Tôn Tử Truyện

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 55 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Iv Căng Thẳng Cha Con – Ông Cháu Đi Dạo
Chương Iv Căng Thẳng Cha Con – Ông Cháu Đi Dạo

❊ ❊ ❊

Hách Trọng Tường sợ hãi quá nên mới ngất đi như thế. Thời bấy giờ, người sống thì mặc vải mặc lụa, chỉ có chết đi làm ma thì mới mặc lá cây, khoác vỏ cây, hơn nữa, người sống mà gặp ma như thế, tức là không sống ở trên đời lâu nữa.

Khỏi phải nói, cái Tết năm ấy, nhà họ Hách đâm ra phải ăn Tết trong tiếng khóc than lo buồn, Hách Trọng Tường lúc thì tỉnh, lúc thì mê, lúc tỉnh thì sắp xếp việc ma chay hậu sự, khi mê thì lảm nhảm luôn mồm, chưa hết tháng giêng đã về chầu tiên tổ.

Ngày rằm tháng chạp trước Tết, một buổi chiều, gió đông bắc rít từng cơn, tuyết bay đầy trời, một mình Điền Vũ đang luyện kiếm ở một rừng cây bên bờ sông Tri Thuỷ, bỗng thấy một bóng người từ trong lùm cây nhảy ra, chạy về phía bờ đê. Bốn bề mênh mang, tuyết trắng như bạc, vạn vật đều chìm trong tuyết chim thú cũng mất tăm, con người ấy tại sao lại náu mình trong lùm cây? Và hắn chạy ra bờ đê làm gì? Điền Vũ dự cảm thấy một việc chẳng lành xảy ra, nên xách kiếm bám theo sau người ấy. Đứng trên bờ đê ở trước mặt Điền Vũ lúc ấy, là một cậu bé đang ở tuổi vị thành niên, nhìn cái đầu cậu ta, Điền Vũ đoán cũng chỉ tầm trạc tuổi mình. Do địa hình và thế nước, phía chân đê là một đầm nước sâu, vào tháng chạp giữa mùa đông, nước ở đầm vẫn đen ngòm và từ từ cuộn chảy, sâu đến lạnh người. Chàng thiếu niên đứng ở trên đê, nhìn đầm nước như một chậu máu ngoác ra, mà kể lể, mà kêu khóc:

– Người ta cứ bảo:”trời không bịt hết đường sống, nơi tối tăm nhất vẫn có thể tìm ra ánh sáng” thế nhưng trời ơi đường sống ở đâu? Ánh sáng ở đâu? Toàn là những câu lừa bịp… Mẹ đáng thương ơi, mẹ ở đâu, hãy để cho con theo với…

Chàng thiếu niên nói xong, định lao đầu xuống nước. Điền Vũ nhanh mắt nhanh tay, người tập võ bao giờ phản xạ cũng nhanh, cậu nhảy bắn tới, đưa tay túm lấy người vừa định nhảy xuống nước.

Chàng thiếu niên chán đời ấy chính là Kế Nghiệp, theo đề nghị của Điền Vũ, cậu đã nức nở nghẹn ngào kể lại hết mọi chuyện khúc nhôi về cảnh ngộ của mình. Hôm qua, đói quá không chịu nổi, cậu đã ăn vụng thức ăn của nhà chủ giành cho chó, sau khi chủ nhà bắt được đã đánh cậu một trận tả tơi rồi đuổi ra khỏi nhà, tiền công nửa năm trời đi ở, ông chú Hách Trọng Tương chưa đến tính toán, nhà chủ tất sẽ lấy cớ cậu ăn vụng, không trả xu nào, như vậy thì ông chú cũng không đời nào tha tội. Cậu không dám chạy theo người chú vốn coi của trọng hơn người là Hách Trọng Tường nữa. Bây giờ năm hết tết đến. rồi, Kế Nghiệp thấy đã hết đường, muốn về nhà cũng không có nhà mà về, đành định nhảy xuống sông xuống đầm để chấm dứt cuộc đời non trẻ của mình…

Không biết họ đã đứng thế bao nhiêu lâu, gió vẫn cứ thổi, tuyết vẫn cứ rơi, tuy màn đêm đông sắp buông xuống, nhưng vì trời đất mênh mang, đâu đâu cũng toàn là tuyết trắng, thêm vào đó trên những đám mây, âm u kia là một vầng trăng treo lơ lửng cho thêm cảnh đêm lại được tăng thêm một chút ánh sáng, màu trắng của tuyết phản chiếu ánh trăng soi sáng khắp mọi nơi. Hai chàng thiếu niên không biết tự lúc nào đã ngồi bên nhau thổ lộ với nhau những điều cay đắng. Đột nhiên, Kế Nghiệp phát hiện ra thanh kiếm lấp loáng sáng mà Điền Vũ đang đeo bên mình; bỗng nhoài người sang, đưa tay định rút lấy. Thuận đà, Điền Vũ đã tóm chặt được cổ tay Kế Nghiệp hỏi:

– Làm cái gì thế?

Kế Nghiệp nài nỉ:

– Hãy cho tôi mượn thanh kiếm này, để tôi đi giết Hách Trọng Tường, người đã chiếm đoạt tài sản và còn làm hại mẹ tôi đến chết kia đi!

Điền Vũ tủm tỉm cười nói:

– Giết người hà tất cứ phải dùng kiếm, Hách Trọng Tường đã làm cho mẹ cậu phải chết, có phải là cũng chẳng cần dùng binh đao gì đúng không? Tại sao không dùng cách ấy để trị lại chính hắn?…

Điền Vũ nói xong, tiếp tục cười hì hì thành tiếng, rất tự nhiên thoải mái và đầy vẻ tự tin.

Cười chán rồi, Điền Vũ mới quay ra bày cho Kế Nghiệp ngón trò giết người không dao.

Những việc mà Điền Vũ đã làm ở bên người đã nhanh chóng đồn đến tai Phạm Ngọc Lan. Người ta đều kể lại nhưng sự việc, những câu chuyện xúc động ấy với Ngọc Lan với vẻ mặt và lời lẽ ca ngợi, đồng tình. Nghe những lời ca trọng và khen ngợi đó, trong lòng Phạm Ngọc Lan rất khó tả, không biết là vui vẻ hay buồn lo, bởi vì cứ thế này mãi, rất dễ dẫn đến tai ương rồi đi đến chỗ thiệt thân và mang tiếng xấu, thậm chí còn mang hoạ cho cả họ Điền. Càng nghĩ đến những nỗi sau này, Phạm Ngọc Lan càng tỏ ra lo sợ và quyết định sẽ ngăn chặn bớt những hành vi ấy của con mình, để làm sao nó có thể đem sự thông minh tài trí của mình dùng vào việc học hành và luyện võ, đặng sau này cũng như lớp cha anh của mình, văn thì có thể an bang, võ cũng có thể định quốc, để tiếng thơm trong sử xanh. Nhưng ngặt mỗi nỗi không biết phải bắt tay từ đâu, cho nên Phạm Ngọc Lan suốt ngày rầu rĩ, ăn không biết ngon, đêm đêm nằm ngủ không yên. Đúng lúc ấy Điền Bằng về nhà. Không phải ông về thăm nhà hoặc nghỉ ngơi, mà là về để dưỡng bệnh, nên sẽ ở nhà một thời gian khá lâu. Triều đình nước Tề cũng đang âm ỉ nguy cơ một cuộc nội loạn, các dòng họ Loan, Cao, Bào vv… mưu mô lừa đảo, bài xích gạt chân nhau, thâu tóm thế lực kéo bè kéo đảng… Điền Bằng e rằng mình cũng bị cuốn vào những dòng xoáy ấy, nên mượn cớ là dưỡng bệnh, về nhà tạm lánh ít ngày…

