Tôn Tử Truyện

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 55 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Xxxi Quân Ngô Vào Sính Đô – Sở Vương Rời Kinh Thành
Chương Xxxi Quân Ngô Vào Sính Đô – Sở Vương Rời Kinh Thành

❊ ❊ ❊

Lại nói trời giúp quân Ngô diệt Sở, nên giữa ngày đông tháng giá mà bỗng đổ mưa rào như trút, nước mênh mông bờ nọ ngập bờ kia, suốt mấy ngày liền không dứt. Trăm sông ngàn suối trong vùng đều đổ vào sông Chương, đổ tới Xích hồ. Dòng nước lũ cuồn cuộn chảy lồng lộn trôi tới Kỷ Nam, toà thành bỗng như một hòn đảo chông chênh giữa bốn bề sóng nước. Tôn Tử lệnh thả mảng tre bè gỗ xuống sông, thân chinh dẫn đầu nhảy xuống bè. Phu Khái, Đường Thành công cũng nhảy xuống theo, mang theo năm ngàn quân, tiến về hướng thành Kỷ Nam. Những chiếc mảng tre bè gỗ đó, cái nào lớn có thể ngồi được năm sáu mươi người, cái vừa phải cũng được vài bốn chục người, nhỏ nhất cũng ngồi được cỡ trên chục người, chiếc nọ nối chiếc kia thành đội, sắp thành hàng, chẳng phải căng buồm, cũng không cần chèo chống, cứ tự nó xuôi dòng mà trôi, đôi lúc chỉ cần dùng sào khẽ đẩy là được. Mảng tre bè gỗ tiến về phía trước, từng đoàn nối nhau, từng hàng xen cạnh nhau, nhấp nhô trên đấu sóng, lao đi như tên bay.

Tống Mộc quả thật là một đụn rạ, như một gã bù nhìn không đầu óc, khi nước lũ bắt đầu tràn vào trong thành, hắn vẫn còn đinh rằng trời đổ mưa nên sông suối tràn dâng, chờ khi mưa tạnh, nước sẽ tự rút đi. Về sau mưa dần dần nhỏ đi, nhưng mực nước ngược lại mỗi lúc một tăng lên, đến khi lên mặt thành nhìn ra, bất giác há hốc mồm vì kinh ngạc, khắp mình bỗng nổi gai gà và sống lưng toát mồ hôi hột. Bên ngoài thành nước lũ mênh mang, không bờ không bến, dân chúng có người thì chuyển lên gò cao, người thì leo lên nóc nhà, người thì đu lên ngồi trên cành cây và nhiều hơn cả là lênh đênh trên thuyền, đó là những người đã được chuẩn bị đầy đủ. Tống Mộc không đi sâu tìm hỏi về nguồn gốc của những dòng nước lũ này, mà chỉ nghĩ rằng thế nước đang mạnh như thế, cả toà thành sẽ chìm nghỉm, ngay cả chòi cao trên thành, cũng khó mà thoát khỏi. Lúc này đây lương thực chẳng còn, cỏ cho ngựa ăn cũng hết, nếu nước lũ còn lâu mới rút, thì không bị chết chìm, cũng sẽ bị chết đói. Hơn nữa ngồi đây chờ chết, chi bằng hãy về Sính đô, chờ nước rút sẽ quay trở lại. Chẳng may quân Ngô có thừa cơ chiếm mất thành Kỷ Nam, thì cũng chẳng ai trách được mình, ai biết đâu được đã sang ngày đông tháng giá từ lâu mà trời còn giáng mưa rào to như thế? Bụng đã định thế rồi, Tống Mộc lệnh cho đóng ba chiếc thuyền lớn, mang theo gia quyến và những người tâm phúc, xuống thuyền về Sính đô. Tướng sĩ và binh lính thấy chủ tướng dẫn đầu chạy trốn cũng lũ lượt sửa thuyền đóng bè, không có thì đi cướp, không cướp được thì lấy trộm, không lấy trộm được thuyền của công thì lấy thuyền của tư nhân, thế nên cuối cùng lại chỉ có người dân là thiệt, thuyền bè bị lính Sở cướp sạch sanh.

Thuyền của Tống Mộc chạy về Sính đô, cũng đi xuôi dòng, chợt ngoái đầu lại, thấy ở giữa quãng sông rộng mênh mông, có những vật gì đen đen đang vật vờ trôi, lúc đầu hắn còn cho rằng đó là những thứ như kèo cột, cửa nẻo vv… từ những căn nhà đổ bị nước cuốn theo, thế nhưng những chấm đen đó mỗi lúc một gần, càng gần càng lớn, toàn là mảng tre bè gỗ, ở trên đó, tướng sĩ quân Ngô ngồi xổm náu mình, trong tay lăm lăm nào dao nào thương sáng loá. Đến lúc này, Tống Mộc mới vỡ lẽ ra rằng, thì ra nước lũ ào ào dồn tới đây chính là do quân Ngô phá đê để làm ngập thành. Quân Ngô đã chiếm được Kỷ Nam, tất sẽ đánh tới Sính đô thế nên phải làm sao mau mau, báo tin cho Sở vương để lập công chuộc tội. Tống Mộc nghĩ vậy, liền đôn đốc cấp dưới của mình mau chóng bơi thuyền, sợ rằng quân Ngô từ phía sau sẽ đuổi kịp. Người ở trên thành thấy quân Ngô ngồi trên mảng tre bè gỗ lướt tới nên trật tự bỗng trở nên lộn xộn, nhất là đám lính Sở không kịp chạy theo, tên nào tên ấy nháo nhác kinh hoàng, chỉ còn cách đợi quân Ngô đến nơi để xin hàng.

Quân Ngô chẳng phải dùng đến một nhát dao nhát thương nào, quân lính không hề phải đổ màu, mà chiếm cứ được thành Kỷ Nam, Tôn Tử lập tức ra lệnh, sắp xếp đám hàng binh, an ủi dân chúng. Đúng lúc đó Ngũ Tử Tư mang theo hai ngàn binh mã đến nơi, còn đưa tới cả trăm xe lương thực, vừa hay có thể để cho Tôn Tử dùng để cứu tế cho dân chúng vùng bị nạn. Sắp đặt xong mọi việc, người không kịp nghỉ, ngựa chẳng đừng chân, để một ít quân tướng ở lại giữ thành Kỷ Nam, Tôn Tử mang theo số người còn lại tiếp tục xuống bè mảng, thuận dòng xuôi hướng đông nam, tới thẳng Sính đô bắt sống Sở Chiêu vương.

