Nước Đồng nhỏ yếu to gan làm càn, chỉ trong một đêm, đã giết sạch cả tướng sĩ của quân Sở đóng trên Đồng rồi công khai bỏ Sở theo Ngô. Tuy nhiên điều đó lại không khiến cho vua tôi nước Sở nổi giận mà gây chuyện binh đao, dấy quân hỏi tội. Sở xưa nay vốn là nước hiếu chiến, hùng hổ như một con gà chọi, tại sao lúc này lại tỏ ra có vẻ chậm chạp ngờ nghệch thế? Nguyên là Sở Chiêu vương từ sau khi có được thanh gươm báu Trạm Lư, suốt ngày chìm đắm trong những lời tán tụng là “ông vua có đức” là “ý trời xui khiến” và say sưa ở ngày mai bá chủ chư hầu, làm vua thiên hạ, càng ngày càng hý hửng kiêu căng, không còn coi nước Ngô là gì nữa hết. Vả lại xưa nay, ở trên lơi lỏng một ly, bên dưới sẽ lơi lỏng đi một dặm, Chiêu vương đã khinh nước Ngô mà trễ nải như thế, thì ở bên dưới tướng soái không nói gì binh lính, tướng không lo toan thì lính chúng chẳng tập tành, khắp đất nước đâu đâu cũng tràn ngập bầu không khí tĩnh mịch, yên ắng và vui vẻ, gần giống cảnh thái bình đao kiếm bỏ kho, ngựa cho lên núi, ngồi chờ vận may trời cho để diệt Ngô rồi xưng bá chư hầu.
Mà nếu Ngô diệt vong, Sở hưng thịnh đã là ý trời, thì việc thắng bại trong khi giao chiến với quân Ngô chẳng liên quan mảy may gì đến tướng lĩnh, công không thưởng, tội không phạt, làm cho các quan trong triều phàn nàn oán thán, không muốn tiến thủ nữa mà chỉ còn biết ăn uống chơi bời. Hai năm trước, Tử Tất là chủ tướng của nước Sở, liên quân nước Việt chinh phạt nước Ngô, đuổi quân Ngô đến tận vùng sâu của núi Thiên Mục, rồi đại quân đã ca khúc khải hoàn. Trên đương kéo quân về, Tử Tất đã ôm ấp mãi trong lòng giấc mộng thăng quan tiến tước, vậy mà sau khi về đến Sính đô, khỏi phải nói là đã hoàn toàn vỡ mộng, mà ngay một buổi lễ mừng công cũng chưa từng được mở, khiến cho ông thấy chán ngán lạnh lùng. Lại nhìn đến Diêm Hoài Viễn, thành thì mất, kho thì cháy, ấy thế mà chẳng những vô tội, mà lại còn được tăng ân sủng nữa chứ! Nghĩ trước nghĩ sau, Tử Tất càng thêm nhớ đến ơn tri ngộ đối với Tôn Vũ, căm một nỗi không thể tới ngay mà đứng dưới cờ của ông, càng nhớ Tôn Vũ càng thấy căm ghét bọn cầm quyền nước Sở, Tử Tất im lìm nén chịu, bền bỉ đón nhận thời cơ…
Tôn Tử buông câu, đã thả mồi ra rồi, mà cá lại không chịu cắn câu, cho nên không thể không xem lại khẩu vị của cá và sức hấp dẫn của mồi câu, cũng như thầy lang xem bệnh, phải bệnh nào thuốc ấy, thì mới có thể thuốc uống đến đâu khỏi đau đến đấy; Giả sử uống liền mấy thang, không thấy bệnh lui, thì cần phải khám lại bệnh, cho đơn thuốc khác. Qua mấy đêm không ngủ, khám bằng đủ cách vọng, văn, vấn thiết, Tôn Tử đã kê cho con bệnh của mình một đơn thuốc khác – sai một người ở Thư Cưu sang nước Sở để mật báo tình hình.
Người Thư Cưu ấy là Diêu Hoán Cát, ngày từ nhỏ đã được học hành đầy đủ, nhưng mãi chưa có dịp nào được ra làm quan, trên còn có mẹ già, dưới còn vợ dại con thơ, nhà năm miệng ăn, tất cả chỉ trông vào mỗi một nguồn sống là vào rừng hái thuốc bán kiếm ăn qua ngày cho nên cuộc sống rất bần hèn đạm bạc. Chó dữ lại hay cắn áo rách, nửa năm trước ông ta vào rừng hái thuốc, không may bị ngã rơi vào vách núi, gẫy cả xương cổ, ba tháng nay nằm liệt giường không dậy được, cơm gạo của cả một gia đình không biết trông cậy vào đâu. Phiếm Khải vâng lệnh của Tôn nguyên soái, đến Thư Cưu tìm kiếm người có thể sai sang nước Sở mật báo tin tức, và đã chọn trúng Diêu Hoán Cát, sau khi tranh thủ được sự đồng ý của ông ta và mọi người trong gia đình ông, liền lấy xe đưa về kinh đô nước Ngô. Tại đây, Tôn Tử và Diêu Hoán Cát chuyện trò tâm đắc ba ngày ba đêm liền, bày vẽ cho về lý, động viên về tình cảm, khiến ông ta xúc động rưng rưng nước mắt, nguyện rằng dù có gan nát óc lầy, cũng quyết giúp Tôn Tử làm nên nghiệp lớn. Trong khi nói chuyện, Tôn Tử cũng đã ướm thử năng lực con người này, thấy rất ưng ý, cho rằng có thể gánh vác được công việc này, thế là thầm thì căn dặn, thế này thế nọ, sắp đặt một thôi một hồi rất cặn kẽ.