Chồng đã trở về, Ngọc Lan như trút được gánh nặng trên vai; nàng đẩy hết trách nhiệm trong việc giáo dục và bồi dưỡng cho con về phía Điền Bằng. Là một con người vừa nghiêm khắc vừa cứng nhắc, trước mặt vợ con Điền Bằng càng tỏ ra uy nghiêm và nguyên tắc cứng nhắc không ai được vi phạm. Điền Vũ vốn tính ương bướng giống như một con trâu ngang ngạnh, giắt không đi, đánh còn lùi trở lại. Do sự khác nhau về tính tình, nên đã báo trước một sự trục trặc tất xảy ra, khi cha con họ Điền chung sống với nhau, thậm chí ở một mức độ nhất định nào đó, còn có thể là sự chống đối nữa!

Nghe Ngọc Lan nôi qua về sự trưởng thành của con trai, Điền Bằng thấy mát rượi sung sướng trong lòng, vui đến mức đêm khuya vẫn chưa ngủ được. Con người ta luôn luôn đặt niềm sở cậy vào lớp người sau, mong con khôn lớn lên người, Điền Vũ đã thông minh sáng dạ tháo vát như thế, trong lòng đã thành nếp nghĩ, càng nghĩ càng khôn khéo hơn, mai sau tất sẽ trở thành rường cột. Thấy nhà họ Điền có người thừa kế, càng lớp sau càng giỏi giang hơn, Điền Bằng làm gì mà chả vui mừng sung sướng chứ! Nhưng tình cảm vui mừng sung sướng ấy, ở trước mặt con mình, không bao giờ ông để lộ ra. Ông cũng không bao giờ hé răng nói đến nhưng gì đáng được khẳng định của Điền Vũ, mà chỉ luôn luôn chỉ ra những chỗ còn thiếu sót của cậu, nhấn mạnh những điều răn đe, nêu hậu quả và sự nguy hại đến mức ghê người và đáng sợ. Con người vốn sẵn có lòng tự trọng ở một ý nghĩa nào đó, lòng tự trọng của con trẻ còn lớn hơn mạnh hơn của người lớn, thuần chất hơn và trong sáng hơn nhiều. Ngay ở buổi trò chuyện và gặp gỡ đầu tiên, giữa hai cha con, Điền Bằng đã làm thương tổn đến tình cảm ấy. Từ trong cõi sâu thẳm của tấm lòng ngây thơ của Điền Vũ, những hạt giống của sự chống đối đã được gieo xuống!

Điền Vũ thôi không đi học trường công nữa, mà ở nhà để cha tự dạy. Người xưa đã bảo “quân tử không dạy con”, bởi vì ở cái thế rất khó xử. Giáo dục thì phải dùng lý lẽ đúng đắn, cha mà dạy con, khi dùng lý lẽ đúng đắn không được, tất nhiên là sẽ nổi lôi đình. Khi đã bực bội lên như thế tất sẽ thương tổn đến tình cha con, thế nào người con cũng bực bội nói ngầm trong bụng: “Ông lấy lý lẽ đúng đắn để dạy tôi, thế nhưng bản thân ông lại không làm theo lý lẽ đó!…” Giữa người với người, sợ nhất là tình cảm bị sứt mẻ, giữa cha con lại càng như thế, cho nên người xưa mới phải “đổi con mà dạy”, để làm cho hai cha con không đến mức chỉ muốn tốt mà đâm ra trách móc nhau. Chính Điền Bằng đẽ đi ngược lại nguyên tắc giáo dục ấy, bởi ông cứ đinh ninh rằng: Tự mình dạy con mình thì sẽ nghiêm khắc hơn, đáng tin cậy hơn, yên tâm hơn… Nhưng kết quả thường hoàn toàn ngược lại, không những phương hại đến hoà khí giữa cha con mà chút nữa thôi, còn đi đến chỗ sứt mẻ trong tình cảm.

Điền Vũ học cứ như một anh chàng ăn khoẻ mà đói bụng, dù cho đầu bếp có mải toát mồ hôi ra, cũng khó mà nhét cho đầy cái bụng đói của cậu; và cũng giống như một cái thùng không đáy, mặc cho ai đó có nhét vào đầy dù là bạc vàng châu báu hay mảnh sành. mảnh gạch, thượng vàng hạ cám nó đều chứa được hết. Cậu rất giống một con tuấn mã, bất kể là chất lên mình có bao nhiều đồ đạc, cũng không đè ngã được. Người cha vừa giảng xong bài, sắp xếp công việc cần cho học tập thoáng một cái, con trai đã hồ hởi chạy ra ngoài đùa nghịch rồi. Những đòi hỏi mà Điền Bằng đưa ra với con mình, cũng giống như ngày xưa ông nội Hoàn Tử Vô Vũ từng đòi hỏi chính bản thân ông vậy, suốt ngày ngồi trong phòng học, ngắc ngư cái đầu mà ra rả kêu “chi hồ giả dã”. Từ trong đáy lòng, ông cảm động trước sự giáo dục và bồi dưỡng của ông nội mình: Nếu không có sự trừng phạt nghiêm ngặt ngày nào của ông nội, thì ông làm gì có được tri thức và học vấn như lúc này. Điền Vũ ngược lại giống y như một con ngựa bất kham, ở trong phòng học rất ít khi thấy bóng cậu ta. Khi người hầu đi tìm được cậu về, kiểm tra việc học hành, thì cậu lại luôn luôn đọc vanh vách ra trơn như cháo, trả lời câu hỏi cũng luôn luôn trôi chảy, làm Điền Bằng bỗng như một quả bóng xì hơi, trong nháy mắt đã quên hết bực bội, lại bắt đầu giảng sang bài mới, tăng thêm nhiều cho gánh nặng của cậu.

Một đứa trẻ mười mấy tuổi, phần lớn là tinh nghịch, hiếu kỳ, ham chơi, ý chí lỏng lẻo, khả năng tự kiềm chế tương đối kém, thì Điền Vũ cũng không phải là ngoại lệ, nên cậu thường quên nhiệm vụ học tập mà cha mình đã sắp đặt. Mỗi khi như thế, cậu thường bị phạt rất nghiêm. Điền Bằng thường phạt con bằng hai cách, một là quỳ lên ghế, một cách nữa là dùng thước đánh vào lòng bàn tay.