Sính đô với Kỷ Nam là hai toà thành cách nhau không xa lắm, nhưng địa thế lại hoàn toàn khác nhau. Sính đô là một toà thành trên núi, toạ lạc ở hướng nam mặt quay về hướng bắc, tức là nam cao mà bắc thấp, theo một dốc nghiêng mà độ dốc lại khá lớn, cổng phía nam thành ở trên một vách núi cheo leo, còn cổng thành phía bắc lại nhoi ra một phía bờ sông, nước lũ từ tây bắc đổ về, vòng quanh một nửa toà thành, tới đông nam thì đổ vào đầm Vân Mộng. Lại do ở đây độ chênh lớn, tốc độ chảy cũng mạnh, cho nên ở Sính đô tuyệt nhiên không phải lo gì bị ngập nước, thế nên vua tôi nước Sở chẳng sợ gì nước lũ hoành hành, mà chỉ e quân Ngô đến đánh. Nước Sở từ sau khi xác định phương châm trước hết hãy cố đánh, đánh mà không thắng thì tử thủ, chẳng may không giữ nổi thì mới rút đi… bèn tích cực bố trí giữ thành và chống địch, cử Tử Tây giữ cổng thành phía đông, Đấu Tân giữ cửa Nam, Thân Bao Tế giữ cửa tây, Vương Tôn Do giữ cửa Bắc, củng cố lại tuyến phòng ngự. Đồng thời khen thưởng động viên trai tráng thành đào hào, đắp luỹ và ở trong thành thì trữ thật nhiều đá hộc, gỗ cây, cung tên, sẵn sàng đón đánh kẻ địch đến xâm phạm. Chiêu vương tuy ngoài miệng nói rằng để mặc cho Tử Tây, Tử Kỳ và Công tử Thân và một vài trọng thần nữa lo chống địch, có việc gì không cần phải bàn bạc cân nhắc gì với mình, nhưng trên thực tế, chẳng có lúc nào ông ta bỏ rơi quyền lãnh đạo và chỉ huy cuộc chống chọi với kẻ địch, bởi dù sao đi nữa, ông ta vẫn là vua của một nước…

Sính vốn là kinh đô của một nước lớn, tồn tại hơn hai trăm năm, lại ở vào thế hiểm yếu, mức độ kiên cố của nó thì chẳng có một thành trì thông thường nào có thể sánh kịp. Đối với việc ấy, Tôn Tử có sự nhận thức và đánh giá rất đầy đủ, để giảm bớt thương vong, không dám liều lĩnh đánh thành. Mảng tre, bè gỗ chở quân Ngô lần lượt đến chân thành Sính đô, nhưng không dừng lại, cũng không đồn trú, mà thuận đà vòng một nửa vòng quanh kinh thành, tới phía đông nam vào vùng đầm Mộng Vân, làm ra vẻ như họ không phải là đến để đánh quân Sở, chiếm kinh đô, mà là một cuộc thăm thú du lịch. Ngay như có đến thăm thú chơi bời, cũng không thể vội vội vàng vàng như kiểu cưỡi ngựa xem hoa như thế. Trước sự việc đó, cả vua lẫn tôi nước Sở ai ai cũng đều thấy lạ lùng khó hiểu. Ai cũng thừa biết Tôn Vũ dụng binh xuất quỷ nhập thần, cho nên đoán định ắt hẳn rằng ông ta đang giở mưu kế, bày trò quỷ quái gì đây, nên không ai dám lơ là manh động. Tuy nhiên cách đó đến ba bốn ngày, chẳng những quân Ngô không có hành động gì tỏ ra là muốn đánh thành, cho nên ngay cả việc theo dõi từ chân tơ kẽ tóc trong dấu vết hành động của họ đến lúc này cũng hầu như vứt bỏ. Cả tháng trời, Sính đô sống trong bầu không khí căng thẳng ngột ngạt, tiền tuyến không ngừng đưa về những tin tức đáng buồn, quân Sở thua hết trận này trận khác, tướng lĩnh nổi tiếng thì đâu là chết trận đâu là tự sát, đâu là bỏ sang bên địch, cho nên tướng lĩnh cầm quân chống địch cứ ngày một ít đi, quân lính nào chết nào đầu hàng lại càng đông không kể xiết, tới hàng vạn tên. Ngược lại thế, quân Ngô càng ngày càng áp sát, lấy Mạch thành dìm thành Kỷ Nam trong nước lũ, rồi ào đến Sính đô với khí thế mạnh mẽ như gió lốc, mỗi một thành viên sống trong kinh thành này, trên đến vua tôi quần thần văn võ, dưới đến dân chúng bình thường, thần kinh người nào cũng luôn luôn căng thẳng. Để giữ được kinh đô, ai có việc của người ấy, ai ai cũng đều phải gánh một phần trách nhiệm, ai ai cũng lo cho chức trách của mình, chẳng có một ai ngoài cuộc, chẳng một ai được thư nhàn, kể cả những người ốm yếu bệnh tất, suốt ngày đêm chẳng ai được xao nhãng. Đến lúc này đây, quân Ngô tới mà không ở lại, im hơi lặng tiếng, lại chẳng có biểu hiện gì tỏ ra muốn đánh thành, thần kinh căng thẳng của mọi người làm gì chẳng lơi lỏng, cơ thể vốn mỏi mệt làm gì chẳng mong muốn có những lúc nghỉ ngơi, bởi mọi người ai cũng là da là thịt, đâu có phải như một cỗ máy vô tình bằng thép bằng gang…

Quân Ngô không phải là đến để rồi về không, họ cho bè mảng xuôi đến đầm Vân Mộng, dừng lại ở đấy ít lâu rồi mặc quần áo ngư dân hay nông phu, ngước lên phía thượng nguồn, vòng tới phía nam thành Sính đô rồi đóng lại đấy, ngấm ngầm bố phòng, tạo nên thế bao vây chặt Sính đô. Hoạt động ở bên ngoài Sính đô lúc này toàn là dân chúng nước Sở, người thì đánh cá, người thì làm ruộng, vua tôi nước Sở ở trong thành thì cớ đinh ninh rằng quân Ngô đã im hơi lặng tiếng, mất tăm mất tích rồi, nên càng lơ là cảnh giác xao nhãng việc đề phòng.

Quân Ngô đã bao vây chặt Sính đô, chờ cho quân Sở hết lương ăn thì tự nhiên sẽ tan, nếu quân Sở mở thành để bổ sung lương thực, quân Ngô sẽ thừa dịp đánh thành. Một hôm, Ngô vương và Tôn Tử thân chinh đi thị sát tình hình. Hạp Lư tận mắt thấy Sính đô đã bị quân Ngô bao vây chặt, vui mừng khôn ngăn đã khen ngợi Tôn Tử:

– Quân Ngô xuất chinh chuyến này, từ lúc bắt đầu giao chiến đến giờ, liên tiếp đánh thắng Nang Ngoã, cha con Vĩ Xạ, rồi Thẩm Doãn Tuất, Đấu Sào và Tống Mộc… tất cả tới hàng chục tướng, đánh đâu thắng đấy với một giá nhỏ nhất để đổi lấy những thắng lợi lớn lao. Hiện nay, Sính đô đang nằm trong vòng vây lớn, quân ta đang nắm thắng lợi trong tầm tay, chẳng bao lâu nữa, niềm ao nước của quả nhân sẽ được toại nguyện, đó đều là do công lớn lao của nguyên soái đã bao ngày suy nghĩ ra mưu sâu, rồi tính toán khéo léo, trù liệu mọi đường, mới có được!