Để bảo đảm tất thắng và đề phòng bất trắc, Tôn Tử sai Phiếm Khải cùng đi với Diêu Hoán Cát đến nước Sở. Sau khi đến Sở, Diêu Hoán Cát sẽ trở thành một sĩ quan trung cấp của Bá Bỉ, vì xúc phạm đến lợi ích của Bá Bỉ nên bị đánh gẫy chân, tống giam vào lao cấm cố, chuẩn bị đêm tối sẽ lôi đi, vứt xuống hồ để thủ tiêu. Nhờ một người bạn đồng liêu tốt bụng khoá hờ cửa lao nên Diêu Hoán Cát mới được từ cõi chết trở về, tránh được mối hoạ ngập đầu. Phiếm Khải là Diêu Hoán Tường, em trai của viên sĩ quan quân đội nước Ngô vừa thoát chết này. Sau khi cải trang và đóng vai như thế rồi, trước hết dùng xe nhà buôn đưa hai người sang nước Sở, khi đến Sính đô, thì đánh xe quay lại. Diêu Hoán Cát sẽ ngồi lên xe cút kít, để em trai là Diêu Hoán Tường đẩy đi xin ăn dọc đường. Từ ngoài vào trong Sính đô, họ đã tận mắt thấy không biết bao nhiêu là cảnh ngộ bi thảm, những trận chém giết nhau, những khoảnh khắc đau buồn ai oán…
Trên đồng rộng hay trên đường dài, người lánh nạn, ăn mày nối thành đoàn dài không ngớt, nào già nào trẻ, nào gái trai, nào giắt cõng trẻ, nào dìu vợ bồng con, hoặc túm năm tụm ba, hoặc trơ trọi một thân… người nào người nấy mặt bủng da vàng, thân hình tiều tuy áo quần làm lũ lôi thôi…
Đi đến đâu, hình ảnh đập vào mắt cũng là những than hình gầy như que củi, vẳng bên tai là những tiếng khóc than rên rỉ vì đói rét. Trên mảnh đất màu mỡ này, chết chóc đã không còn là điều đáng sợ nữa, bởi vì bất cứ ở đâu và lúc nào, cũng có thể có người chết đói chết rét, người ta đã quen mắt và nhàm chán trước cảnh ấy rồi, hơn nữa, chết đi lại đỡ khổ hơn là sống, hình như thế lại được yên thân hơn, sung sướng hơn. Bởi vậy mà con thơ chết trong lòng mẹ, mẹ cũng chẳng hề rơi nước mắt. Mẹ già có chết đặt giữa nhà, con cháu cũng chẳng ai hờ khóc. Thấy cháu mình chết lả trên đường gánh đi xin ăn, làm ông cũng không hề thở than đội hồi – thần kinh con người ta đã bị tê liệt hết cả rồi! Song thần kinh tê liệt lại hoá ra một điều may, những con người bị tai hoạ kia sẽ vì thế mà giảm bớt được đau khổ. Trên con đường mịt mù cát bụi, có một cụ già vất vả đi ngược theo chiều gió, cụ chống một cây gậy, gò tấm thân cao lớn của mình, cất từng bước chân lảo đảo, thở hổn hển như sắp đứt hơi. Bỗng đâu một cơn gió xoáy ào ào ấp tới, cụ già bị gió thổi ngã xuống đất, cụ giãy giụa mấy lần, nhưng không làm sao bò dậy nổi, đành nằm ngay đờ ra trên mặt đất, để mặc cho nắng gió dãi dầu. Không biết như thế bao nhiêu lâu, có một chàng thiếu niên đã đi ngang qua đấy, thấy cụ già nằm đấy quả đáng thương, liền cúi xuống đỡ cụ dậy. Thế nhưng đúng lúc cúi xuống ấy, chàng trai bỗng thấy trời đất quay cuồng và cũng ngã chúi xuống đất và cứ thế, một trẻ một già, gối đầu lên nhau, nằm chết ở ngoại ô hoang vắng. Đến với họ lúc này, là cả bầy chó sói và với chim ưng và quạ đói mà trong trường hợp này thực ra không lấy gì làm hung ác. Một người đàn bà ngoài ba mươi tuổi bụng mang dạ chửa, với cái bụng vượt mặt, đôi chân lảo đảo, nhích mỗi bước chưa được hai ngón chân trên con đường ngoằn ngoèo, trông dáng bộ như đang sắp đến phút lâm bồn. Đã ba ngày nay, chị ta không được một hột cơm nào vào bụng, dạ đói cồn cào, đầu váng mắt hoa, trước mặt chốc chốc lại loé lên từng đàn đom đóm. Bụng thì đói, đứng không vững, lại thêm con đường vừa hẹp vừa khấp khểnh và một cơn choáng ập đến, chị ta ngã nhoài ra đất, và thuận đà lăn mãi xuống dốc. Con người đang sắp đến giờ sinh đẻ, chịu làm sao nổi sự giày vò như thế, chị vừa ngã vừa lăn đi và chợt ngất lịm, đứa trẻ bỗng oa oa chào đời ngay trên vũng máu. Lũ chim ưng chó sói vốn quen với mùi tanh hôi đã kéo đến, chúng xé thịt hút máu, hai mẹ con chết ngay lập tức, đến mẩu xương cũng chẳng còn. Đứa trẻ! Ôi một đứa trẻ vừa mới ra đời ở cái thế giới này, thử hỏi nó đã mắc tội tình gì?…
Ở trong lòng một quả núi lớn, có hàng ngàn người đang đào non đục đá, chở kìn kìn về Sính đô, về Sở Chiêu vương xây cung điện. Dân chúng người nào người nấy thân gầy như que, bụng lúc nào cũng rỗng không đến già nửa, thử hỏi còn hơi sức đâu mà quai búa giữ choòng, bê vác những tảng đá nặng trịch kia được. Ấy thế nhưng bên mình họ lại luôn có lính đốc quan coi, động tác hơi chậm một tý, là roi là gậy tới tấp đến thân, nhẹ thì sầy da sứt thịt, nặng thì chết ngay tại chỗ. Đè nén mạnh để cho dân phải thuận, những người dân đen chỉ còn biết thắt lưng cho chặt, nghiến răng lại mà chịu đựng cực khổ hết ngày này sang tháng khác, số lượng thì cứ bớt dần đi, rồi lại có nguồn đưa đến bù thêm vào. Đây là công việc suốt ngày đụng chạm với sắt và đá, trong trường hợp bình thường, ngay những thợ đá sức dài vai rộng, thân hổ lưng beo làm công việc này, cũng đều luôn đe doạ bị tàn tật hay chết mất mạng, huống hồ là những người dân chưa hề được tập luyện lại bụng đói cật rét thế này. Người nào người ấy gầy đói chỉ còn những răng với mắt, hầu như chút sức lực trói gà cũng chẳng còn, cảnh ngộ thê thảm quá không biết đau mà kể. Cái búa trong tay nặng hàng mười mấy cân, vung lên cũng đã rất vất vả, lúc đập xuống mà không nhằm trúng, là nện trúng vào đầu người giữ mũi choòng, là lập tức đầu vỡ óc lòi, màu me bê bết ra ngay, thật vô cùng thê thảm; người nào bị đập vào tay vào chân thì coi như tàn tật suốt đời. Mệt quá không chịu nổi, có nhắm mắt lại chợp đi đôi chút, bị bọn lính đốc công bắt gặp, không bị chửi là lười nhác, thì cũng bị đá xuống vực sâu… những người bị tan xương nát thịt như thế nhiều vô kề? Bãi đá ở sâu trong lòng núi, đường đi nhỏ hẹp gập ghềnh, ngựa xe khó mà nhích được lên, cho nên đá khai thác ra đến đâu, đều do dân phu lấy sức người mà chuyên chở ra ngoài núi rồi mới xếp lên xe kéo về Sính đô. Những người trai tráng khoẻ mạnh phần lớn ở lại trong núi quai búa giữ choòng để phá núi đẽo đá, công việc chuyên chở bên trút bên vai những người già yếu tàn tật. Họ phải nai lưng ra mà gánh, mà khiêng, mà gùi trên lưng. Đáng thương nhất là những ông già gùi đá trên lưng, trên lưng họ đeo sẵn một cái giá bằng gỗ, hai người khác bê khối đá nặng nề đặt lên giá, thế là tấm lưng của cụ già bị uốn cong như một cánh cung, mặt cúi gằm xuống, dọc đường không thể ngước lên nhìn trời được. Họ thở hổn hển, đi một bước rên một tiếng, chân run lên như muốn ngã bất kỳ lúc nào. Đường núi khó đi, không dốc thì cũng trơn, đá củ đậu lổn nhổn dưới chân, vô ý sểnh chân là lập tức cả người cả đá lao xuống vực sâu muôn trượng. Bất kể là người hay con vật cũng thế, mang nặng cố sức thường phải chạy gằn, dứt khoát không thể có chuyện trễ nải cố ý đi chậm lại. Bởi có vật nặng trên lưng đè cho không thở được, lừa ngựa cũng còn biết cố đi nhanh mong sớm đến đích, bỏ vật nặng ra mà thở cho thoải mái một chút. Con vật còn biết thế huống chi là con người vốn tinh khôn hơn muôn loài lẽ nào lại chịu è cổ ra cõng vật nặng rồi thong dong như đi dạo cảnh, ngao du sơn thuỷ hay sao? Với lại chân vừa mới chậm bước, bọn lính đốc công đã bảo là cố tình trễ nải, rồi mở miệng ra là chửi, vung tay lên là đánh, co chân là đá là đạp… những người già mà ngã xuống thì không còn hòng đứng lên được nữa, hoặc chết vùi dưới hòn đá ấy, hoặc lăn xuống khe xuống suối, trôi theo dòng nước.