Trong phòng học, Điền Vũ quỳ trên chiếc ghế băng hai người ngồi, vì cậu không học thuộc bài mà người cha đã sắp đặt cho. Điền Bằng bắt con quỳ trên ghế mà nghĩ, cho đến lúc nào nghĩ ra mới thôi. Điền Vũ không phải vì đọc không thuộc mà quên, cậu thường đọc qua một lượt, nắm được nội dung là mãi không bao giờ quên. Nhưng lúc này vì quá mải chơi, nên cậu chưa học qua một lượt, giờ thì lấy đâu ra mà nhớ lại? Cậu quỳ ở đấy, nước mắt ròng ròng như hai dòng suối, thánh thót nhỏ xuống không ngừng. Cậu quỳ đến đau đầu gối, đến tê dại, quỳ đến sưng lên, đến nứt ra, giữa mùa hè, từng giọt máu tươi thấm ướt cả vạt áo. Người cha hoặc là giận dữ hằm hằm ngồi ở trước mặt yên lặng để xem con trai nhớ ra như thế nào, hoặc chắp tay sau lưng, đi đi lại lại trong phòng, gót chân nện xuống đất nặng nề, cong cóc kêu lên thành tiếng, để chờ cho cậu con nhớ ra, hoặc bỏ mặc đấy, ra bàn đọc sách đề cho cậu dần dần nhớ lại. Kỳ thực những lúc thế này, đầu óc của Điền Vũ như một cánh cửa đã khép chặt, cậu chẳng cân nhắc gì, chẳng nghĩ đến một cái gì hết, để mặc cho người cha giận dữ giày vò, bắt quỳ lâu quá, đến mức bỗng trượt từ trên ghế xuống đất. Ngọc Lan với bà mẹ chồng đứng ở ngoài cửa, nước mắt lưng tròng, ruột đau như thắt, nhưng họ cũng không dám vào để mang Điền Vũ ra ngoài, bởi họ là đàn bà. Cũng là đàn bà, thế nhưng bà nội của Điền Bằng thì lại khác. Trong Điền phủ, bà. có uy quyền cao hơn ai hết, Điền Thư cũng còn phải tỏ ra hết mực cung kính với mẹ già của mình. Sau khi cụ cố biết tin, gậy đầu rồng gõ cồng cộc lên nền đất, cụ đến trước cửa gian phòng học, đẩy đánh “uỳnh” một nhát cho cửa bật ra, trừng mắt nhìn Điền Bằng một cái, có lúc còn đưa gậy chỉ lên tận đầu ông ta, không nói không rằng, đỡ Điền Vũ từ trên ghế đứng xuống đất, rồi dắt ra ngoài. Chỉ có cụ nội là mới giải được vây trong trường hợp này, cụ nội là đại cứu tinh của Điền Vũ. Dần dần Phạm Ngọc Lan và bà mẹ chồng cũng rút ra kinh nghiêm, mỗi khi thấy Điền Vũ phải quỳ trên ghế, bèn đi bẩm báo với bà nội chồng. Bà cụ mà đến, là mọi sự đâu vào đấy hết ngay, trong lòng Điền Bằng dù có bực bội đến mấy đi nữa, cũng không dám làm gì. Dần dần, Điền Vũ đã nghiệm ra một quy luật, phải quỳ trên ghế cũng chẳng có gì đáng sợ, cứ quỳ một hồi rồi sẽ có cứu tinh từ trên trời xuống. Từ đó, cậu không còn coi bài vở mà cha của mình sắp đặt cho là cái gì nữa, quên mất không nói làm gì, còn không quên cũng không học đến nơi đến chốn. Cha con xung khắc với nhau, lời qua tiếng lại với nhau, khiến Điền Bằng tức giận đến trợn tròn cả mắt lên.

Nỗi đau khi bị thước kẻ đánh vào lòng bàn tay cũng chẳng kém gì phải quỳ trên ghế băng, vì có lúc bàn tay bi đánh sưng vù lên như một cái chân giò. Đương nhiên những bề trên có kinh nghiệm thì không bao giờ đánh vào bàn tay phải, vì chẳng may nếu bàn tay phải mà sưng lên thì không thể cầm bút viết chữ được và cũng không cầm được đũa ăn cơm. Làm cha mà giày vò tàn khốc con mình như thế, chẳng lẽ ông không đau lòng hay sao? Nghe đâu, đấy mới chính là sự thể hiện của lòng yêu, lý luận của trường phái này là “yêu cho vọt ghét cho chơi”, “yêu cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi”, hoặc là bảo “ghét sắt thì không thành thép” cho nên mới phải cho vào lửa, phải nấu luyện. Những người ấy còn có cả những lời di huấn của tổ tiên, nào là “nuôi không dạy, sai ở cha; dạy không nghiêm, do thầy nhác”. Ở đây Điền Bằng vừa là cha, lại vừa là thầy, với Điền Vũ đương nhiên là phải dạy cho nghiêm, phải rèn cho thành thép. Dưới sự chỉ đạo của những lý luận đó, Điền Bằng có phạt roi con trai cũng chẳng qua là bột phát từ lòng yêu con, nên có thể dằn lòng được. Sức mê hoặc vào lý luận của trường phái này rất mạnh, tuổi thọ của nó cũng khá dài, cho đến tận hai ngàn năm trăm năm sau cũng còn có rất nhiều bậc làm cha làm mẹ, làm phụ huynh vẫn dốc lòng tin. Tuy nhiên, con người suy cho cùng không phải là gang thép, mà con người là một động vật có cảm tình. Kết quả rèn luyện kiểu ấy của Điền Bằng, thực sự đã biến tình cha con và lòng yêu nhân luân thành gang thành thép lạnh tanh, thành một thế lực chống đối. Nên bất kể là cha mình đánh thế nào, Điền Vũ cũng không rụt tay lại nữa, cũng chẳng xin tha, mà chỉ nghiến răng lại và im lặng khóc thầm, trong lòng bỗng cháy lên ngọn lửa chống đối, dồn nén sức mạnh trả đũa.

Một hôm, do Điền Vũ không trả lời được câu hỏi của cha mình đặt ra nên phải phạt đòn. Người cha cầm lấy thước, Điền Vũ chủ động chìa bàn tay trái ra, ngửa tay lên đón đợi cây thước đánh xuống. Khác với những học trò khác khi bị đòn, nói chung khi thấy ông thầy cầm cây thước giơ lên, học trò thường rụt tay ra phía sau, ông thầy thấy vậy càng tức nên càng đánh dữ hơn. Điền Vũ thì không thế, cậu chủ động chìa tay ra, sân sàng nhận hình phạt của thầy giáo, hoá ra lại thường thức dậy lòng thương hại của thầy, nên có khi lại đánh nhẹ tay hơn. Điền Bằng cũng khác với thầy giáo khác, bởi vì ngoài ông thầy, ông còn là một người cha, thấy con trai chủ động chìa tay ra, thì nỗi tức giận không chỉ là một phía, và thế là nghiêm trị không tha. Hôm nay lại có điều hơi khác thường, bởi gần đây thấy con ôm đau luôn, sức khoẻ không được tốt lắm, câu hỏi ông nêu ra cũng hơi khó làm cậu chưa trả lời được ngay, nên ông thấy có thể tha thứ được. Thế nên tuy giơ thước nên rõ cao, nhưng khi vụt xuống, ông không dùng sức bao nhiêu, thế mà khi cây thước vừa chạm vào lòng bàn tay, liền rời ra rơi tứ tung, vỡ vụn làm nhiều mảnh. Điều đó khiến Điền Bằng băn khoăn không hiểu tại sao, còn cậu con trai thì hiểu rất rõ, cậu đang thầm chúc mừng cho thắng lợi của mình.