Tôn Tử xưa nay không biết nói hay cho ai, ca ngợi công đức của ai trước mặt mọi người, cũng chẳng thích nghe những lời phỉnh phờ của người khác, cho nên mặt đỏ tưng bừng, cảm thấy băn khoăn lúng túng cực độ và nói:

– Hợp sức với vương thất, để trù tính bài binh bố trận, đâu dám nói đến công với chả lao, đó chẳng qua là trời giúp cho Ngô vương được thiên hạ mà thôi! Cũng may nhờ các tướng dũng cảm thiện chiến, lại tận trung với Ngô vương, thắng lợi đâu phải chỉ một mình thần mà có thể làm được ạ!

Hạp Lư rất hài lòng, mỉm cười và rằng:

– Những gì quả nhân nói ra, đều là thực lòng mình, nguyên soái khỏi phải khiêm nhường như thế. Có điều, theo như ý của quả nhân, chiến tuyến rồi sẽ mỗi ngày mỗi dài, không nên để mất thời gian, cố làm sao đánh nhanh thắng nhanh được thì tốt…

Ngũ Tử Tư cùng tháp tùng đi thị sát cũng nói xen vào:

– Chúa công nói thế là rất phải, thời gian kéo dài quá, e rằng những nước đồng minh của nước Sở sẽ mang quân đến cứu viện, nếu như thế thật, thì tất cả công lao của chúng ta trước đây sẽ thành công toi, cho nên mong nguyên soái hãy mau mau định đoạt.

Tôn Tử giải thích:

– Sao tôi lại chẳng muốn đánh nhanh thắng nhanh kia chứ? Chỉ có điều chưa nắm được những điều bí mật quân sự của nước Sở, liều lĩnh đánh thành, tất sẽ thương vong nhiều, thế nên phải tạm kiên tâm chờ đợi.

Ngũ Tử Tư hỏi có ý thăm dò:

– Phải chăng nguyên soái đang cho người đi do thám tình hình quân Sở?

Tôn Tử đáp:

– Đúng như lời Ngũ tướng quân đã nói, tôi đã sai ba người đi giả dạng lái buôn, trà trộn vào trong thành, một vài hôm nữa là có thể biết được những điều cơ mật của quân Sở, đến lúc ấy mới có thể định đoạt.

Những điều Tôn Tử nói ra, Ngũ Tử Tư hoàn toàn tin tưởng không hề nghi ngờ gì. Kỳ thực, các bạn đọc tinh tế chắc còn nhớ được, trong thành vẫn có một người là Tử Tất, ba người “lái buôn” vào thành, ắt hẳn là sẽ biết được những bí mật quân sự thực tế của quân Sở. Có điều, để thoát khỏi sự can hệ, ngay từ trước khi quân Ngô qua sông Thanh Phát, Tử Tất đã đem theo gia quyến rời Sính Đô, đến Tỷ Quy non xanh nước biếc để dưỡng bệnh, chỉ có trước lúc ra đi, đã có sự sắp xếp rất tỉ mỉ với tất cả những gì sẽ xảy ra trong tương lai.

Sau đó một hôm “lái buôn” quay trở lại, mật đàm với Tôn Tử. Nghe xong tin báo, Tôn Tử mừng như mở cờ trong bụng, mặt mày hớn hở, những muốn nhảy múa hò reo lên cho hả, nhưng ông cần phải kìm nén mình, giấu nỗi vui mừng xúc động vào tận đáy lòng, không để lộ ra nét mặt, thản nhiên đi sắp đặt mọi việc trong chiến đấu, như một người đánh cờ trong lòng đã nắm vững mọi điều nên đã đặt chắc chắn mỗi một quân cờ, vừa lòng và tin tưởng điều động mỗi một người lính, một vị tướng.

Thấy quân Ngô đã thực sự đi xa, “thiên hạ thái bình” rồi, vua tôi nước Sở nhân dịp đó cho người ra ngoài thành chuyên chở lúa gạo, để đề phòng Tôn Vũ gian ngoan đủ vẻ, bất ngờ đem quân đánh tới và bao vây thành trì, lấy lợi thế mà cố thủ. Cùng với số thuyền bè qua lại tăng lên, lương thảo trong thành cũng đầy đủ lên nhanh chóng, binh lính của quân Ngô lại từng đợt từng đợt giảm đi.

Ba ngày như thế qua đi, đến ngày thứ tư, sau bữa ăn trưa, Tôn Tử đã cho triệu tập hội nghị tướng lĩnh toàn quân, nói:

– Giờ Tý đêm nay, quân ta sẽ đánh vào bốn cổng thành của quân Sở, Ngũ Tử Tư đánh cửa nam, Phu Khái đánh cửa đông, Bá Bỉ đánh cửa Tây, hai vua Đường Thái đánh cửa bắc, Công tử Sơn hộ giá Ngô vương. Đánh Sở vào Sính đô, chính là trận này đây, bởi thế nên các vị tướng lĩnh chớ nên coi thường trận đánh này. Ngoài những điều thường nói mọi ngày, thấy cần nhấn mạnh mấy điểm sau đây…

Các tướng chăm chú lắng nghe, Tôn Tử tiếp tục nói:

– Mục tiêu công kích của quân ta là ở cửa nam, tuy nhiên, muốn phá được cửa nam, ắt phải phân tán binh lực của quân Sở, đừng để chúng tập trung ở cửa nam. Để đạt mục đích đó, các cửa đông, tây, bắc chẳng những phải tiến công, mà còn phải tiến công sớm hơn hướng cửa nam chừng một canh giờ, khiến cho quân Sở vì thế mà điều quân ở cửa nam đi tăng viện cho ba cửa khác, làm cho cửa nam bị trống rỗng…

Nghe Tôn Tử phân tích chiến lược phân tán quân địch, các tướng lĩnh đều cảm thấy vô cùng kính phục. Tôn Tử giải thích thêm:

– Sở đĩ quân ta định đánh vào cửa nam, phá cửa nam vào thành, chính vì cửa thành này địa thế hiểm yếu, quân Sở ỷ vào đó mà phòng bị yếu hơn, tướng giữ thành Đấu Tân lại là tên hữu dũng vô mưu, không thạo đường ứng biến, quân ta ắt hẳn sẽ ít thương vong. Nếu như các cánh quân đánh ở cửa thành khác cũng có thể đánh vào mà phải hy sinh ít nhất, đương nhiên là càng hay, song chớ vì nôn nóng lập công hám lợi, mà gượng ép cố đánh, để đến nỗi thương vong nặng nề, như thế sẽ ảnh hưởng đến toàn trận đánh.

Với một cái giá bỏ ra ít nhất để đổi lấy thắng lợi lớn nhất, đó là cốt lõi tư tưởng quân sự của Tôn Tử, ông nhấp một hợp nước, im lặng một chút, nói tiếp:

– Đây là một trận đánh phối hợp rất lớn quan hệ đến sống còn, bởi thế quân địch sẽ chống trả rất quyết liệt, quân ta không được lơ là chút nào, lại càng không thể coi thường địch. Quân ta tấn công càng mạnh, quân địch ắt hẳn sẽ tăng cường chống trả, ở đây tôi trịnh trọng tuyên bố: hễ kẻ nào lâm trận mà bỏ trốn hoặc lui lại phía sau, nhất định sẽ chém đầu không tha! Hễ ai dẫn đầu xông lên cửa thành Sính đô trước, sẽ được trọng thưởng bạc vàng châu báu và quan tước! Các vị cần biết rằng, mục đích cuối cùng của trận đánh này là làm sao bắt sống được Sở vương, cho nên ai bắt sống được Sở vương dâng lên, người ấy sẽ được trọng thưởng và ghi công đầu, thưởng cho quan cao tước trọng. Các tướng đã biết trận đánh thần thánh và mấu chốt quan hệ đến sự mất còn của quân ta, bởi vậy xin hãy dốc lòng hợp lực lại bầy tỏ lòng trung, cùng ủng hộ Ngô vương!