Trong rừng sâu, trên đường lớn, giữa dòng sông đâu đâu cũng gặp những đoàn người đang bị lùa đi chở gỗ, đường nào rồi cũng đồn về một chỗ, bất kể là đường sông, đường bộ, phía nam đưa lên hay phía bắc đưa xuống, sau cùng đều tập trung ở một nơi là Sính đô, làm đẹp cho cung thất của Chiêu vương. Số phận của những người này cũng hẩm hiu không kém gì những người đi phá đá, cũng bi thảm như nhau, kết cục cũng đáng thương như nhau. Họ cũng hoặc gánh, hoặc vác, hoặc đẩy xe, hoặc chèo thuyền, hoặc kéo bằng dây, hoặc lôi bằng xích…
Theo chỉ thị của Tôn nguyên soái, Phiếm Khải và Diêu Hoán Cát, không phải đi về triều kiến Sở Chiêu vương, mà là đẩy xe cút kít đến thẳng phủ đệ của hữu lệnh doãn, bởi Nang Ngoã mới là con cá lớn luôn thích lập công to, lòng tham vô đáy và đầu óc giản đơn.
Cung đình của nước Sở khác với nước Ngô, vì muốn bàn bạc cho thuận tiện, khi cần gọi dễ có ngay, cung đệ của thượng khanh đại phu cùng xây trong bức tường đỏ của hoàng cung. Muốn vào phủ lệnh doãn, bắt buộc trước hết phải qua cửa cung. Đóng giả làm một ông tướng bị chặt chân, Diêu Hoán Cát ngồi trên xe cút kít, Phiếm Khải nắm càng xe từ từ đẩy đi, hai người đều có vẻ cậy công kiêu ngạo, vênh vác khinh người. Lính gác cổng bước ra ngăn lại, Phiếm Khải liến thoắng trình bầy:
– Ông tướng này chỉ vì cứu tính mạng hữu lệnh doãn mà chịu mang tàn tật, là công thần của nước Sở, là ân nhân cứu mạng của lệnh doãn. Hôm nay tướng quân muốn đến thăm lệnh doãn, ai dám ngăn cản? – Vừa nói vừa đưa ra chứng cứ.
Đã là ân nhân cứu mạng của hữu lệnh doãn, lính gác cổng chỉ còn cách cho đi, thế là hai người đã vào hoàng cung nước Sở một cách dễ dàng.
Bước qua cửa cung, là thấy ngay cung điện nguy nga lầu các nhấp nhô, nhà hát sàn múa, hành lang ngoằn ngoèo, núi giả xen nước thật, dậu trúc sửa như tường, hoa thơm cỏ lạ, chim đẹp thú hiếm, dìu dặt tiếng tơ tiếng trúc, ngọt ngào giọng hát câu ca, thơm lừng sương lành, lá xanh hoa thắm… những cảnh này cũng từa tựa như trong cung vua Ngô, chỉ có đàn voi đồ sộ kia, là ở trong cung nước Ngô cũng như Phiếm Khải là người đi sứ khắp các chư hầu trong thiên hạ đều chưa hề thấy bao giờ. Số voi cũng nhiều, có dễ không dưới một trăm con, con nào con nấy đồ sộ béo tròn lù lù như bức tường trước mặt. Voi trong cung nước Sở khác xa với voi ở trong rừng, con nào con nấy mình đầy gấm vóc, xanh đỏ loè loẹt khiến ngươi ta nhìn vào mà loá mắt, hơn nữa rất ngoan ngoãn, hiền lành và khéo léo. Chúng ung dung đi trên bãi cỏ, lắc đầu vẫy tai hoặc đung đưa cái vòi dài, trông có vẻ vững chãi nhưng khoan thai, như một viên nhất phẩm triều đình, xem ra rất dễ bảo, một tiếng chuông lệnh vang ra, chúng biết tập hợp thành đàn, thay đổi đội hình thành hàng dọc, hàng ngang hay dồn thành cụm, rồi chơi thể thao, rồi diễn ca múa, điều khiển các loại khôi hài cũng như động tác điêu luyện của chúng, cho rằng có là đội nghi tráng của một nước lớn hay những diễn viên chuyên nghiệp chắc cũng chưa sánh kịp. Vì đang phải lo việc lớn, cho nên hai người họ không thể ở lại đây lâu hơn, mà xem cho kỹ, đành phải lưu luyến mà bỏ đi. Phiếm Khải được biết rằng đây là đàn voi chuyên nuôi cho Chiêu vương để vui chơi giải trí: Sở Chiêu vương có ba thứ ham thích lớn, một rượu ngon, hai là gái đẹp, và ba là thích xem voi diễn trò. Có chư hầu của nước lớn đến thăm hay đoàn sứ giả nước ngoài tới nước Sở, ông thường cho biểu diễn việc dạy voi trên triều đình, tiếng khen ngợi rầm rộ vang lên từng đợt, ông thường lấy đó làm tự hào, hả hê.
Phiếm Khải đẩy chiếc xe cút kít đến trước phủ của hữu lệnh doãn, cũng dùng cách tương tự để buộc cho lính canh phải vào bẩm báo. Nang Ngoã nghe tin, vội vàng “xin mời”. Vào trong phủ rồi, Diêu Hoán Cát ở trên xe khum tay vái chào, Phiếm Khải cũng cúi mình làm lễ bái kiến. Nang Ngoã nhiệt tình tiếp đón hai người, nhưng trong khi trò chuyện mỗi lúc lại một sinh nghi, nhìn kỹ mãi vào vị ân nhân cứu mạng đang ngồi trên xe cút kít, từ tuổi tác, tầm vóc, dáng người, khuôn mặt, giọng nói, hình như không phải con người năm ấy, thế là câu chuyện càng đi sâu thêm vào tình tiết của cuộc chiến đấu ấy. Không để cho Nang Ngoã tiếp tục lục vấn thêm, Phiếm Khải đã thật thà thừa nhận mình là người Thư Cưu, sở dĩ giả dạng làm ân nhân cứu mạng lệnh doãn, chẳng qua là để lọt vào cổng và đến phủ lệnh doãn được dễ dàng nhằm đạt mục đích là gặp được lệnh doãn.
Nang Ngoã nghe nói thế, lửa giận bốc lên ngùn ngụt quát như sấm rưng:
– Bọn điên rồ này to gan thật, giám lừa gạt cả bản tướng à? Quân bay đâu! – Tiếp theo tiếng hô quát ấy, ba bốn tên võ sĩ hùng hổ như sói như beo xông ra.
Nang Ngoã gào lên:
– Tóm cổ hai tên điên rồ này lại, đưa ra phố hành tội xé xác!
