồng Linh hầu mới nghiền ngẫm từng câu để cho thấm thía từng câu của sứ Ngô, bất giác như vừa chợt tỉnh và nghĩ ra rằng thái độ của ông ta với nước Ngô xưa nay vốn chẳng ra gì, cho nên không dám vội vàng khinh suốt đưa ra quyết định phản lại nước Sở. Những dân tộc quốc gia nhỏ yếu, ở cái thời đại lớn bắt nạt bé này, nếu như không tìm thấy một chỗ dựa chắc chắn, thường chẳng bao giờ dám cựa quậy chân tay. Phiếm Khải đã biết tỏng tòng tong ý nghĩ đó của vua nước Đồng, nên đã kể cho ông ta nghe về chính sách đối ngoại của nước Ngô, nêu rõ ràng nước Ngô luôn chủ trương, quốc gia không tính lớn hay nhỏ, mạnh hay yếu, đều là một thành viên ở trên đời này, đối xử với nhau nên nhất loạt bình đẳng. Nếu như nước Đồng muốn phản lại nước Sở, nước Ngô sẽ nhận làm nước bảo hộ, sẽ gần gũi, thân ái, hữu hào, giúp đỡ và coi nước Đồng như anh em ruột thịt, có kẻ nào đó dám xâm phạm lợi ích của nước Đồng, nước Ngô sẽ mang hết sức ra để bảo hộ, cùng sống chết, chung vận mệnh với nước Đồng…
Nghe xong những lời thốt ra tự tâm can của Phiếm Khải, Đồng Linh hầu đã đối chiếu sự nhân từ, hữu ái khoan dung của quân đội nước Ngô đối với vua tôi, quan lại, tướng sĩ của các nước như Chung Ngô, Từ, Lục, Tiềm, Dưỡng, Thẩm vv… và cảm thấy rằng vua tôi nước Ngô so với nước Sở chẳng khác gì Bồ Tát so với ma vương, là người rất đáng tin cậy. Ông cân nhắc đi cân nhắc lại, rồi bàn bạc nhiều lần với quần thần, so sánh lợi hại, quyết định phản Sở theo Ngô.
Một đêm khuya ba ngày sau đó, cùng một lúc, quân dân nước Đồng đã nhất tề nổi dậy, bí mật giết chết toàn bộ tướng sĩ của quân Sở đóng trên đất nước của mình, công khai nói rõ từ nay không làm nước lệ thuộc nước Sở nữa.
Nước Ngô dụ nước Đồng phản lại nước Sở, đó chính là miếng mồi thả sang nước Sở, mục đích là nhử rắn ra khỏi hang, cho cá cắn câu – làm cho nước Sở sẽ đem quân đi chinh phạt nước Đồng, nước Ngô sẽ nhân dịp này tiên diệt sinh lực của họ, tạo điều kiện để sau này đánh Sở toàn diện đi đến tiêu diệt Sở. Tuy nhiên, phản ứng của vua tôi nước Sở trước sự kiện nước Đồng phản lại nước Sở, lại không mau lẹ, không hề có biểu hiện gì là họ sẽ đem quân đi đánh nước Đồng. Muốn câu cá, thả mồi xuống rồi, nhưng cá lại không cắn câu, vậy thì làm thế nào bây giờ?…
❀ ❀ ❀
[1] Một nhạc sư mù nhưng rất nổi tiếng ở nước Tấn thời Xuân Thu – ND.