Lời Tôn Tử nói ra khảng khái hào hùng, mỗi chữ nặng ngàn cân, các tướng lĩnh nghe xong không ai là không thấy trong lòng hăng hái, nguyện thề quyết chiến để chiếm cho được Sính đô.

Cuộc động viên nhắc nhở đã kết thúc, Tôn Tử nói với các tướng, quân ta đã có một bộ phận binh lính trà trộn vào trong thành, họ đều trang bị như quân Sở chỉ khác có một điểm là ở cánh tay trái có thắt một chiếc băng trắng, nên chớ có giết lầm nhau.

Cuộc họp kết thúc, các tướng ai về doanh trại người ấy để làm mọi công việc chuẩn bị của mình, chỉ còn chờ đến giờ Tý, sẽ nhất loạt bật dậy tiến công, quyết chiến một phen.

Giờ Tý đã đến, ba cửa thành đông, tây, bắc lần lượt tấn công, làm cho vua tôi nước Sở loay hoay chống đỡ không biết trở tay ra sao. Đây là điều mà họ không hề lường tới. Mấy ngày nay, từ trong thành cho chí ngoại thành đâu đâu cũng tràn ngập bầu không khí thanh bình; ngoại thành nhà nông thì cày ruộng, ngư dân thì lên thuyền đi đánh bắt, đi lại tự do, không ai ngăn cản, không hề bị cô thúc. Trong thành, quán xá rộng mở, mua bán rộn ràng, dân chúng lũ lượt đi trên phố lớn ngõ nhỏ, kẻ mua người bán rộn rã trên đường. Cũng chính vì thế, Tử Tây mới dám hạ lệnh mở cổng thành ra để chở lương thực, lúc đầu còn thăm dò nghe ngóng, về sau mạnh dạn hơn, cuối cùng thì nghênh ngang đàng hoàng chuyên chở ba ngày liền, thế nhưng không hề gặp một bóng quân Ngô nào, lại càng chẳng gặp việc gì phiền phức, người trong thành từ trên xuống dưới đều trút một tiếng thở dài khoan khoái, bắt đầu yên tâm trong những giấc ngủ ngon lành, tại sao mà quân Ngô lại có thể bất ngờ tiến công vào thành được? Vậy những ngày vừa qua, họ ẩn nấp ở đâu, mà lúc này họ từ đâu tới? Chẳng lẽ họ là thiên binh thiên tướng từ trên trời giáng xuống hay sao? Hay là âm binh ma quỷ từ âm ti địa ngục đội đất mà lên? Tuy lúc này, bốn cửa thành Sính đô đều có quân đóng giữ, nhưng đều đang ở trạng thái lơi là lỏng lẻo, không giống như trước đây, người nào người nấy để nguyên quần áo ngoài, ôm giáo cắp thương mà ngủ gà ngủ gật, mỗi khi đến đêm thì phần lớn là ngủ say, chỉ có một ít là vào ra canh gác mà thôi. Quân Ngô bất ngờ đánh thành, là đánh vào nơi đối phương không phòng bị, tướng sĩ quân Sở giữ thành lúc này cứ luống cuống chân tay, cả kinh thành chốc lát bỗng nháo nhào rồi bung lên như một mớ bòng bong, một nồi canh hẹ. Họ không nghĩ đến hay không kịp nghĩ đến chuyện đi nắm tình hình địch, thế nên lúc nghe báo quân Ngô đánh cửa đông, thì chỉ huy quân ở cửa bắc đến để cứu viện; một lúc nữa lại có tin báo cửa bắc nguy ngập, liền huy động quân lính ở cửa nam tới ngay ứng cứu… Cứ như thế, lúc thì bên đông, lúc bên tây, khi lại ở bên bắc, các cửa thành gọi nhau, binh lính trên đường phải liên tục chuyển theo các hướng, ào ào như nước vỡ bờ, nháo nhác loạn xạ như ruồi mất mắt, vội vã sang cửa đông, lại hớt hải về cửa bắc, phía cửa nam tự nhiên trở nên trống rỗng.

Quân Ngô đánh vào thành, thế mạnh như hổ đói vồ mồi, như giao long vờn sóng biển, như lửa khói lan tràn, quân lính đánh vào ba cổng thành, định lần lượt leo lên mặt thành, thế nhưng ở trên nào là đá hộc nào là gỗ tròn, rồi vòng lửa vv… lao xuống như mưa như bão, quân Ngô ào lên mấy đợt nhưng không lên nổi mặt thành. Ở trong thành tuy đã có quân Ngô ém sẵn, lúc này cũng đang trà trộn vào trong đám quân Sở, chạy lung tung đến các cửa thành. Quân Sở liên tục điều động binh lính hết chỗ này đến chỗ khác, lại càng tạo điều kiện dễ dàng cho họ giấu mình, nhưng bởi chưng số người có ít, tung ra mỗi nơi chỉ thấy lèo tèo thưa thốt, trước những cặp mắt nhòm ngó của địch thủ, họ chưa có cơ hộ nào để lợi dụng, chỉ lớn tiếng kêu la: “Quân Ngô phá thành rồi! Mau chạy đi thôi!”. Không ít người vì thế mà bị khép vào tội làm “rối loạn quân tâm”, chém đầu ngay tại chỗ.

Nước Sở không hổ thẹn mang danh là nước lớn số một ở đông nam, là nước lớn dám dàn mặt tranh giành thiên hạ với nước Tề nước Tấn, lại vốn có nhiều phép màu để giữ thành chặn địch, điều đó chứng minh đầy đủ sự thông minh tài tử của người nước Sở. Chẳng hạn những vòng lửa lăn lông lốc như bay kia, là một thứ cực kỳ ghê gớm: một vòng tròn trống rỗng, bên trong đổ đầy mỡ cá, trên mặt cái vòng tròn có đục lỗ, sau khi thắp cháy, lăn xuống chân thành, càng lăn nhanh, lửa càng cháy càng nồng, do quán tính khi lao xuống rất lớn, dầu trong đó văng ra càng mạnh càng xa, nơi dầu chảy tới, không chỗ nào là không bén lửa cháy theo. Vòng lửa thiêu cháy đến một lúc nào đó, do nhiệt độ bên trong nâng cao, nó sẽ bùng nổ, và sau khi nổ, mỡ cá bắn tứ tung, lửa lại bốc thêm lên rừng rực. Lại còn cầu lửa, còn ghê gớm hơn, nó cũng một cách tương tự như vòng lửa, chỉ khác là thể tích lớn, chứa dầu nhiều, tám mặt đều là lỗ nên sức sát thương càng mạnh, một khi nó nổ lên, uy lực đó chẳng kém gì một trái bom ngày nay. Rùng rợn nhất là từ trên mặt thành, dùng những thứ có dầu như mỡ cá vv… dội xuống chân thành rồi ném theo mồi lửa, dưới chân thành bỗng chốc trở nên một biển lửa, những tên lính nào chẳng may bị những thứ dầu mỡ đó dính lên mình, phần lớn là bị chết bỏng… vì thế mà việc công thành là hết sức khó khăn…

Tôn Tử thân chinh ra tuyến trước, đến tận các cổng thành để chỉ huy dặn đi dặn lại mọi người: “Đừng có cố ý leo lên thành, nếu không thương vong ắt hẳn là nặng nề.”