Phiếm Khải bị trói quặt cánh tay ra sau và gô chặt lại, Diêu Hoán Cát thì bị trói chặt trên xe. Trước hành động và hung hãn đó của bọn người này, Phiếm Khải không hề tỏ ra run sợ, trước hết ông cứ để vậy cho bọn chúng trói, cho đến lúc chúng trói xong xuôi, mới ngửa mặt cả cười, cười đến rung cả mái nhà, bụi bậm rơi xuống rào rào, cười đến nỗi Nang Ngoã sợ cuống lên vội hỏi:
– Tên điên này ngươi cười cái chi vậy?
Phiếm Khải cười đến giàn giụa cả nước mắt ra, nhưng không làm sao lau đi được, đành phải lắc đầu cho nước mắt rơi xuống và nói:
– Tôi cười lệnh doãn lòng dạ hẹp hòi như trôn kim thế thì làm sao mà nắm được quyền hành trong cả nước, để an bang định quốc cho được? Nếu như hai anh em tôi không từ xa xôi ngàn dặm đến đây, chỉ với một việc là báo tin lành cho lệnh doãn, mà người lại chẳng hỏi đầu đuôi xuôi ngược ra sao, đã mang chúng tôi ra xé xác, há lại không đáng tức lắm sao…
– À, cái đó thì… – Nang Ngoã ớ miệng ra, chắp tay lại sau lưng rồi đi lại xồng xộc trong phòng, mãi sau mới hỏi – Có tin lành gì vậy?…
Phiếm Khải cười khôi hài, bảo:
– Lệnh doãn đã coi anh em chúng tôi là kẻ thù, thì thà ngậm oan chín suối, chứ quyết không tiết lộ thiên cơ đến nửa lời.
– Cởi trói!… Nang Ngoa miễn cưỡng hạ lệnh.
Sau khi được cởi trói, Phiếm Khải và Diêu Hoán Cát vẫn chưa chịu nói gì ngay, mà vẫn im lặng đứng ngẩn ra một bên, đến khi Nang Ngoã thúc giục. Phiếm Khải mới nói:
– Nếu đã không coi anh em chúng tôi là kẻ thù, ít ra lệnh doãn cũng ban cho một chỗ ngồi, mới có thể ngồi xuống mà nói chuyện được chứ. Những người coi rẻ khác, thì đời nào khách quý trọng họ và làm việc cho họ kia chứ.
Nang Ngoã vội lệnh cho lấy ghế mời ngồi, Phiếm Khải đàng hoàng chỗm chệ ngồi vào ghế, trông ra dáng rất oai vệ, nhưng vẫn lặng im không nói. Nang Ngoã lại giục lần nữa, Phiếm Khải đưa mắt nhìn một lượt các quan văn võ đang có mặt, bằng ánh mắt ngầm trách: Tai mắt đông đảo thế này, làm sao có thể nói được. Nang Ngoã xua tay, bọn cầy cáo tay chân lủi thủi ra hết.
Phiếm Khải trước hết đã tự giới thiệu mình. Ông nói tên mình là Diêu Hoán Tường, người Thư Cưu, từ bé đã theo đòi kinh sử, đọc đủ mọi thứ sách trên đời, xem thường kinh doanh lợi lộc, khinh ghét nhân tình thế thái, không chịu ra làm quan, suốt ngày chu du trong thiên hạ, hết sức tự do thoải mái. Cũng là anh em con cùng một mẹ, người anh là Diêu Hoán Cát lại hám danh hám lợi nên đã tòng quân, làm một chân hiệu uý đứng dưới cờ của Bá Bỉ nước Ngô. Thế là Diêu Hoán Tường đã kể lể tường tận gót đầu chuyện anh mình phát hiện những điều riêng tư bí ẩn của Bá Bỉ thế nào, bị đánh gẫy chân rồi thoát chết ra sao, rồi lần này sang bái kiến lệnh doãn với mục đích gì… Diêu Hoán Cát thì bổ sung tỉ mỉ về nhưng tình tiết mình đã thoát hiểm ra sao, xuất phát từ đáy lòng, ông kể lể trong nước mắt tràn trề, căm giận Bá Bỉ đến tận xương tuỷ, căm một nỗi chưa có thể moi gan móc ruột, xé hắn ra trăm mảnh cho hả nỗi giận trong lòng. Nang Ngoã cũng là con người từng va chạm dày dạn trên hoạn lộ, đương nhiên là không dễ gì tin ngay vào những lời nhảm nhí ba hoa của hai con người xa lạ từ nước khác đến đây thế này, bất giác hỏi gần hỏi xa để ướm xem hư thực ra sao. Thấy Nang Ngoã rõ ràng là chưa tin mình, Phiếm Khải thấy ông ta chừng nào như phụ lại tấm lòng một mực trung thành của mình và tâm linh trong sáng đang phải chịu một nỗi sỉ nhục không nói được với ai, không thể nào chịu nổi nữa, chỉ muốn lấy cái chết để biện minh, ông đã nói toạc ra rằng:
– Lệnh doãn đừng lục vấn vặn vẹo như xét hỏi tội phạm với chúng tôi như thế này nữa, chúng tôi trèo đèo lội suối, vượt hàng ngàn dặm đường gió bụi đến để mật báo tin tức cho lệnh doãn, cố nhiên cũng vì thấy lệnh doãn với Bá Bỉ vốn là kẻ thù không đội trời chung, mong nước Sở sớm diệt được nước Ngô, bắt sống Bá Bỉ, xé xác hắn ra trăm mảnh để trả thù rửa hận cho anh tôi. Nhưng mặt khác, mà điều này hết sức quan trọng đối với lệnh doãn, chuyến đi này của chúng tôi, cũng là để vớt vát lại thanh danh của lệnh doãn, cứu lệnh doãn được trọn vẹn…
– Toàn là những lời bậy bạ! – Nang Ngoã đập bàn đứng dậy, từng sợi râu cũng run lên.
Phiếm Khải mỉm cười nói:
– Xin lệnh doãn hãy dẹp cơn lôi đình giận dữ, để cho kẻ ngông cuồng này được nói rõ căn do của nó. Xin cứ yên tâm, chúng tôi là hai kẻ thường dân tay không tấc sắt ở đất khách quê người, mà một người còn bị tàn phế không cự quậy được, hoàn toàn không có gì nguy hiểm đối với lệnh doãn. Nếu lệnh doãn thấy kẻ ngông cuồng này là kẻ tàn ác không thể tha thứ được, không giết thì không hả giận, thì hãy đợi cho tôi được nói hết rồi hãy giết cũng còn chưa muộn. Có điều, tôi muốn nhắc nhở lệnh doãn có băm ra trăm mảnh, thì những điều cơ mật giấu kín trong lòng chúng tôi cũng còn chưa được nói ra câu nào, thế thì giết chết tôi thật chẳng ích gì, mà còn có hại nữa…
– Nói gì thì nói mau đi, khỏi phải quanh co rào đón, đưa đẩy nữa – Nang Ngoã vừa giục giã vừa có ý trách móc, nhưng trong lòng cũng đã địu đi nhiều.
Phiếm Khải xem ra muốn được đằng chân thì lân đằng đầu, nói:
– Chúng tôi liều chết đến đây, chính bởi có chuyện muốn nói, có tin mật muốn báo, có thù muốn trả có hận muốn rửa, nhưng lệnh doãn cần phải thề với trời rằng bất kể tôi nói gì, làm gì cũng không giáng tội, tôi mới đám mau chóng nói ra, nếu không, cho dù lệnh doãn có phanh thây giữa chợ, chúng tôi cũng quyết không chịu hé răng tiết lộ thiên cơ…
– Tiên sinh cứ nói không ngại chi cả, Nang Ngoã này sẽ dỏng tai lắng nghe, học thánh hiền, nghe thấy điều sai sót thì vui nếu có chút gì tỏ ra không vui, thì trời tru đất diệt! – Nang Ngoã đứng dậy, chỉ tay lên trời thề bồi.