Cụ cố nghe tin lật đật chạy tới, không cần hỏi đầu đuôi xuôi ngược ra sao, vung cây gậy đầu rồng lên phang lia lịa vào Điền Bằng. Không dám chống lại, cũng không dám chạy đi, Điền Bằng chỉ cố đưa tay đỡ và xin bà bớt giận. Cụ cố vừa đánh vừa mắng:

– Tao đánh cho chết cái quân súc vật này đi! Hổ dữ còn không nỡ ăn con, thế mà mày lại nỡ ra tay độc ác với con mày như thế!…

Sau khi mắng mỏ một hồi như thế, cụ cố dắt tay Điền Vũ bước ra. Được mấy bước còn hậm hực quay lại nói:

– Chưa hết chuyện đâu! Thằng bé mà có làm sao thì để xem tao tính chuyện với mày thế nào, nhé!…

Cây thước làm bằng gỗ, làm sao lại có thể vỡ vụn ra như thế được? Thì ra hàng ngày ra nhà xí, Điền Vũ thấy vữa với gạch bị tróc ra từng mảng, tuy không biết được tại sao như thế, nhưng cậu ý thức được rằng: Phân người là thứ rất ghê gớm. Phân làm cho gạch ngói còn phải hỏng, thế thì, cây thước làm bằng gỗ đối với thứ đó là cái gì, thế là hàng ngày cậu lén lấy cây thước mà cha mình vẫn dùng để đánh mình ra ngâm vào nước phân. Quả nhiên không ngoài dự đoán, sau một số ngày tháng làm như thế, nó mới biến thành một thứ bở như vôi, không chịu nổi một nhát vụt như thế.

Sức mạnh của phong tục cũng không phải là nhỏ bởi thế cũng là thứ rất đáng sợ. Ngay cả những nơi danh môn lệnh tộc như Điền phủ đây cũng không ở ngoài sự ràng buộc đó, nhà xí vẫn xây lộ thiên. Ở vào thời xa xưa, khi chưa có nước để xối rửa, thì thực tế là rất khoa học rất vệ sinh, tuy không tránh khỏi nỗi khổ những khi mưa gió, nhưng mùa hè đỡ phải chịu mùi hôi thối xông lên. Nhà xí thuộc khu nhà ở của Điền Bằng tương đối rộng, đến mùa xuân, trên cành còn nở đầy hoa, toả mùi hương thơm ngát. Hố phân, hoa đào, ấy thế mà lại gây nên hứng thú! Thời gian cứ trôi đi, hoa đào trên cành tàn tạ hết, nhưng ở phía gốc cây, lại mọc lên một nhánh chồi cây. Đến khi Điền Bằng về tới nhà, chồi cây ấy đã lớn bằng ngón tay cái rồi. Điền Bằng chinh chiến nơi xa trường, phần lưng từng đã bị thương nặng, đứng ngồi không được thoải mái lắm, khi ra hố xí hoặc ngồi xuống hay muốn đứng lên, thường quen vịn vào cành đào mới mọc thêm này. Hôm ấy, ông lại ra nhà xí, bám vào cành đào ấy, đang định ngồi xuống, cái cành cây ấy bỗng gãy rời ra, Điền Bằng ngửa người rơi xuống hố phân. Cũng còn may hố phân vừa mới dọn xong, ở dưới có lót một lớp đất mùn, nên ông vừa không bị rơi ngập trong nước phân, mà cũng không đến nỗi bị ngã đau, nếu không, hậu quả của nó không biết còn bi đát đến đâu. Mặc dù vậy, vì kinh hãi, Điền Bằng đã ốm mất mấy ngày.

Biết con không ai bằng mẹ, Phạm Ngọc Lan ngầm hiểu trong lòng đây là cái trò quỉ quái mà Điền Vũ bầy ra để trả thù vặt với cha mình, thế nhưng bà không dám nói với chồng sợ sẽ làm cho ông bực mình và đưa đến sự xung độ lớn hơn giữa hai cha con. Phạm Ngọc Lan từng mong ngày mong đêm cho chồng sớm trở về để cùng với mình quản lý và giáo dục con. Nào ngờ mới về đến nơi, cha con bỗng thành thù địch, và cứ thế này mãi thì sao được rồi chẳng hoá ra sẽ đi đến chỗ bên sứt đầu, bên mẻ trán hay sao. Càng nghĩ đến nông nỗi sau này, bà càng thấy sợ và bất giác rơi lệ khóc thầm. Cũng may là thôn Điền Ban ở gần kề ngay Lâm Tri nên thường có những người phu trạm đi đi về về. Khi nghe tin bố chồng vừa ở chiến trường chiến thắng trở về, Phạm Ngọc Lan liền nhờ người đưa thư mời ông về nhà ngay.

Điền Thư về đến nhà, nghe con dâu Phạm Ngọc Lan kể lại từng vụ việc về xung đột xảy ra giữa hai cha con Điền Vũ, ông không hề trách cháu mình, mà đã răn dạy con mình một trận đến nơi đến chốn.

Điền Bằng ngã ở hố xí, quả đúng là do con trai bày trò ngỗ ngược gây nên, cả quá trình đó lại chính ở mồm Điền Vũ tự nói ra với ông nội mình.

Qua quan sát lâu ngày, Điền Vũ đã nắm được quy luật và thói quen của cha mình khi đi đại tiện, cậu đã lấy dao cắt tiện vòng quanh cành đào mà cha mình hay vịn khi ngồi xuống đứng lên; khiến cho nó gần đứt hẳn ra, để khi ông dùng sức bíu vào đấy, cành đào sẽ tự nhiên gãy ra làm ông mất đà ngã ngửa. Còn như việc lại sắp đặt để xảy ra ở hố phân mới hót là chẳng qua làm con cũng chỉ muốn báo thù vặt để nhắc nhở ông một chút, cho ông thấy một bài học vậy thôi, chứ không hề muốn đẩy ông đến chỗ chết. Nghe Điền Vũ kể lại mọi chuyện có ngành có ngọn như thế, Điền Thư chẳng những không hề nổi nóng, ngược lại còn ngửa mặt cả cười, bởi thực chất đây là một trận đánh bằng mưu lược rất đặc sắc và khéo léo.

Ngày thứ ba sau khi Điền Thư về nhà, đã cử hành một buổi lễ tế tổ rất to và long trọng, khi mọi thủ tục thắp hương, chuốc rượu, hành lễ, đọc chúc vv… đều đã xong xuôi, mọi người lần lượt ra về, trong gia miếu lúc này chỉ còn lại hai ông cháu là Điền Thư và Điền Vũ. Trước những thứ như tộc phả, thần chủ, bài vị, tế khí vv… Bầy chật trong gian miếu, Điền Thư đã kể cho đứa cháu nội yêu quý của mình về gia sử dài dòng của tiên tổ mấy đời của họ Điền.