Tôn Tử đã căn dặn tướng lĩnh các bí quyết để phá thành, sau đó sang ngay cổng thành phía nam, chuẩn bị ra hiệu lệnh.

Tướng lĩnh của quân Ngô, ngoài các bậc danh tướng như Ngũ Tử Tư, Bá Bỉ, Phu Khái, Chuyên Nghị, Bị Ly, Công tử Sơn vv… những người thuộc hạng anh dũng thiện chiến cũng không phải là ít. Tuy nhiên, tính cách của tướng lĩnh mỗi người mỗi khác, cách đánh cũng chẳng giống nhau, có người thì thạo cả công cả thủ, ngược lại có người giỏi thủ mà không giỏi công, lại có người giỏi công mà không giỏi thủ, có người thạo đánh kỳ binh nơi rừng núi; có người thành thạo chiến đấu ở đồng bằng, có người văn thao võ lược biết dùng mưu kế, có người lại giỏi đánh bằng ngoại giao, có người sành sỏi trong cách dùng gián điệp. Tôn Tử dùng tướng, quý ở chỗ biết người mà giao đúng việc, tuỳ tài mà dùng, sở dĩ ông để Ngũ Tử Tư đánh cửa nam, bởi thấy con người này gan dạ nhưng tỉ mỉ, lại bình tĩnh chắc chắn, phản ứng mau lẹ, cả công cả thủ đều hay; hơn nữa trong lòng lúc nào cũng rừng rực cháy một ngọn lửa báo thù cho nước, rửa hận cho nhà. Mấu chốt đánh vào cửa nam là từ giữa sông phải leo lên một vách đứng cao hơn ba mươi trượng, ở đây thế núi hiểm yếu, đá nhô lên như mũi kiếm, tai mèo nhấp nhô, phảng phất như hàng đàn mãnh thú luôn giờ nanh múa vuốt, dưới bóng đêm trông càng âm thầm rùng rợn. Khi Tôn Tử đến nơi, thuyền bè đã bày thành trận thế dưới chân núi, Ngũ Tử Tư đã cho các tướng sĩ chuẩn bị mọi mặt để sẵn sàng leo lên núi, chỉ còn chờ Tôn Tử ra lệnh một tiếng, các tướng sĩ sẽ nhẹ nhàng như vượn bám vào sườn núi mà leo lên. Tôn Tử xem xét kỹ lại một lượt nữa, ngửa cổ lên không nhìn thấy đỉnh núi, chiếc thuyền nhỏ ở dưới chân vách núi tròng trành, sóng đập vào vách núi, phát ra những tiếng như tiếng gầm rợn người, hoà lẫn vào tiếng một con chim đêm nào đó gieo trong không gian những tiếng não nền, khiến người nghe phải rùng mình kinh hãi. Tôn Tử hết sức hài lòng trước công việc chuẩn bị leo núi của các tướng sĩ, lại càng tỏ ra kính phục trước sĩ khí hăng hái của mọi người, ông vắn tắt giới thiệu tình hình chiến sự ở ba cửa thành khác để nói rõ rằng niềm hy vọng đánh vào Sính đô lúc này hoàn toàn trông vào mũi công kích ở cửa nam này cũng như gửi gắm hết vào các tướng sĩ ở đây. Lời lẽ của Tôn Tử gọn gàng trong sáng, nói xong, ông quay sang phía Ngũ Tử Tư gật đầu, ra ý có thể bắt đầu cho leo núi. Ngũ Tử Tư đã chọn sẵn ra một trăm tinh binh lập ra độ cảm tử, ông tỏ vẻ chính khí lẫm liệt nói với các đội viên đội cảm tử:

– Chuyến này đánh thành, ta đi tiên phong, các ngươi mặc giáp mãng nhẹ nhàng, cùng với ta leo lên vách núi cao. Leo gần đến nơi, thế nào quân địch cũng lăn đá lao cây, tung vòng lửa vv… cho nên chúng ta phải ép sát vào sườn núi như con thạch sùng bám chặt trên tường, như thế mới tránh được những vật kẻ địch trên mỏm núi cho ném xuống. Chỉ cần chúng ta leo được lên vách núi, việc phá cửa nam của kinh thành sẽ không còn vấn đề gì nữa.

Đội viên cảm tử không ai bảo bảo ai, đồng thanh đáp:

– Chúng tôi xin tận trung với Ngô vương, thề sẽ cùng tiến thoái với Ngũ tướng quân!

Với giọng đầy bi tráng, Ngũ Tử Tư nói tiếp:

– Đêm nay, bằng bất cứ giá nào, nhất định chúng ta phải leo lên đỉnh vách núi cho kỳ được, để hạ được cửa nam thành! Tận trung được với vương thất hay không, là ở trận này, mong mọi người hãy giữ vững quyết tâm dám chết, nối nhau mà lên, không lên đến đích, nhất định không chịu thôi!…

Khí thế bi tráng coi cái chết nhẹ tênh của Ngũ Tử Tư đã thấm sâu vào lòng mỗi một đội viên cảm tử. Mọi người đều thấy máu nóng trong người như sục sôi, lệ ứa hai hàng, xúc động hiên ngang đồng thanh hô lớn: “Leo lên vách núi, hạ cửa nam thành, không đạt mục tiêu, thề không lùi bước!”

Ngũ Tử Tư từ biệt các cấp dưới của mình, dẫn đội cảm tử leo lên vách núi.

Tướng sĩ đánh ở ba cửa thành khác đã gây thanh thế rất mạnh mẽ, nào là dóng trống ra oai, phất cờ hò hét, đội viên cảm tử do Ngũ Tử Tư dẫn đầu thì lại dán mình ẩn náu, cố gắng tạo nên vẻ im hơi lặng tiếng. Mặc dù vậy, tướng giữ thành ở trên các vách núi đã phát hiện thấy dưới vách núi có quân Ngô đang leo lên và đoán được ý đồ của họ, thế là hạ lệnh một tiếng, đá hộc, gỗ cây, vòng lửa tới tấp lao xuống, các đội viên cảm tử của quân Ngô đằng thì chết, đằng thì bị thương, đằng thì rơi xuống sông bị nước cuốn đi. Cuộc chiến kịch liệt, tình trạng thảm thương, ai thấy cũng phải rùng mình ghê sợ. Thế nhưng các đội viên cảm tử không vì thế mà do dự chần chừ hay lui bước, họ vẫn liều chết leo lên. Leo mãi leo mãi, chợt Ngũ Tử Tư chẳng may bị gỗ cây đập phải, bị thương, đầu gối, khuỷu tay đều sứt sát, máu me bê bết, nhưng ông không hề để tâm, vẫn tiếp tục trèo và tin chắc động viên mọi người:

– Anh em hãy cố lên! Thắng lợi đến nơi rồi! Gắng lên một chút nữa đi!