Không khí trong sảnh đường xem ra đã hoà dịu, từ chỗ ánh thép sáng loà bỗng trở thành ánh sáng mùa xuân hiền hoà. Phiếm Khải bắt đầu dõng dạc, nói có ngành có ngọn với lời lẽ thiết tha, nói đến đoạn xúc động còn đứng hẳn dậy, khoa chân múa tay.
Phiếm Khải thẳng thắn không ngần ngại vạch ra rằng, ở nước Sở cũng như trong thiên hạ, tiếng tăm của Nang Ngoã đã trở nên tồi tệ. Nhớ những ngày đầu, hai nước Ngô Sở giao tranh ở Kê Phụ, lệnh doãn Dương Cái ốm chết trong quân đội, không lâu sau Sở Bình vương băng hà, thái tử Chẩn mới mười một tuổi lên ngôi, đó đã là chuyên bình thường. Lệnh doãn không phải là thế tập, Dương Cái chết rồi, thịt xương đã lạnh, nước lại không thể một ngày không có tướng, ở nước Sở cũng không thể một ngày không có lệnh doãn, rốt cuộc ai là người gánh lấy trách nhiệm của lệnh doãn? Trong thời gian Bình vương ốm nặng, các đại thần văn võ có chức phận lớn, địa vị cao ở bên cạnh nhà vua đều xôn xao bàn tán, người này thì bảo: “Ông được đấy, ông làm đi”. Người kia nói: “Tôi không được, thôi, ông làm đi!”. Đó đều là nhưng lời giả dối trên cửa miệng, chứ còn trong xương trong tuỷ, thì ai cũng muốn giành lấy mà làm! Người này nhường nhịn cho người kia, nhưng chẳng có ai là tán thành thái sư Phí Vô Cực. Phí Vô Cực cũng không hề tức giận, ông ta nghĩ: Các người bảo ai làm cũng được, bảo ta không được cũng không sao, đều không là gì hết bởi cuối cùng là do nhà vua xác định. Cho rằng Bình vương không thể cho ta làm chức ấy, ta cũng phải tìm cách kiếm một người ta cho rằng thích hợp làm. Phí Vô Cực lên tiếng:
– Thưa các vị. Theo tôi, ta cứ đi xin chỉ thị của chúa công xem sao?
– Phải đấy, phải đấy, Phí Vô Cực nói rất có lý – Một người nào đó tỏ ra tán thành, mọi người cũng phụ hoạ theo. Mọi người bước ra khỏi nơi hội họp, tất cả cùng theo nhau đến tẩm cung của Sở vương. Sở Bình vương nằm trên giường miệng luôn kêu lên “a… a. “ ông có nhiều điều muốn nói, nhưng lưỡi đã cứng lại, không nói ra được nữa, Phí Vô Cực len đến sát long sàng nói:
– Thưa chúa công, việc nước lúc này đang rối tựa bòng bong, cần phải thu xếp ngay, ý chúa công muốn lệnh cho ai làm lệnh doãn ạ?
– Á – Bình vương đờ đẫn nhìn mọi người. Phí Vô Cực ngẩng đầu lên, thấy Nang Ngoã đang đứng trong đó, bèn nảy ra một ý kiến nói:
– Vâng! Vâng! Thần đã rõ rồi! Thì ra chúa công vẫn muốn để Nang Ngoã làm lệnh doãn.
Nang Ngoã nằm mơ cũng không nghĩ được là Sở Bình vương lại để cho mình làm lệnh doãn, vội vàng đến trước giường quỳ hai gối xuống tạ ơn. Bình vương lúc này đờm đã chẹn kín họng, không còn thở được ra nữa, và thế là ô hô hết đời, Nang Ngoã thế là thành lệnh doãn. Của đáng tội Nang Ngoã cũng vẫn có một tướng mạo đàng hoàng, thân hình cũng cân đối, dược mặt cũng vào loại đoan chính, chỉ khổ một nỗi là học vấn lại chẳng ra sao, lập trường thì gió đông thổi, đổ sang tây, gió nam thổi thì ngả về bắc, là hạng người tầm thường chẳng có một chút gì là chủ kiến, trước mắt chẳng qua chỉ là một gã trung đại phu, ấy thế mà một bước lên tận mây xanh làm lệnh doãn, thế thì ai mà chịu phục? Duy chỉ có Phí Vô Cực là vui lòng thành phục, ông ta nghĩ rằng mình lúc này thanh danh chẳng còn tốt đẹp gì, chẳng thà thao túng đẩy Nang Ngoã ra phía trước, đứng ra làm chức ấy, mà hắn chỉ là một kẻ bất tài, tất cả đều ở trong lòng bàn tay của mình. Hơn nữa Chiêu vương lại là học trò của mình, muốn làm lệnh doãn, lại chẳng dễ dàng như móc đồ trong túi hay sao? Yên Tường Sư biết tỏng dụng ý đó của Phí Vô Cực, hai người là một đồng một cốt, luôn luôn một xướng một hoạ.
Để báo đáp cái ơn sâu của Phí Vô Cực và Yên Tưởng Sư đã có công cất nhắc mình, cho nên sau khi lên chức, việc làm đầu tiên của Nang Ngoã là cử Phí Vô Cực và Yên Tường Sư lần lượt đôn đốc việc xây dựng Mạch thành và thành Kỷ Nam, vừa hao tiền lớn của, vừa mệt sức dân nhưng hai gã Phí và Yên lại từ trong đó mà vơ đầy túi tham, lưng dắt hàng vạn quan, giàu nứt đố đổ vách, béo đến nỗi không thở được.
Việc thứ hai Nang Ngoã làm sau khi lên chức, là để ý việc tả hữu tư mã Thẩm Doãn Tuất và Bá Khước Yển chống quân Ngô có công mà lại dẫn đến tai hoạ tày trời. Phí Vô Cực và Yên Tương Sư vốn ganh ghét những người hiền tài, đã mê hoặc và xúi giục Nang Ngoã giết hại cả nhà Bá Khước Yển, con trai ông này là Bá Bỉ đành một thân một mình bỏ trốn sang nước Ngô, đang cùng với Ngũ Tử Tư phò tá Ngô vương Hạp Lư, họ đã thề cùng báo thù cho đất nước và rửa hận cho gia đình, cuối cùng thành mối hậu hoạ cho nước Sở. Nang Ngoã tuy rằng cũng có ý muốn tiêu diệt Phí Vô Cực và Yên Tương Sư là những kẻ đầy dẫy tội ác, nhưng đó là làm dưới sự đe doạ và ép buộc của đông đảo dân chúng, của công tử Thân và tả tư mã Thẩm Doãn Tuất; thực ra là bất đắc dĩ phải làm mà thôi.