Trần Lịch Công tên là Tha, là con út của Trần Văn Công, mẹ ông là Thái Thị. Văn Công chết, con trai cả là Bào được lên ngôi, đó là Hoàn Công. Hoàn Công với Tha khác mẹ, thời gian ở ngôi rất ngắn, bỗng mắc bệnh nặng. Người của Thái giết Hoàn Công và thái tử Miễn, lập Tha, đó chính là Trần Lịch Công. Lịch Công có phu nhân là Thái Thị, sinh con trai tên là Hoàn. Con thứ của Hoàn Công là Lâm, oán hận Lịch Công đã giết cha anh mình, bèn mua chuộc người của Thái dụ Lịch Công mà giết đi. Lâm tự lên ngôi, tức là Tráng Công, cho nên Trần Hoàn không được lập, làm Trần đại phu. Tráng Công chết, lập em là Chử Cữu lên ngôi, đó là Tuyên Công. Năm Tuyên Công thứ hai mươi mốt, giết Thái tử của mình là Ngư Khấu. Trần Hoàn với Ngư Khấu thân nhau như một người, e luỵ đến thân, bèn trốn sang Tề. Thấy Trần Hoàn dáng vẻ bệ vệ, nói năng khác thường xem ra rất có tài chọc trời quấy nước, cho nên Tề Hoàn Công muốn phong cho làm khanh. Trần Hoàn nghĩ rằng, ở xa Tổ quốc, lưu vong ở nước người, chẳng có công lao gì, nếu ở địa vị cao, tất sẽ bị quần thần đố kỵ. Quần thần mà đố kỵ tất sẽ luỵ đến thân cho nên đã khăng khăng không nhận, mà nói: “Thần ăn đậu ở nhờ, may mà không chết, đã mang ơn vua lắm rồi, không dám ở ngôi cao” đưa đẩy mấy lần, không còn cách nào, Hoàn Công sai làm công chính, công chính là người đứng đầu trăm nghề. Đó là chuyện từ năm Tề Hoàn Công thứ mười bốn, Ý Trọng của nước Tề đem con gả cho Trần Hoàn làm vợ.

Sau khi chạy sang Tề, Trần Hoàn không muốn gọi bằng tên cũ ở nước mình, thế là đổi Quỳ Tự thành họ Điền, sau khi chết được truy phong là Kính Trọng. Một vương tộc của nước Trần được sinh sôi nảy nở ở nước Tề như thế đó: Từ Trần Hoàn, đến Trĩ Mạnh Di, đến Dẫn Mạnh Trang, đến Văn Tử Tu Vô, đến Hoàn Tử Vô Vũ. Vô Vũ sinh được ba người con: Con trưởng là Vũ Tử Khai; con thứ là Li Tử Ngật, con thứ ba là Điền Thư, tự Tử Chiếm. Điền Hoàn Tử Vô Vũ có sức khoẻ vật được hổ theo Tề Trang Công, rất được sủng ái.

Thời Cảnh Công mới lên ngôi, bốn nhà đại quý tộc là Cao Đường, Loan Thi, Điền Vô Vũ, Bào Quốc nắm hết triều chính. Bốn dòng họ ấy chia làm hai phái, hai nhà Loan, Cao thân nhau; hai nhà Điền, Bào thân với nhau, hai bên xâm lăng nhau, loại trừ nhau, đối lập nhau như nước lửa. Bỗng một hôm, họ Điền và họ Bào liên quân đánh họ Loan và họ Cao. Vì họ Loan họ Cao không có sự đề phòng, bị thua phải chạy sang Lỗ. Điền, Bào đuổi vợ hai nhà kia đi, tịch thu toàn bộ thực ấp và gia tài của họ, đăng ký lập sổ sách, rồi dâng lên Cảnh Công, Cảnh Công mừng hết chỗ nói. Mẹ của Cảnh Công là Mạnh Cơ, tham lam hám lời, Điền Vô Vũ đã dâng cho bà một số châu báu. Mạnh Cơ rất lấy làm cảm động, nói với Tề Cảnh Công: “Điền Vô Vũ giết hết nhà Đường, mở rộng chấn hưng công thất, công lớn như thế, sao chẳng lấy đất Cao Cường mà ban cho hắn?”. Theo lệnh mẹ, Tề Cảnh Công đã đem đất Cao Đường phong cho Vô Vũ, họ Điền càng giàu thêm, thế lực càng mạnh hơn…

Nghe ông nội giới thiệu và giảng giải như vậy, trong lòng Điền Vũ bỗng thấy có gì xao xuyến, thì ra tổ tiên nhà mình đều là những bậc anh hùng hào kiệt. Là lớp cháu con đời sau của họ, mình cũng phải làm thế nào tự vươn lên thành tài, mới khỏi phụ lại niềm sở cậy của lớp lớp tổ tiên? Lần đầu tiên cậu nghĩ đến vấn đề này. Đồng thời cậu cũng thầm oán trách cha mẹ mình, tại sao không sớm đưa cậu đến đây để xem như thế này và nói cho cậu nghe thật nhiều về công trạng của tổ tiên như thế?…

Hôm sau, Điền Thư đưa cháu đến Mai Cúc trai tham quan nơi tàng thư. Mai Cúc trai là tên thư trai của nhà họ Điền, đại khái lấy ý của bài ngạo tuyết linh sương. Phía trước là một thư phòng quy mô rất lớn, ở đây môi trường yên tĩnh, bày biện đơn sơ và sang trọng, không khí trong lành, ánh sáng đầy đủ, rất thích hợp để xem sách, viết lách về học thuật, trong phòng có bốn năm thanh niên đang bận rộn với công việc, hoặc đọc các thẻ sách, hoặc đang phục xuống bàn viết lách… Thấy Điền Thư tới, mọi người đều dừng công việc đứng dậy chào ông. Điền Thư nói với cháu mình rằng những người này đều thuộc dạng trí thức uyên bác, văn hay chữ tốt, họ đang thực hiện theo ý của ông, biên soạn một cuốn sách mới về mặt quân sự, tên của cuốn sách này còn chưa xác định. Phía sau của thư phòng là căn gác hai tầng, tầng trên tầng dưới xếp đầy những sách, Điền Vũ đi theo ông nội mình để xem, ông còn liên tục chỉ dẫn, giải thích cho cậu. Ở đây có “tam phần”, đó là sách của Phục Hy, Thần Nông, Hoàng đế; có “ngũ điển”, tức là sách của Thiếu Hạo, Chuyên Húc, Cao Tân, Đường Nghiêu, Ngu Thuấn vv… có “Bát sách” tức là những sách sớm nhất về bát quái; có “Cửu khưu” tức là sách về đất đai, phong tục tập quán của Cửu Châu; có “Thừa” của nước Tấn, có “Đào ngột” của nước Sở vv… là sách sử của các nước; lại có “thi” ghi chép về vật, “thời” ghi chép về tuổi tác, có “hành” nói về điều lợi hại của dân; có “bốc” để xem lành dữ; có “thế” ghi chép về các thế hệ tiên vương; có “lệnh” ghi chép vế sự nghiệp của bách quan; có “ngữ” ghi những điều hay về trị nước; có “cố chí” ghi về những thành bại của người đời trước; có “huấn điển” ghi chép về ngũ đế, có sử sách các triều đại, như “Hạ thư”, “Thương thư”, “Chu thư” vv…; có “Số” để ghi chép về ý nghĩa của chín con số; có “Hạ thời” ghi chép về bốn mùa ở nhà Hạ; có “Càn khôn” ghi về âm đương thời Ân – Thương; lại có cả “đồ” và “pháp”. Ngoài ra còn có đủ các loại sách và các loại tư liệu văn hiến về đủ mọi mặt như thiên văn, lịch pháp, y dược, nông tang, công nghệ, dân ca, thần thoại vv… Và có các bản khác của một số sách khác. Nhiều hơn cả là những sách và tư liệu hồ sơ về mặt quân sự, như “Hoàng đế” thập lục biên, “Thần nông binh pháp”, “Lục thao” của Khương Thái Công; những bài về quân sự trong các sách “quân chính”, “quân chí”, “binh lược huấn trong Hoài Nam Tử”, “liệt tử”, “chu dịch”, “chu lễ”, “Thượng thư”, “Thi” vv… Như các chiến dịch nổi tiếng trong lịch sử các thời đại, Tề Hoàn Công và Quản Trọng, chinh chiến sa trường của tổ tiên họ Điền… Ôi! Có thể nói là một đại quân về sách, một dòng sông lớn về thư tịch, một biển tư liệu. Điền Vũ đang thầm ca cẩm: Sao cha mẹ lẩm cẩm thế, lại cứ lấy ở đây ra từng quyển bắt con đọc, bắt con thuộc lòng, mà không làm như ông nội là đưa con đến đây để mở rộng tầm mắt cho con, cho con được nhìn nhận cuộc đời… Thế rồi cậu lại như hỏi lại chính mình: “Điền Vũ ơi là Điền Vũ! Sách nhiều như thế này, mày đã đọc được mấy quyển? Và có những quyền nào là do mày viết ra?… Cậu ngầm nêu ra quyết tâm: Từ nay về sau sẽ hàng ngày đến đây đọc sách, cho đến bao giờ đọc hết những quyển sách có ở đây mới thôi!…