Không biết leo như thế bao lâu, không biết đã leo cao đến đâu, cũng chẳng biết rằng còn cách đỉnh gần hay xa, bỗng thấy trên vách núi vang dội tiếng hô, rồi tiếng binh khí chạm nhau inh tai, rõ ràng trên đó đang xảy ra kịch chiến, không ngừng thấy có binh lính rơi xuống chân vách núi, ngã xuống sông. Trên đỉnh vách núi đang xảy ra kịch chiến, không còn đá hộc gỗ cây ném xuống nữa, tốc độ leo lên của các đội viên cảm tử không biết tăng lên gấp mấy mươi lần. Một lát sau, cuộc kịch chiến ở phía trên dừng lại, theo tiếng hô, hàng chục sợi dây thừng từ trên bờ ròng xuống. Có nhiều tiếng hô nối nhau:

– Ngũ tướng quân! Bảo anh em bám lấy sợi dây này mà lên…

Ngũ Tử Tử nghe rõ rành rành, đó là tiếng của Đảm Bao Thiên. Thì ra quân Ngô trà trộn vào trong thành, dưới sự chỉ huy của Đảm Bao Thiên đã tới cửa nam, đánh lui bọn địch giữ thành, giúp cho đội cảm tử do Ngũ Tử Tư dẫn đầu mau chóng leo lên những đỉnh vách đá cao bên ngoài cửa nam. Điểm lại quân số, chết và bị thương quá nửa, tổn thất quá nặng nề!…

Hai cánh quân hợp lại làm một, như mãnh thú xổ lồng, đá lăn dốc núi, thế mạnh không gì cản nổi. Đấu Tân tuy đóng chặt cứa thành, nhưng quân Ngô như một con sóng dữ, như bão táp ào lên đánh thành với thế mạnh dời non lấp biển. Việc phòng bị ở cửa nam thành vốn đã sơ sài, hơn nữa từ lúc bắt đầu khai chiến đến giờ mấy lần điều động tướng sĩ, đi tăng viện cho ba cửa khác, đến lúc này lực lượng càng khó chống cự nổi địch. Dưới thế tấn công như sấm giội trên đầu của quân Ngô, cửa thành lập tức mở toang, Đấu Tân chạy trốn, lính tráng giật mình kinh hãi cũng bỏ chạy tán loạn khắp nơi. Cửa nam đã bị phá, ba cửa còn lại đương nhiên chẳng cần phải đánh rồi cũng tự mở ra. Quân Ngô ào vào như nước vỡ bờ, chiến lĩnh Sính đô của nước Sở.

Khi cửa nam thành vừa bị phá, Sở Chiêu vương thảm hại lếch thếch lủi vào hậu cung, bẩm báo để thái hậu Bá Doanh biết rõ tình hình nói:

– Quân Ngô đã phá được cửa nam thành, xin mẫu hậu hãy cùng con tạm đến một nơi khác để lánh nạn.

Bá Doanh thái hậu rưng rưng nước mắt trầm tĩnh nói:

– Người xưa đã dạy rành rành, làm phận đàn bà con gái, tiễn khách không ra khỏi cửa, thăm thân không đi quá trăm dặm. Ngày nay ta là mẹ của muôn dân, sao có thể vứt bỏ tông miếu lăng tẩm của tiên vương mà chạy trốn? Con đừng nên lấn bấn vì mẹ, hãy lo cùng các trọng thần trốn trước đi, nuôi quân luyện võ, để chờ một mai. Trách nhiệm rết nặng nề, mong con hãy tự giữ mình.

Sở vương. quỳ mãi dưới đất, nức nở khóc không thành tiếng:

– Để mẫu hậu rơi vào tay địch, con làm sao có thể yên lòng, xin mẫu hậu hãy cùng đi với con.

Đột nhiên, ánh mắt của thái hậu bỗng trở nên lạnh lùng và nghiêm khắc, giận dữ nhìn thẳng vào Chiêu vương dằn từng tiếng một:

– Con quý là làm vua trong một nước, sao có thể bị tình thân níu chân, hãy nên lấy quốc gia làm trọng, hãy lo trước đến muôn dân. Hy vọng mai sau của nước Sở hoàn toàn gửi gắm vào một mình con. Đi đi… Con hãy trốn ra nước ngoài trước, để mưu cầu việc hưng bang phục quốc, để rửa mối nhục mất nước, đó mới là cách tốt nhất để con báo đáp công ơn cho mẹ.

Không còn cách nào, Chiêu vương đành gạt lệ từ biệt mẹ. Chiêu vương vừa định lui ra, thái hậu Bá Doanh liền gọi giật lại, buồn rầu nói:

– Công chúa Quý Hoa, tuổi thơ sức yếu, thật là đáng thương, con hãy mang nó cùng đi và nhất định phải quan tâm săn sóc nó!

– Mẫu hậu! – Chiêu vương nhào ra phía trước, mẹ con ôm lấy nhau, đau buồn khôn xiết, nghẹn nói chẳng nên lời, nước mắt đầm như mưa, sinh ly tử biệt, thật là quyến luyến khôn rời…

Đột nhiên tả doãn Tử Tây chạy bổ vào cửa cung, giục Chiêu vương và Bá Doanh công chúa hãy kíp mau mau ra cửa lên xe, chậm trễ e rằng không kịp. Còn chưa nói hết câu, bỗng lại có nội thị vào báo quân Ngô đã đánh tới hoàng cung, e rằng khó mà chạy thoát.

Mẹ con Chiêu vương nghe nói vậy, đứng ngây ra như phỗng, mãi sau, như một người điên dại, Chiêu vương gào lên:

– Trời hại ta rồi… – Ngay sau đó ngã ra, bất tỉnh nhân sự.

Tử Tây một mặt sai người đi gọi thái y đến cấp cứu Chiêu vương, mặt khác lệnh cho Châm Doãn Cố đưa đàn voi vẫn nuôi ở trong cung ra, lấy mỡ cá quét vào đuôi rồi châm lửa đốt, lùa chúng chạy sang phía quân Ngô. Cũng trong nháy mắt cửa cung của vua Sở mở toang, hàng trăm thớt voi lửa nhất loạt xông vào quân Ngô, uy lực của nó xem ra còn hơn cả “xe lửa” của Ngũ Tử Tư. Những con voi lửa lại cứ nhè chỗ người đông mà chạy tới, xông xáo dọc ngang, giày cho đám quân Ngô tan tác tơi bời, chết và bị thương vô số, đàn voi lửa đi đến đâu, ở đó bốc cháy đùng đùng, bỗng chốc trong kinh thành Sính đô ngập trong biển lửa. Đương nhiên như vậy quân Sở và dân chúng nước Sở bị lửa thiêu chết cũng không phải ít. Sở Chiêu vương nhân lúc hỗn độn ấy, cùng một số quan văn võ đi theo lối cửa sau của hoàng cung, trốn ra ngoài Sính đô. Hôm ấy là ngày hai mươi chín tháng mười một Hạ Lịch, năm Ngô vương Hạp Lư thứ chín, tức là năm năm trăm lẻ sáu trước công nguyên.