Sở mạnh Ngô yếu. Trong lịch sử phần lớn là nước Sở xâm lăng nước Ngô, đó là sự thực ai ai cũng biết, thế nhưng từ sau khi Nang Ngoã làm lệnh doãn trở đi, hai nước Ngô Sở đụng độ với nhau (kể cả việc nước Ngô đem quân đánh các nước phụ thuộc của nước Sở) hàng chục lần, nước Sở lớn mạnh hơn nhưng đều bị thua trận rút quân, nhất là mấy lần do Nang Ngoã thân chinh cầm quân, hầu như lần nào cũng đi đến kết cục là bị tiêu diệt hoàn toàn. Cũng chính vì thế, nước Sở lớn mạnh ngày càng yếu đi, nước Ngô nhỏ yếu này một lớn mạnh lên, đó là một hiện thực đáng sợ bày sờ sờ trước mắt vậy…
Chính vì thế, Sở Chiêu vương không tín nhiệm ông ta, các vị trọng thần như Tử Tây vv… coi khinh ông ta, các quan cùng triều khác cũng không nể trọng ông ta nữa, trăm họ cũng đều phỉ nhổ ông ta, chư hầu trong thiên hạ trách cứ ông ta… Cảnh ngộ của Nang Ngoã lúc này chẳng khác gì người ngồi trên miệng núi lửa, lúc nào cũng có nguy cơ đắm mình trong biển lửa. Ông ta chỉ còn một lối thoát duy nhất, đó là làm một hai việc gì đó long trời lở đất, cho rung chuyển triều đình, để răn đe kẻ địch và lấy lại lòng tin của muôn dân.
Nếu làm được như thế thật, thì chẳng những ở nước Sở, mà ngay cả trong cả thiên hạ này cũng sẽ như hổ trên núi, như rồng dưới biển, như phượng trên rừng, muôn loài cầm thú đều phải quy phục và kính nể. Cứ như thế, vũ trụ bao la này, trời đất mênh mông này, rốt cuộc sẽ vào tay ai, chẳng cần phải bàn, càng không cần phải nói đến nước Sở nhỏ bé bằng cái lỗ mũi này. Nhưng mà nên làm chuyện gì kinh thiên động địa bây giờ. Phân tích hình thế hiện tại của nước Sở và thiên hạ, tốt nhất không gì bằng là đánh nhau với nước Ngô. Cuộc chiến tranh Ngô Sở mấy năm nay, bắt đầu từ trận Kê Phụ trở đi, nước Sở liên tục thua liểng xiểng, đến nỗi vua tôi nước Sở nhắc tới đem quân đi đánh nước Ngô, đều tái mặt đi như người gặp hổ, than thở và lia lịa lắc đầu. Trong trường hợp đó, nếu như Nang Ngoã ra tay cứu vãn được tình thế tồi tệ này, đem quân đến nước Ngô đánh đâu thắng đấy, đụng đến đâu tan đến đấy, dẹp được khí thế nước Ngô, diệt được uy phong của nước Ngô, thôn tính được đất đai nước Ngô, nhất định sẽ làm vui lòng được nhà vua, lấy lại được lòng tin với quần thần, muôn dân sẽ khen ngợi. Có được cái nền tảng ấy, muốn thực hiện sự nghiệp lớn lao ở bước sau, cũng sẽ xuôi lọt, muốn sao được vậy. Có điều, muốn thực hiện nguyện vọng đó, đạt được mục đích ấy, riêng tài cán và năng lực của Nang Ngoã không thôi, chưa đủ, mà cần phải dịp tốt trời cho nữa. Hôm nay, anh em nhà họ Diêu đến đây chính là truyền đạt ý trời và ban cho cơ hội, không biết liệu Nang Ngoã có tin không? Có dám mạo hiểm thử xem không. Thực ra, xưa nay, phàm những kẻ làm nên nghiệp lớn, không ai là không giàu tinh thần mạo hiểm…
Trong lúc Phiếm Khải hùng hồn phát biểu một bài diễn thuyết dài lê thê, nét biểu hiện tinh cám của Nang Ngoã vô cùng phức tạp, thay đổi khôn lường. Sắc mặt ông ta lúc thì đỏ, lúc lại vàng rồi lúc lại nhợt nhạt ra. Cổ ông ta lúc thì tái xanh, lúc thì tím bầm, đầu ông lúc thì cúi xuống, lúc thì rũ rượi, lúc thì ngẩng lên, lúc vươn cao, lúc lại xo lại giữa hai vai. Những biểu hiện tình cảm ấy nói với Phiếm Khải rằng, Nang Ngoã đang trải qua cuộc đấu tranh tư tưởng rất sắc bén và kịch liệt. Ông ta đang xấu hổ với những sự biểu diễn vụng về và không sáng sủa cũng như những hành vi nhục nhã của mình. Ông ta đang đau khổ vì cảnh ngộ tối tăm bi đát và bế tắc từ trên xuống dưới cũng như những người ở xung quanh. Ông ta xót xa vì không được mọi người thông cảm. Ông ta run sợ trước một tương lai rùng rợn sắp đến. Ông ta khấp khởi mừng trước một ngày mai tươi sáng đang mong đợi… Những điều Phiếm Khải nói ra, đều là đao to búa lớn, không hề lấp lửng hàm hồ, tuy rằng đều chọc vào những vết thương cũ của ông ta, vạch ra những cái không hay của ông ta, từng câu từng lời, từng sự việc lớn nhỏ, như rút thần kinh, như khoét sâu vào tim, khiến ông ta đau đớn không chịu nổi, và vết thương trên mình ông không ngừng chảy máu. Tuy nhiên ông ta không thể không thừa nhận rằng: những điều Phiếm Khải nói ra, tất cả đều sự thực, không hề có chút nào là giả dối, bịa đặt, không những thế, thái độ lại rất trung thực, nhiệt tình hừng hực như lửa cháy, mục đích chỉ là để chữa khỏi bệnh, đúng như người ta nói “thuốc đắng dã tật, sự thật hay mất lòng”. Thâu tóm những điều Diêu Hoán Tường vừa nói, Nang Ngoã rút ra được một điều kết luận là: Anh em họ Diêu một dạ chân thành, hoàn toàn có thể tin cậy được, Hoán Tường lại có tài cán hơn người, tất sẽ rất có ích.