Điền Vũ thấy sách là mê ngay, như một người đói ngồi vào bên mâm cơm, Mai Cúc trai trở thành gia đình duy nhất của cậu, ăn ở đấy, ngủ ở đấy, chân không bước ra ngoài, lòng không nghĩ việc gì khác, cậu gần như một kẻ xuất gia tu hành. Cậu không đến học trường tư ở nhà mình nữa, thày giáo mới được mời đến, phải tới Mai Cúc trai để dạy học, giảng giải và chuẩn bị bài vở, mặc dù bài vở chất thành đống cao như núi, nhưng chỉ trong chốc lát cậu đã làm xong hết một cách dễ dàng để nhảy vào cái biển sách mênh mông kia, bắt đầu bơi lội, vật lộn với sóng gió. Sự ăn uống của Điền Vũ bắt đầu giảm sút rõ rệt, quầng đen trên hốc mắt cậu cũng sâu thêm, người mỗi ngày một ngày xọp đi tính cách cởi mở sôi nổi cũng dần dần mất đi không còn dấu vết gì, thay vào đó là vẻ mặt tư lự ít vui, ngơ ngơ ngẩn ngẩn. Cha cậu đâm lo lắng, mẹ cậu thì sợ hãi, bà nội thì thở ngắn than dài, cụ cố thì đang trách mắng con trai mình là Điền Thư, một ông già đã bước sang tuổi sáu mươi, thế nhưng Điền Thư vẫn cứ làm như không có gì xảy ra, một mực cười trừ. Ông sớm đã tính toán đâu vào đấy, mùa xuân năm. tới thì sẽ mang theo thằng cháu yêu của mình đi khỏi nhà này.

Tháng ba giữa mùa xuân, đào hồng liễu xanh, sẻ bay én liệng, trên giải đất mênh mông của nước Tề là một cảnh tràn trề sức sống, núi đang reo mừng, sông đang ca hát, từng luống đất mỡ màng mới lật lên toả mùi thơm đồng nội đến say lòng người, nông dân đang cầy cấy trên đồng, gieo hạt giống tương lại cho cả một năm. Thời tiết quả là tươi đẹp, không khí cũng vô cùng trong lành, nắng vàng rực rỡ, gió xuân ấm nồng… Cảnh trí thiên nhiên thật là như thơ, như hoạ, khiến người ta ngắm không chán mắt, đẹp chẳng gì sánh bằng, ấy thế mà con người là chúa của muôn loài giữa lúc này lại đang sầu khổ, chẳng hài hoà chút nào và cũng rất không tương xứng với sắc điệu tràn trề ý xuân kia. Giữa vụ cấy trồng mùa xuân, đồng áng không ra chiều bận rộn, đây đó một vài nhóm dăm ba người, lẻ tẻ, rời rạc đi gieo hạt, mà phần lớn là người già, trẻ con và đàn bà, hoạ hoằn lắm, giá có một chàng trai nào xuất hiện thì cũng khiến mọi người đổ dồn mắt vào mà nhìn như một vật lạ ở nơi đây. Con bò già cúp tai gằm đầu xuống nặng nề kéo cái cày phía sau, loạng choạng ì ạch bước đi trên cánh đồng trống mênh mông, cụ già cầm cày đi phía sau lòng nặng trĩu, mặt ủ mày chau loạng choạng bước theo, thỉnh thoảng lại uể oải vung roi giục bò. Tiếng giục cày của con người mang theo niềm bực bội, tiếng roi rít lên như trút nỗi phiền muộn ưu tư, tiếng con bò rống lên nghe ấm ức nghẹn ngào. Đấy là một bức tranh kỳ lạ, nhưng lại không hiếm thấy chút nào – giữa mùa xuân mà mang nét lặng lẽ của mùa thu, tẻ lạnh của mùa đông. Hai ông cháu cùng ngồi chung một cỗ xe, ngựa quen nên để lỏng dây cương, lắc la lắc lư tiến về phía trước, như người đi du xuân, vào hội đạp thanh, nhìn trời ngắm cảnh, rồi chỉ trỏ, rồi bình phẩm, thật là tự do thoải mái. Tuy nhiên, nhìn thấy cảnh lặng lẽ tẻ lạnh ở trước mặt, Điền Thư bất giác buông một tiếng thở dài. Điền Vũ không hiểu sao, liền hỏi:

– Ông ơi! Tại sao ông lại thở dài, chẳng lẽ cảnh mùa xuân thế này mà không đẹp hay sao?

– Nắng xuân rực rỡ, sắc xuân say lòng người – Điền Thư đáp – thế nhưng trong lòng người nông dân bị đè nặng tời ngàn cân…

– Ngàn cân đó ]à cái gì vậy ông? Điền Vũ đã cắt ngang lời ông nội mình.

– Là chiến tranh, là chiến tranh tội ác – Điền Thư căm hờn phẫn uất – chiến tranh cướp đi biết bao nhiêu sinh mạng của thanh niên trai tráng, chiến tranh khiến muôn vạn dân lành cha xa con, vợ xa chồng, cửa tan nhà nát, chiến tranh khiến cho vườn ruộng hoang vu, trăm họ áo không đủ che thân, cơm không ấm bụng, chiến tranh…

– Đã thế tại sao ông còn cứ mang quân đi đánh trận, thế chẳng hoá ra là đi làm điều ác nghiệt hay? – Điền Vũ mở to đôi mắt kinh ngạc và ngờ vực.

Điền Thư lại thở dài một tiếng, nói:

– Cháu còn nhỏ, chưa hiểu được những lý lẽ ở bên trong đó. Thí dụ như có một con sói ác đang nhe nanh múa vuốt vồ vào cháu, thì cháu làm thế nào? Liệu có phải vùng lên mà đánh chết nó đi không?

– Đương nhiên là phải đánh chết nó rồi! – Điền Vũ nói thẳng không một chút hàm hồ – mình không đánh chết sói, sói sẽ ăn thịt mình ngay.

Điền Thư thở ra một hơi nhẹ nhõm:

– Phải rồi! Thế cho nên ông mới phải luôn luôn đem quân đi đánh giặc…

Điền Vũ hỏi:

– Ông tốt thật đấy! Quanh năm đi xa, chịu đựng vất vả để đánh sói… – Bỗng dưng cậu dừng lại, mặt đờ đẫn nhìn sang ông nội mình, hỏi tiếp – Ông ơi! Có phải nước Tề chúng ta cũng là một con sói dữ, đang đi khắp nơi đe doạ bắt nạt các nước nhỏ yếu khác không ạ?