Văn võ của triều đình nước Sở hộ giá Chiêu vương ra khỏi Sính đô, trước hết chạy theo hướng tây, sau đó vòng vèo vượt sông Hán Thuỷ đi theo hướng đông đến Vân Thành kinh đô của một nước phụ thuộc. Trên dọc đường, Chiêu vương hồi tưởng lại những ngày huy hoàng hiển hách trước đây và nỗi long đong hoạn nạn ngày nay, chẳng những nước mắt nước mũi đầm đìa, mà tiền đồ mờ mịt, lành dữ chưa biết ra sao, thật không còn biết nên làm thế nào cho phải. Vùng đất này, bốn phía là ao hồ cống rãnh, vốn gọi là đầm Vân Mộng, thưa thớt bóng người, đường sá lầy lội, đi lại hết sức vất vả. Để đi được nhanh về phía trước, họ buộc phải luôn luôn thay đổi lúc đi bộ, lúc chèo thuyền, hết sức phiền phức. Sở Chiêu vương với một tấm thân vốn luôn sống trong nuông chiều trọng vọng, làm sao chịu đựng nổi sự giày vò nghiệt ngã thế này, hơn nữa đằng sau có quân truy kích, phía trước mờ mịt mông lung, quả thật là đau khổ không thiết sống… Có một đêm, đoàn thuyền cắm lại giữa một bờ lau lách, đang định nghỉ đêm lại đó. Qua một ngày bươn chải, Chiêu vương thấy vô cùng mệt mỏi, ăn qua loa cho xong cơm tối, đang định đi ngủ, bỗng từ trong rừng rậm có hàng chục bóng người nhảy ra, người nào cũng lăm lăm đao thương trên tay, xông xuống thuyền của Chiêu vương, một người trong đó đã cầm thương lao tới. Đại tướng Tôn Do tướng đứng bên đã nhạy bén và mau lẹ, vội vàng tung chân lên đá phăng mũi thương sang một bên, dằn giọng mắng rằng:

– Bọn cướp này! Chúng bay thật có mắt như mù, lại dám cả gan chặn đường đâm cả Chiêu vương là vua nước Sở lớn mạnh…

– Ha! Ha!… – Bọn cướp cảm thấy nực cười – Chiêu vương với chẳng ấm vương là cái quái gì? Từ Sở Bình vương đến Phí Vô Cực, từ Phí Vô Cực cho tới Nang Ngoã, có đứa quái nào là không tham bạc hám vàng? Chẳng lẽ chỉ những kẻ làm vua làm quan các người mới được giành giật cướp bóc, hút xương hút tuỷ, mà không để cho dân đen cực khổ chúng ta kiếm bát cơm ăn? – Nói xong, lại giơ thương lên đâm tới. Tôn Do lấy thân mình hộ giá, bị đâm trọng thương mà chết. May mắn làm sao, đại tướng Ngô Sào kịp thời chạy tới, đánh nhau với bọn cướp một số hiệp, sau hộ giá cho Chiêu vương dời thuyền lên bờ, ẩn trong cỏ rậm để thoát chết. Chiêu vương thế là được sống sót trên đời, nhưng thuyền bè và bạc vàng châu báu có trên thuyền, đều lọt hết vào tay bọn kẻ cướp. Nhưng đó toàn là những thứ ở ngoài xác thịt, đã đến nước này, cũng chẳng hơi sức đâu mà nghĩ đến những thứ đó, đúng như người ta thường nói là thôi thì “còn người là còn của”.

Bọn cướp thu đầy túi bỏ đi. Vua tôi nước Sở tả tơi thảm hại, co cụm lại với nhau, ngủ một đêm ở bờ lau, sáng sớm hôm sau lại lên đường, nhưng lúc này không ngồi thuyền mà cũng chẳng có cách nào đi xe, chỉ còn cách cưỡi ngựa mà thôi. Đang đi, Chiêu vương bỗng dừng cương và nhảy xuống khỏi mình ngựa, nét mặt đau khổ thốt kêu lên:

– Trời ơi! Chết rồi! Công chúa Quý Hoa vẫn đang còn ở trên thuyền! Làm thế nào bây giờ?…

Thuyền đã bị bọn người kia cướp đi, cho dù có quay lại tìm e rằng cũng chẳng ích gì, công chúa Quý Hoa là người con gái được thái hậu Bá Doanh sủng ái nhất, Chiêu vương cũng yêu mến nàng, nâng niu như ngọc quý trên tay, trước khi rời khỏi hoàng cung, thái hậu đã dặn dò rất kỹ, bây giờ để mất nàng, Chiêu vương làm sao có thể yên lòng! Thừa biết lúc này có cất công đi tìm, cũng chẳng có kết quả gì, Chiêu vương vẫn nhìn các quan văn võ quanh mình với ánh mắt van lơn, nói với giọng vô cùng thiểu não:

– Liệu có vị ái khanh nào nguyện đi cứu công chúa Quý Hoa hay không?

Hạ đại phu Chung Kiến không nỡ nhìn Chiêu vương dạ như lửa đốt, thế là lên trước quỳ xuống xin rằng:

– Thần nguyện xin đi cứu công chúa Quý Hoa.

Sở vương nghe nói thế, vẻ mặt bỗng vui hẳn lên, vội nói:

– Nếu ái khanh cứu được công chúa Quý Hoa, thì ân tình đó, quả nhân suốt đời không quên.

Tuy rằng như vậy, nhưng trời đất mênh mông, chuyện đời mênh mông, biển người mênh mông muốn cứu được công chúa Quý Hoa, gần như là một chuyện hoang đường. Bản thân Chung Kiến, cũng chỉ là xử sự theo tình cảm trong chốc lát, chỉ vì đã trót nói ra mồm, lại không nỡ thấy Chiêu vương khổ sở như thế, nên mới quyết liều mình một phen, để thử vận may. Hắn thầm nghĩ, giữa lúc trong thuyền lộn xộn, có thể công chúa Quý Hoa đã trốn thoát lên bờ, cũng chưa biết chừng, huống chi công chúa là người lanh lợi thông minh, rất có thể đã trốn thoát rồi thật. Hắn đang coi những điều giả tưởng là sự thực, bỗng thấy yên trong lòng và với một niềm tin lớn lao, hắn quay lại bãi lau, đưa hai tay lên miệng làm loa, quay ra phía bãi loa gọi lớn:

– Công chúa ơi! Công chúa Quý Hoa ơi! Công chúa ở đâu?

Hành động của Chung Kiến, xem ra có vẻ nực cười, tuy nhiên trên đời lại hay có điều kỳ quặc, chuyện lạ đời lại xảy ra ngay lúc này.

Chung Kiến vào giữa bãi lau, chạy đi chạy lại giữa những lùm cỏ khô um tùm, luôn mồm kêu gọi. Bỗng nhiên hắn phát hiện cách đó không xa có một bóng đen đang xê dịch, trong lòng bỗng nảy ra niềm hy vọng, vừa chạy như điên dại về phía cái bóng đen, vừa lấy hết sức ra mà gọi:

– Công chúa Quý Hoa! Rốt cuộc là người đang ở đâu, đại vương đang nóng lòng như lửa đốt, hãy mau ra đây xem nào!