Phải nói rằng, Phiếm Khải nói ra mỗi câu đều đúng, sự việc nào cũng đều có thật, có điều, cũng có những lời huyền hoặc chưa thật lắm. Chẳng hạn mong Nang Ngoã ra tay cứu vãn được tình thế tồi tệ này, đem quân đến nước Ngô đánh đâu thắng đấy, đụng đến chỗ nào tan chỗ ấy, dẹp được khí thế, diệt được uy phong của nước Ngô và thôn tính được cả đất đai của họ. Chúc ông ta trở thành hổ trên núi, rồng dưới biển, phượng trên rừng, là kẻ được muôn loài muông thú phải nể mặt, và còn dự đoán sau này vũ trụ bao la, trời đất mênh mông này rất có thể sẽ do Nang Ngoã làm chủ vv… và vv… Phiếm Khải gặp Nang Ngoã mới chỉ là lần đầu, làm sao có thể biết được rằng ông ta có tham vọng nắm quyền bính trong nước và bá chủ thiên hạ kia chứ? Lý lẽ rất giản đơn rằng con người phần lớn đều có lòng ham muốn riêng, địa vị càng cao, quyền thế càng lớn, càng tỏ ra tham lam hơn, dã tâm càng lộ liễu hơn. Lòng tham của Nang Ngoã, thì sớm đã nổi tiếng trong thiên hạ. Sở vương có cái gì, ông ta cũng muôn có cái ấy và tất phải có cái ấy. Nang Ngoã đường đường là một lệnh doãn, đời nào ông ta lại chịu ở dưới một người như thế này? Lòng tham vô đáy, sau khi đã có được nước Sở rồi, tất nhiên sẽ lăm le nhòm ngó ra cả thiên hạ, cho nên khi Phiếm Khải rất bóng gió và tế nhị nêu ra điều sâu kín này, ông ta không những chẳng giận quá hoá cùn, ngược lại còn coi Phiếm Khải là một người bạn tri âm hiếm có trên đời. Đã là đồ giá áo túi cơm và tầm thường mạt hạng, Nang Ngoã còn làm sao dám mong được làm hổ giữa bầy thú, làm phượng trong đàn chim và làm chúa trong trời đất? Khi Phiếm Khải chúc nguyện như vậy, lẽ nào ông ta lại không thấy chột dạ giật mình mà giận một nỗi không có nơi giấu mặt hay sao? Không, hoàn toàn không! Bởi ở trên đời này, rất hiếm khi có những người tự biết mình thật đầy đủ. Với lại thực ra, từ xưa đến nay, những kẻ quan cao tước trọng, chưa hẳn là ai cũng có chân tài thực học, thâu tóm được trời đất, mà thường thường là vùi dưới đất sâu hay lấp ở sau núi. Bản thân Nang Ngoã, học vấn đã bình thường, năng lực cũng xoàng, vốn chẳng qua chỉ là một trung đại phu, chỉ chờ hai tiếng “a… a…” của Sở Bình vương trước giờ hấp hối, mà một bước lên tận mây xanh, trở thành lệnh doãn của nước Sở. Nang Ngoã đúng là ăn may nhờ ở sự bất lực tầm thường của ông ta, chứ nếu lai vào loại trí dũng song toàn, bướng bỉnh ngang ngạnh, văn võ trong triều đình nước Sở không ai hơn được ông ta thì thử hỏi lão gian thần Phí Vô Cực liệu có đưa ông ta ra làm lệnh doãn hay không, thế nên Nang Ngoã nuôi tham vọng là điều có căn cứ, không phải là hám lợi mất khôn, mơ ước viển vông đâu. Chuyện đó người bình thường nhìn không thể thấu, biết không thể hết được, nhưng Diêu Hoán Tường thì có thể nhìn thấu suốt được, và tin tưởng chắc chắn rằng không lâu nữa sẽ trở thành một hiện thực hiển nhiên, cho nên mới thành tâm chúc nguyện như thế. Và đó cũng chính là cái cớ để Nang Ngoã tin tưởng vững chắc và tận đáy lòng kính phục Diêu Hoán Tường.
Như nước vỡ bờ, ào ào cuộn chảy, sau một thôi một hồi, rốt cuộc đã nói hết mọi điều. Phiếm Khải vái Nang Ngoã một vái dài, nói:
– Những gì cần nói, tại hạ đã nói hết, có thể nói là hết nước hết cái, lâm ly đến tận cùng. Còn như đó là thật hay giả, hư hay thực, thiện hay ác, trung hay giận, xin lệnh doãn tự nhận lấy, đi hay dừng, tiến hay lùi cũng xin lệnh doãn định đoạt. Giả sử lệnh doãn nghi ngờ anh em chúng tôi là của gian tế của quân Ngô, nhưng tình hình quân sự đã nói ra, tất cả đều là những lời xằng bậy và không có thực, mục đích là ở chỗ lừa bịp làm cho quân Sở cắn câu, có thể ngay lập tức mang chúng tôi ra xử tội chết, hoặc là làm con tin theo quân Sở, nếu phát hiện thấy bị lừa, thì sẽ đâm hàng trăm nhát, chặt ra hàng ngàn mảnh, chúng tôi chết cũng không oán…
– Sao tiên sinh lại nói thế – Nang Ngoã cũng sụp vái tận đất để đáp lễ – Nang Ngoã tôi lặn lộn trên đời hơn ba mươi năm, chưa từng gặp người nào hào hiệp và không biết run sợ, dũng cảm can trường, có tâm nhìn xa hiểu rộng, nhìn con người, sự vật và cuộc đời rõ mồn một như tiên sinh. Ngoã này nguyện kết bạn với tiên sinh, coi tiên sinh là thầy, để cùng mưu nghiệp lớn, chung hưởng vinh hoa phú quý…
– Không được! Không được! – Phiếm Khải lắc đầu xua tay – tại hạ sớm đã nói ngay từ đầu, cả đời coi thường chốn quan trường, không màng giàu sang, chỉ thích được tiêu dao thoả mái…
Bất kể là Diêu Hoán Tường có sự theo đuổi và chí thú như thế nào, Nang Ngoã vẫn cứ vái dài làm lễ nhập môn, Phiếm Khải vội cúi xuống nâng Nang Ngoã dậy, luôn mồm nói:
– Không dám! Không dám!
Sau khi đứng thẳng dậy. Nang Ngoã đã sai người lấy bạc vàng châu báu ra, dâng lên Diêu Hoán Tường gọi là chút quà để nhận thầy, sau đó mới hỏi đến ngày sinh tháng đẻ của hai người, tôn Diêu Hoán Cát ngồi trên xe cút kít là anh, gọi Diêu Hoán Tường túc trí đa mưu, anh dũng gan dạ lại thạo đường ăn nói… là em, ba người ôm nhau vui vẻ, thân như ruột thịt.
Cho đến lúc này, Phiếm Khải mới nói với Nang Ngõa về bí mật quân sự của nước Ngô. Sau khi dụ dỗ được nước Đồng phản lại nước Sở, nước Ngô e rằng nước Sở sẽ đem quân đi hỏi tội, bèn sai quân đóng giữ kinh đô nước Đồng để chống lại quân Sở, tuy nhiên binh lực thiếu dồi dào, nước Sở có thể cho quân đánh úp mà lấy. Diêu Hoán Tường nói, nếu nước Sở đưa thuỷ quân đi chinh phạt nước Ngô, quân Ngô sẽ đưa toàn bộ lực lượng đánh thuỷ ra để chống cự với quân Sở ở Trường Giang, lúc ấy quân Sở có thể ngầm sai quân trên bộ đến thẳng Thư Cưu để chinh phạt kinh đô nước Đồng. Như vậy tất phá được nước Đồng, lại được quân đội nước Ngô. Sau đó nhân dịp binh lực quân Ngô…
Nang Ngoã nghe vậy tin là thật, và cho rằng Diêu Hoán Tường không những nói có lý, mà lại có mưu sâu, nên quyết định thỉnh chị Chiêu vương mang quân đi đánh nước Ngô.
Anh em nhà họ Diêu đã ở lại phủ lệnh doãn một số ngày, Nang Ngoã khoản đãi như một thượng khách, sau đó còn tặng quà rất hậu và sai quân ngầm đưa qua biên giới. Vậy thì tại sao Nang Ngoã lại chịu thả người Thư Cưu ra như thế? Bởi vì ông ta hoàn toàn không còn nghi ngờ gì những người khách không mời mà đến này nữa, đồng thời đã tiếp nhận lời đề nghị của Diêu Hoán Tường, nên mới làm như thế. Diêu Hoán Tường nói, họ ở lại trong quân Sở sẽ không có lợi cho Nang Ngoã, sau này quân Sở có thu được toàn thắng, ca khúc khải hoàn, thì công ấy là của anh em họ Diêu, chứ không phải lệnh doãn, vậy thì, những nguyện vọng tốt đẹp kia sẽ không có cách nào thực hiện. Nang Ngoã xưa nay vốn tham lam, vơ công lao người khác làm của mình, cho nên không những chịu thả cho anh em họ Diêu ra đi, hơn nữa còn mong họ nên sớm ra đi, sợ rằng họ sẽ ở lỳ không chịu đi.