– Cái đó – Điền Thư bỗng tắc tịt. Lão tướng ở xa trường bị một thằng bé con hỏi cho tịt mít.

Một hôm, hai ông cháu họ đến bên bờ Bắc Hải. Đứng trước biển rộng mênh mông không bờ bến, đón những con sóng bạc đầu gầm réo ì ầm, Điền Thư đã nói với cháu về sự bao la của biển, về sự cống hiến của biển, về công lao của biển. Thuyền trên biển như những chiếc gáo dừa, dập dờn ẩn hiện trong sóng gió, hải âu bay giỡn trên đầu sóng, chim én biển xuyên mây bay tít tận từng cao, đi đón lấy tiếng sấm ì ầm ở mãi một phương trơi xa. Tất cả những cảnh vật đó, không cái nào là không gây nên trong lòng Điền Vũ một niềm hứng thú, cậu chỉ chỗ này chỗ khác, luôn mồm hỏi gần rồi lại hỏi xa. Nhân thể đây, ông cũng đã kể cả cho cháu nghe về sự can đảm của những ngư phủ, sự kiên nghị của chim hải âu, sự gian ác của chim én biển.

Từ bờ biển trở về, vượt qua bờ cát, xuyên qua rừng cây, trước mặt là đồng muối mênh mông bát ngát, trên đồng muối điểm xuyết những căn lều tranh, như bầu trời trong điểm xuyết những vì sao lấp lánh. Trên mỗi một cái lều tranh đó, đều nhô lên một chiếc ống khói cao cao, cuồn cuộn tuôn ra những làn khói trắng, xung quanh những mái lều tranh ấy thấp thoáng có bóng người ra dáng tất bật và cực nhọc lắm. Trên bãi cát, trong rừng cây hay trên cánh đồng muối mênh mông, từng toán dăm ba người, đàn ông cũng có, đàn bà cũng có đi lại như mắc cửi, da họ đen bóng, áo quần lam lũ lôi thôi, đầu đội nón mê vai gánh một đôi thùng gỗ, trong thùng sóng sánh đầy nước biển. Ông nội bảo với Điền Vũ rằng đó là những người thợ làm muối, họ đang miệt mài gánh nước biển về để lo nấu muối. Giàu về nguồn lợi muối và cá, là đặc điểm của kinh tế nước Tề, và cũng là một nguyên nhân quan trong khiến nước Tề giàu mạnh.

Đi chơi trở về, trong đầu óc của Điền Vũ luôn luôn trào lên những lớp sóng, và sống động mãi hình ảnh những người dân cùng khổ miệt mài cày bừa hay cặm cụi gánh từng gánh nước biển lên để nấu muối. Cậu không chỉ một lần mơ mấy mình ngồi trên một chiếc thuyền con, cưỡi lên sóng gió lướt ra hiển lớn để tới bến bờ bên kia, hoặc có lúc thì biến thành một con hải âu, sải cánh bay lượn trên mặt biển mênh mông và xanh như ngọc bích, vui sướng làm sao, tự do thoải mái làm sao, có lúc cậu cười lên thành tiếng và tỉnh giấc.

Gió xuân nhè nhẹ, nắng xuân dịu đàng, dương khí bốc lên, cho nên về mùa xuân là dễ buồn ngủ nhất, chẳng thế mà có nhà thơ đã nói “giấc xuân quên thức dậy”, ấy thế mà có một đêm xuân năm 531 trước công nguyên, Điền Vũ cứ trằn trọc mãi, sung sướng đến nỗi không sao chợp mắt nổi, bởi vì ngày hôm sau, ông nội sẽ dẫn cậu đi thăm kinh thành Lâm Tri.

Thôn Điền Ban cách Lâm Tri chỉ khoảng hơn bốn mươi dặm, nhà họ Điền lại mấy đời làm quan trong triều đình nước Tề, hiện nay ông và cha của Điền Vũ xem ra được vua nước Tề nể vì là nhân vật quyết định đến vận mệnh của nước Tề. Thế nhưng vì họ Điền mấy đời nay làm quan thanh liêm, gia quyến luôn luôn ở xa kinh đô. Điền Vũ đã mười mấy tuổi rồi, thế mà vẫn còn chưa đến Lâm Tri bao giờ. Mặc Dù chưa từng đến đó, nhưng cậu đã đọc qua trong sách, cha và ông cũng từng kể nhiều, khách khứa qua lại cũng luôn luôn nói đến.

Thuỷ tổ của nước Tề là Khương Thượng, ở thời Ân Thương, họ Khương là một dòng họ thuộc danh môn họ tộc, tổ tiên của họ từng làm quan ở đất Lã,[1] các đời sau mới lấy tên của đất được phong này làm họ của mình, cho nên còn gọi là Lã Thượng. Khương Thượng là thủ lĩnh của tộc người Khương khoảng giữa thời thương Chu, Chu Văn Vương đi cầu hiền nên mới gặp, vô cùng sung sướng, tôn ông lên bậc thầy gọi là Thương Phụ. Bởi vì Khương Thượng đã từng là con người ông mình là Văn Vương trước đây từng đêm ngày mong ngóng, dần dần lại tôn ông lên là Thái Công Vọng, trong sử gọi là Khương Thái Công. Vũ Vương phạt Trụ, Khương Thượng làm quân sư, vất vả mà có công lớn. Họ Khương cùng với Cơ thị và gia tộc nhà Chu còn có mối nhân duyên hữu hảo, sau khi nhà Chu diệt nhà Thương, mới đem Khương Thượng phong cho Tề, xây dựng lên nước Tề. Những năm năm mươi của thế kỷ thứ chín trước CN, đời vua thứ ba của họ Khương là Tề trước hết đã sát nhập các nước nhỏ xung quanh cho nên đất nước mới dần dần mạnh mẽ lên. Năm 678 trước CN, Hoàn công xưng bá, ép nhà Chu theo lệnh chư hầu, thành địa vị đứng đầu trong ngũ bá. Năm 567 trước CN, sau khi Linh công diệt nước Lai, cương vực của đất nước mở rộng đến tận biển Đông, trở thành những lớn thứ nhất ở phương Đông, Lâm Tri là kinh thành phồn hoa nổi tiếng trong các nước. Phía nam hình thành núi non nhấp nhô nối liền thành từng dãy như Ngưu Sơn, Tắc. Sơn, Bác Sơn với con suối nổi tiếng là “Thiên Tề Uyên”. Phía đông và phía bắc đồng rộng bao la, đất đai màu mỡ, sản xuất nhiều ngũ cốc, cách Bột Hải chỉ chừng trên trăm dặm, có nguồn lợi dồi dào về cá và muối. Phía tây dựa vào sông Hồ Thuỷ (hay còn gọi là Nê Hà). Phía đông sát giải Tri Hà, cũng vì ở sát Tri Hà, nên. kinh thành mới có tên là Lâm Tri.