Trong đám cỏ mà màn sương bạc còn dăng kín vang ra tiếng khóc nghẹn ngào nhưng mềm yếu của một người con gái. Tiếng đáp lại vang lên yếu ớt:

– Công chúa Quý Hoa đang ở đây này! Người là ai thế?

Nghe thấy tiếng kêu, Chung Kiến mừng như mở cờ trong bụng, tựa hồ như phía trước đang cháy lên ngọn lửa đùng đùng, rực đỏ cả một góc trời, hắn loạng choạng bước thấp bước cao chạy tới nơi có ánh lửa. Quả nhiên là công chú Quý Hoa. Thấy nàng bùn đất bám đầy mình, toàn thân co dúm lại và run bần bật, Chung Kiến nhào lên trước, kéo công chúa ra khỏi vũng bùn:

– Thưa công chúa! Tôi là hạ đại phu Chung Kiến, theo lệnh của đại vương, lặn lội tới đây để cứu công chúa! Xin hãy cùng tôi đi gặp đại vương!

Nguyên là khi thấy bọn cướp ập đến, công chúa Quý Hoa hoang mang nhảy xuống vũng bùn và nấp trong bụi rậm, đúng là một chiếc thân ngàn vàng, một bông hoa trong phòng ấm, một con chim nhỏ trong lồng son như nàng, làm sao có thể chịu đựng nổi những giày vò đớn đau như thế, nàng sớm đã mệt mỏi quá sức, núp trong bụi cỏ, kéo một ít cỏ khô che gió che lạnh, rồi bỗng thấy ấm dần và chìm vào giấc ngủ say. Khi tỉnh lại, thì mặt trời đã lên được mấy con sào, tìm khắp cả không thấy người ngựa ở đâu, chạy đôn chạy đáo tìm gọi khắp nơi, kêu khóc đến khản cả cổ.

Thật không ngờ, Chung Kiến đoán định không hề có chút gì căn cứ, thế mà lại ăn khớp với sự thực, thế chẳng há ra ra việc tốt đẹp bởi trời cho đó sao! Chung Kiến dẫn công chúa đến bên Chiêu vương, anh em lại ôm nhau mà khóc, buồn vui mừng tủi, trăm thứ tình cảm cùng trào lên một lúc…

Đoàn người của Sở Chiêu vương lại tiếp tục cuộc hành trình, đi về phía Vân Thành, tuy nhiên con đường của một người mất nước, nó đắng cay cực nhục đến chừng nào, quả thật là không có một thứ gì sánh nổi.

Đi đường suốt đêm, đói khát khốn đốn, đi tới ngã ba đường, chợt thấy phía trước mịt mờ bụi đất, khói bay ngút trời, xem ra có vẻ như muôn ngàn vó ngựa đang dồn dập như cuốn theo cả một cơn gió lốc tơi bời. Chiêu vương và cả bầu đoàn sớm đã tả tơi thảm hại, thấy tình cảnh này, lòng lại càng thêm ngao ngán, đã không còn sức để chống đỡ, thì đành rẽ ngang tạm lánh vào rừng sâu. Chiêu vương rã rời cả thể xác lẫn tinh thần, thầm nghĩ một mình: Phải chăng cái chết đã gần kề, mà khu rừng này là nơi cho ta gửi xác đây?

Thế nhưng, người đến đó lại là công tử Thân. Nhận lệnh, đem hai vạn quân đi trấn giữ vùng sông Lỗ Phục, công tử Thân bỗng nghe được tin kinh thành Sính đô thất thủ, Chiêu vương chạy sang Vân Thành lánh nạn… cho nên đã đem quân tới đây hộ giá.

Đang ở bước đường cùng lại được cứu sống và có trong tay hai vạn người ngựa ngoài ý muốn, trái tim băng giá của Chiêu vương dấn dần ấm lại, trước mắt lại thấy thấp thoáng hiện lên một tia hy vọng mong manh: sau khi đến Vân Thành, rút ra bài học sinh động này, bắt tay chỉnh đốn lại binh mã, quyết tâm làm lại từ đầu…

Chiêu vương cùng với đoàn người ngựa của mình, qua bao nhiêu trắc trở quanh co, cuối cùng tới được đích đã định là Vân Thành. Đương nhiên, kinh thành này không thể sánh với Sính đô, quan đệ và nha thự của tướng giữ thành Đấu Hoài cũng không thể nào so bì được với vẻ trang nhã hào hoa của kinh đô nước Sở. Tuy nhiên lúc này đây, Sở Chiêu vương bỗng thấy nơi đây vô cùng thân thiết, gần gũi, ấm áp, thoải mái và an toàn, tựa hồ như một chiếc bách mỏng manh giữa mênh mang biển rộng đang trong cơn sóng gió hãi hùng, phải lênh đênh nhiều ngày và không biết bao phen xuýt nữa thuyền đắm người chìm, gửi thân vào bụng cá… đến lúc này bỗng được trở về bờ cũ bến xưa, được cùng với người thân đoàn tụ. Để tẩy trần và xua đuổi nỗi mệt mỏi kinh hoàng cho Chiêu vương và những nhân viên tuỳ tung, Đấu Hoài đã sai bày tiệc lớn với đủ thứ rượu ngon vật lạ, mọi người uống thật say rồi mới ra về. Sau bữa tiệc, Đấu Hoài còn chuẩn bị cả nước nóng để cho Chiêu vương tắm rửa. Sau khi tắm rửa thoả thê, Chiêu vương được mời tới gian phòng ngủ rất xa hoa và khá sang trọng mà Đấu Hoài đã chuẩn bị sẵn. Vừa đang định cởi áo lên giường nghỉ ngơi, ngủ hẳn một giấc ba ngày ba đêm cho bõ thèm, Chiêu vương bỗng giật mình vì Đấu Hoài chợt xô cửa bước vào, toàn thân nai nịt gọn gàng, tay lăm lăm một con dao sáng loáng, đùng đùng giận dữ, hai mắt giương tròn thô lố như hai quả trứng, miệng quát:

– Tên hôn quân hãy nghe đây: bây giờ ngươi đã được cơm no rượu say, rồi lại tắm rửa sạch sẽ nữa, ta sẽ cho người được sang thế giới bên kia mà hưởng phúc với thể diện đàng hoàng…

Chiêu vương sợ run như giẽ, lắp bắp nói:

– Tướng quân làm gì vậy? Thì cũng phải cho quả nhân chết được rõ ràng!

Đấu Hoài giận sôi lên, áp sát lại gầm lên:

– Sở Bình vương tàn hại người trung lương, giết chết cha ta, nay ta phải đòi nợ máu! Cha nợ thì con phải trả mà!

– Đó là chuyện của tiên vương, phỏng có liên can gì đến quả nhân?…

– Cha nợ thì con trả, lẽ thường xưa nay, hãy nhìn đây – Đấu Hoài vừa nói vừa vung cao tay dao, với sức mạnh ngàn cân bổ xuống đầu Sở Chiêu vương.

Nguyễn Bá Thính
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Tào Nghiêu Đức

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.