Sở Chiêu vương vẫn giữ quan điểm cũ, xem chuyện mang quân đi đánh nước Ngô như chuyện không đáng quan tâm, hơn nữa, ông ta cũng chẳng còn bụng dạ nào để tâm đến những việc này, ngoài rượu ngon gái đẹp ra, gần đây ông ta lại có một thú đam mê mới là xem voi diễn trò. Cho nên khi Nang Ngoã thỉnh thị ông ta việc đem quân đi đánh nước Ngô, Chiêu vương tỏ ra khó chịu nói:
– Ái khanh là một lệnh doãn, hoàn toàn có thể tự chủ trương lấy mọi chuyện, hà tất phải hỏi ta!…
Các đại thần trong triều, phần lớn có hiềm khích với Nang Ngoã, thừa biết rằng ông ta đánh Ngô tất sẽ thua, nhưng họ lại hết sức xúi giục, để xem một trò cười, đẩy cho con người sớm đến chỗ chết. Chinh chiến liên miên, các quan võ tuy đều thấy chán ghét, mệt mỏi, nhưng lại cũng muốn nhờ chiến tranh mà lập công thăng chức, vơ vét của cải, cho nên với chuyện mang quân đi đánh Ngô, phần lớn đều có thái độ tích cực. Khi mọi người đã không ai phản đối thế này, công việc sẽ dễ dàng rồi! Qua sự trù bị khẩn trương hàng loạt công việc, tướng lĩnh chọn xong lính tráng cũng tề tựu, chiến xa binh đao, khí giới, lương thực đều đầy đủ, chờ chọn ngày tốt để ra quân.
Để lung lạc tinh thần, khích lệ ý chí chiến đấu của tướng sĩ, trước buổi xuất quân một hôm, Nang Ngoã đã mở quốc tiệc để khao thưởng ba quân. Các tướng lĩnh nai nịt giáp mãng sẵn sàng đến dự tiệc, người nào người nấy tỏ ra oai vệ, hùng tráng rất có khí thế. Có người đầu thì chít khăn võ sĩ, thân khoác chiến bào, ngay lưng thắt bao da, chân đi ghệt đế mỏng bên nách trái cắp gươm báu thất tinh, bên phải đeo ống tên bằng trúc đốm. Có người thì vóc dáng cao lớn, mặt như tô đen, dáng như hổ đói, mình như bàn thạch, hai tay duỗi ra, như hai cái kèo nhà bếp, chỗ thì nhô lên, chỗ thì thụt xuống, bắp thịt cuồn cuộn, hai bàn tay xoè ra, như hai cái quạt. Có người thì cao lênh khênh, lưng beo mình gấu, dưới đôi lông mày rậm là đôi mắt lấp lánh sáng như lửa, đầu chít khăn võ sĩ, mình mặc chiến bào hoa trắng, ngang lưng thắt đai da, chân đi ủng da, ngang lưng đeo cây gươm báu thắt tinh… Có người mặt đen như trôn nồi rang, đôi lông mày rậm với đôi mắt lồi càng làm cho cho mũi thêm cao, cái miệng thêm rộng, vành tai to vểnh lên, trên hàm râu vừa cứng vừa ngắn, trên đầu là chiếc mũ bằng sắt đen nhánh, trên mình cũng mặc áo giáp bằng sắt ròng trong lót áo bào đen, chân đi ủng chiến lưng thắt cây kiếm dài. Có người cao tới một trượng, ngực rộng vai tròn, mặt vuông tai to, mặt như dũa ngọc, đôi mày nét mác vừa sắc vừa dài, đôi mắt hổ luôn loáng loáng như chớp giật, mũi thẳng miệng vuông đầu thắt khăn võ sĩ màu lam nhạt điểm hoa trắng, thân mặc chiến bào cũng màu lam nhạt xen hoa trắng, lưng thắt đai da, chân đi ủng đế mỏng, ngang lưng đeo kiếm ròng rọc. Có người vừa cao vừa lớn mặt mày tráng trẻo, lông mày mỏng, mắt như mắt báo, mũi như mũi sư tử, miệng rộng với vòm râu lún phún nơi cằm tương xứng đôi tai vừa vểnh vừa to, mình mặc giáp bạc. Có người đứng cao tới ngoài tám thước, mặt ranh như mặt thú, đôi mày như hai cái chổi, mắt hổ mũi sư tử, miệng báo, dưới cằm là bộ râu thép được cắt ngắn, đôi tai to vểnh lên dưới vành mũ kim khôi, trên mình khoác áo giáp ghép bằng những mảnh màu vàng chói, trong mặc áo lót màu xanh da trời, chân đi đôi hài đầu hổ… Những võ sĩ đó mà đất nước nào có được, đương nhiên là sẽ không ai thắng nổi, đã đánh là chắc thắng, không chịu thua ai! Ấy thế mà không hiểu sao lại cứ thất bại liên tục như thế? Bữa tiệc cũng có rất nhiều điểm đặc sắc, các món ăn đều làm từ cá nên gọi là “tiệc lớn toàn cá”. Chỗ này có một chuyện lý thú, cá là ngư, thừa là dư, mà trong tiếng Hán, ngư với dư cùng âm, cho nên làm bữa tiệc toàn là cá (ngư) để mong đấng quân gặp may, giết được nhiều địch, (là có dư) thứ thừa được cũng “dư”, chiếm đất cũng nhiều (dư) giành thắng lợi cũng nhiều, mà diệt quân Ngô cũng nhiều. Bữa tiệc toàn cá quả là cũng không bình thường, với đủ các loại cá, nào cá vền, cá bạc, cá chép, cá rô, cá đao, cá đối, cá trôi, cá mè, cá mạn, cá lư vv… toàn là những thứ cá quý hiếm. Các loại cá ấy, lại chế biến thành đủ loại món ăn cầu kỳ, như cắt thành miếng, thành sợi, thành lát rồi giã chả băm viên, lại còn xào nấu theo các kiểu khác nhau, nào hồng xíu, nào hầm, nào tần, nào rán, nào hấp dấm, nào xào ớt, nào chua ngọt nào vừa mặn vừa cay, vừa mặn vừa ngọt… Màu sắc cũng đủ loại khác nhau: thôi thì đủ cả vàng trắng đen xanh, chẳng thiếu thứ gì, đúng là năm màu phô sắc, đủ vị khoe ngon. Món ăn đã phong phú và sang trọng như vậy, rượu ngon càng không thể thiếu, người nọ mời người kia, chúc nhau liên tục, rồi cá cược nhau, đua tranh nhau mà uống, say lử mới thôi. Giờ Mão ngày hôm sau, điểm binh trên thao trường, rồi tế cờ, rồi tuyên hệ, sau đó mới xếp hàng, thuỷ lục cùng tiến. Từ nay đã thấy bóng tinh kỳ phấp phới, tù và rúc rền vang, ánh thép sáng ngời, người hăng ngựa khoẻ. Nang Ngoã thân chinh cầm đầu thuỷ quân ra khỏi mái Dự Chương, đi về phía nam chinh phạt nước Ngô, công tử Phồn dẫn lục quân ngầm ra Hoài Hà, qua Lục An vào Thư Cưu để đánh úp nước Đồng.