Điền Vũ đã theo ông đến thăm Lâm Tri. Ôi! Thật là đẹp, thành phố lớn với thành phố nhỏ lồng vào nhau, thành phố lớn là thành quách nơi quan lại, bình dân và những người buôn bán ở, còn thành phố nhỏ là cung thành, là nơi ở và lo liệu các công việc chính trị của vua chúa. Ông nội đã nói cho Điền Vũ biết thành lớn từ nam đến bắc dài chín dặm, từ đông sang tây rộng bảy dặm; thành nhỏ từ nam sang bắc hơn bốn dặm, đông sang tây gần ba dặm, chu vi cả hai thành bơn mươi ba dặm, tổng diện tích sáu mươi dặm quy vuông. Trong thành nhỏ cung điện nguy nga, nối nhau như bát úp, thành hàng thành lối, màu sắc huy hoàng; thành lớn thì đường ngang phố dọc như bàn cờ, ngang bằng sổ thẳng, rộng rãi sạch sẽ, hai bên đường hàng quán san sát, trong cửa hàng, cửa hiệu hàng hoá muôn sắc muôn màu. Trên những phố dài; ngựa xe như mắc cửi, người đi kẻ lại, thích cánh chen vai nhau. Đi đọc phố, đâu đâu cũng thấy tiếng đàn tiếng hát, người nào cũng hể hả… cảnh sắc ấy, sau này từng đã có người tả rằng: “Bảy vạn hộ dân trong thành Lâm Tri, nhà nào cũng giàu và đầy của cải, dân trong thành không ai là không biết thổi tiêu, gõ trống, đánh đàn, chọi gà, đua chó, đánh vật, đá cầu… Đường phố Lâm Tri, xe sát trục nhau, người kề vào vai nhau, tà áo liền nhau không hở chỗ nào, giá có vẫy tay lên thì mồ hôi rơi xuống cũng thành mưa, nhà nào cúng khá giá, người nào chí khí cũng cao cả hiên ngang”. Điều thu hút Điền Vũ nhất khiến cậu lưu luyến không muốn rời chân là những phường thủ công nghiệp, đó!à những công xưởng lớn nhỏ khác nhau, nào là xưởng đúc gang, nào là xưởng dệt vải, nào là xưởng luyện đồng và cả xưởng chế tạo đồ xương. Xưởng luyện đúc gang có quy mô lớn nhất là ở phía nam thành phố, diện tích chiếm đất phải tới một triệu hai mươi vạn thước vuông, trên mảnh đất rộng đó mọc lên la liệt nào là lò cao, nào là lán thợ, chỗ thì bằng lều bạt, chỗ thì lợp tranh, quặng sắt, đá vôi, than củi nối nhau theo từ Nam Sơn chở đến, kẻ gánh người khiêng, xe chở ngựa thồ, ùn ùn như nước chảy. Những người thợ đã lần lượt nạp những thứ nguyên liệu và chất đốt ấy vào những chiếc lò cao nhỏ, nhóm lửa lên rồi ra công dùng bễ mà thổi gió vào. Bễ là một cái dụng cụ thổi gió vào lò, trên dưới là hai tấm gỗ, ở giữa nối bằng một tấm da tạo thành một cái túi có thể dãn nở được, phía sau của tấm gỗ, trên gắn liền với một cái chuôi dài để đạp chân lên đó, cái túi ấy lên xuống phập phồng mà sinh ra gió. Gọi là bễ liền tức là nối những cái bễ riêng lẻ ấy lại với nhau rồi nhiều người cùng đạp chân vào để cho được nhiều gió, ngọn lửa sẽ lớn, nhiệt độ sẽ cao. Người đạp bễ, người nạp liệu, người coi lò, người ra gang… ai cũng đều bị khói hun lửa táp, người nào người ấy đen như quỷ sứ, chỉ còn có đôi mắt họ là luôn luôn ngời sáng và nhờ đó nói với mọi người rằng: Họ là người chứ không phải là ma quỉ. Cảnh tượng lúc ra gang mới hùng tráng làm sao! Hai người thợ, một người nắm cái choòng thép thật dài, một người lăm làm cái búa trong tay, họ đục choang choang vào cái lỗ ra gang trên thản lò, đợi đến lúc đục tới một múc độ nhất định, hai người lần lượt bước xa ra, một người thứ ba mang một cái choòng dài gấp mấy lần chiều cao của mình, nhằm thẳng vào cái lỗ ra gang mới đục ra chỉ còn lại lại một lớp mỏng rồi xọc mạnh một nhát. Thế là một con mãng xà màu đỏ từ trong hang của nó là bụng lò, bò ngoằn ngoèo ra những cái máng mà người ta đã chuẩn bị sẵn từ trước, trườn từ từ đi, phun lửa ra, loé sáng lên, tỏ rũ sự hung hãn khiến mọi người phải né xe, để khỏi bị bỏng.

Một ngày đầu mùa hạ, nhận lời mời của huyện lệnh Lục An, Điền Thư đã tới dự tiệc. Điền Vũ cũng được ông nội cho đi theo. Huyện Lạc An là nơi cách thôn Điền Ban về phía tây bắc hơn ba mươi dặm, mặt trời lên chừng ba tầm gậy, một cỗ tứ mã trang hoàng cổ kính và đơn giản lăn bánh trên đường cái quan thông đến huyện ly, trong xe đó, có hai người là ông cháu Điền Vũ. Họ lần lượt qua Tri Hà, Thời Thuỷ và vượt ngang một con sông nhỏ nữa là sông Tiểu Thanh. Thời Thuỷ là con sông bắt nguồn từ Cự Định ở phía tây nam, nhập vào tới Tri Thuỷ ở phía đông bắc, vì là con sông thời lệnh nên mới mang tên ấy. Mùa thu, mùa hạ trời mưa nhiều, nước chảy rất xiết, khi vào mùa khô, tức là mùa đông, mùa xuân, nước lại trôi êm ả, còn các nhánh nhỏ của nó hầu như khô cạn hết, cho nên còn gọi là sông Cán Thời. Đi trên dòng Điền Thuỷ trên sông Thời Thuỷ, Điền Thư cao hứng kể chuyện năm 685 trước CN, khi Tề Hoàn công mới lên ngôi đã đánh bại Lỗ Tráng công ở sông Cán Thời, câu chuyện đã để lại cho Điền Vũ một ấn tượng rất sâu sắc.

Điền tướng quân hạ cố đến thăm, huyện nha Lạc An thêm phần rạng rỡ. Huyện lệnh được yêu cầu mà đâm sợ nên đã đón tiếp với nghi thức long trọng nhất, khoản đãi bằng rượu ngon và các món ăn sang trọng nhất, đối với Điền Vũ, cũng kính trọng không để đâu hết. Sau bữa tiệc, huyện lệnh và Điền tướng quân bàn công việc tại phòng khách, Điền Vũ được các gia nhân dẫn đi thăm thành Lạc An. Không biết bao nhiêu lâu nay, bỗng có nha dịch hớt hải vào sảnh đường lắp ba lắp bắp nói.

– Bẩm… bẩm… ông lớn, ho.. ho… ỏng to rồi ạ!

Huyện lệnh trừng mắt hỏi:

– Làm gì mà cuống lên thế? Có ra thể thống gì không?

Nha dịch đáp:

– Cậu ấm Điền bị… bị…

– Bị làm sao. – Cả khách lẫn chủ đều ý thức được sự nghiêm trọng của vấn đề.

– Bị rơi… rơi xuống Tế Thuỷ, mất tăm rồi ạ!

– Hả? – Hai người đồng thanh kinh hãi kêu lên, một người đập tay vào bàn đứng phắt dậy, một người ngã lăn ra đất…

❀ ❀ ❀

[1] Nam Dương. Hà Nam hiện nay.

Nguyễn Bá Thính
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Tào Nghiêu Đức

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.