Lại nói Nang Ngoã thống soái thủy quân của nước Sở, qua vùng núi Dự Chương để vào Trường Giang, sông rộng nước sâu, cưỡi gió vượt sóng thuận dòng trôi xuôi, tiến lên trong máu đổ và tội ác để thẳng tới nước Ngô, dọc đường đi, không hề gặp một toán quân địch nào cản trở hay đánh úp, lòng tướng sĩ trong toàn quân xôn xao như sóng nước mênh mang. Không biết đi như vậy mấy ngày đêm, cho đến một hôm trời vừa rạng sáng, trên mặt sông rộng khói sương mờ miên man, ngôi sao mai ở đằng đông uể oải nhảy lên những tia yếu ớt, rồi lúc ẩn lúc hiện, sau cùng lẩn vào sau ánh rạng đông màu da cam từ chân trời dâng lên mây sớm ửng lên muôn màu, ánh hồng dâng lên tràn ngập nhuốm đỏ có núi, làm say cả sông, nhuộm thắm cả ruộng đồng làng mạc. Vầng mặt trời nhô lên khỏi mặt nước, lấp lánh lửa cháy lên rừng rực, cuồn cuộn dâng lên, vừa tròn vừa to, như còn e ấp ngại ngùng, hắt ánh vàng xuống đầu từng con sóng lăn tăn, như một bức gấm khổng lồ phủ trên cánh đồng rộng mênh mông không bờ, chỗ thì phẳng phiu, chỗ thì dăn đeo, chỗ thì ngời lên phơi phới… Qua giờ Thìn, sương tản, mây tan, trời cao mây nhạt, gió lặng sóng yên, chim ưng dang cánh lượn, con vịt con le đùa trên mặt nước, đội thuyền của nước Sở như đàn cá bơi trong nước, nối nhau đi mãi về phía xa. Đến gần Dung Phố[1] bỗng thấy thủy quân của nước Ngô đang ngược dòng mà lên, rất rõ ràng, đây là lực lượng đầu tiên chống lại quân Sở đến xâm phạm. Nang Ngoã nghe báo, vội ra đứng trên mũi thuyền, đưa mắt nhìn xa, thấy quân Ngô trận dung tề chỉnh, khí thế mạnh mẽ, tuy rằng phải tiến ngược dòng, nhưng tốc độ không hề chậm lại, rất cả vẻ đang thắng thế. Thấy thế lực bên địch mạnh mẽ thế, tại sao Nang Ngoã lại có vẻ bình tâm như vậy? So với Sở, Ngô nước nhỏ, quân ít, đã thấy quân thủy của họ phải chống chọi ở trên sông thế này, thì số quân trên bộ đóng ở nước Đồng của họ cũng sẽ chỉ có hạn thôi, công tử Phồn đang dẫn quân bộ ra khỏi vùng sông Hoài, từ Lục An vào Thư Cưu để đánh úp nước Đồng sẽ dễ dàng như lấy đồ trong túi, thắng lợi trong tầm tay. Sau đó cánh quân ấy sẽ xuống phía nam, hợp sức với Nang Ngoã đánh thủy quân Ngô trên sông, một trận là toàn thắng. Dòng sông mênh mang từ tây nam chảy tới, sau khi qua Ô Sa thì chia làm ba nhánh, chảy tiếp chừng mười dặm nữa, khi còn chưa tới Mai Cánh lại hợp vào làm một chảy về phía đông bắc. Nang Ngoã hí hửng bài binh bố trận để đón đánh quân địch, định khống chế thủy quân của nước Ngô ở vùng sông nước. mênh mang ở giữa Ô Sa và Mai Cánh này, cứ vây lại mà không đánh, chờ sau khi công tử Phồn đánh úp Đồng xong rồi quay xuống, hai quân thủy bộ giáp công, thủy quân Ngô sẽ như ba ba trong vại, sẽ chẳng phải tốn bao nhiêu sức lực, đánh và thắng lợi nhẹ nhàng, có khi còn không phải đánh mà giặc cũng tan. Đương nhiên, đó chỉ là ý muốn chủ quan của Nang Ngoã, tiến trình chiến đấu chưa hẳn đã tùy theo ý muốn và sự tưởng tượng đó của hắn.
Cánh quân bộ do công tử Phồn đi đầu, trong khi tiến quân gặp khá nhiều rắc rối, không được suôn sẻ như quân thủy do Nang Ngoã dẫn đầu. Thứ nhất là đường sá xa xôi, trước hết lên phía bắc ra khỏi Hoài Hà sau đó lại quay xuống phía nam, có thể nói là mệt quân vì phải đánh xa, tướng sĩ đều uể oải, sĩ khí giảm sút, đó là điều rất kỵ của nhà binh. Thứ hai là dọc đường không gặp núi thì cũng mắc sông, rất ít quãng bằng phẳng, cho tới khi đến được đích, thì quân lính người nào người nấy như một lũ ngan rù, làm gì còn sức để đánh đấm nữa. Thứ ba là thừa biết những nơi sẽ đi qua đều là những nước phụ thuộc, thế nhưng với những nước này xưa nay nước Sở luôn thi hành chính sách bạc ngược, nhẹ giết tróc nhưng lại nặng sưu thuế, khiến cho dân chúng các nước này phải sống trong cảnh đói rét lầm than, tiếng oán trách dậy trời, thế nên quân Sở đi đến đâu, dân chúng tranh nhau đóng cửa chạy trốn, khiến cho lương thảo và quân số của quân Sở không có nguồn bổ sung. Chẳng những thế, đôi lúc quân Sở còn bị dân chúng các nơi đánh chặn, đánh úp, những người dân đó chưa hẳn đã xuất phát từ mục đích quân sự hay chính trị, mà chẳng qua là do quá đói rét, muốn cướp lấy một ít vật chất của cải nhằm thỏa mãn nhu cầu trước mắt, đương nhiên, cũng có người xuất phát từ căm giận phẫn uất mà đánh. Quân trên bộ của nước Sở suốt dọc đường lặn lội luôn phải đối phó với những cuộc chiến đấu qui mô nhỏ, cho đến khi qua Lục An thì đã trở nên sức tàn lực kiệt, như mũi tên mém không xuyên được lụa mỏng. Qua Lục An đi về hướng đông nam ở phía xa trăm dặm kia chính là Thư Cưu. Từ Thư Cưu đến nước Đồng, núi non nhấp nhô, lên xuống trập trùng, đi về phía trước càng thêm vất vả. Một hôm, đang đi đường bỗng thám mã quay lại báo: Trên đỉnh núi ở phía trước không xa, thấy có cắm lá cờ soái với chữ “Tôn” ở ngã tư đường nơi chân núi, có quân Ngô vác đao đi đi lại lại. Nghe thấy báo như vậy, công tử Phồn không dám cho quân tiến lên nữa, mà ra lệnh cho toàn quân lui lại mười dặm, chọn núi cắm trại để quan sát động tĩnh thế nào.
Doanh trại đã sắp đặt xong xuôi, tướng sĩ nghỉ ngơi đợi lệnh, để xả hơi sau nhiều ngày hành quân và chiến đấu mệt mỏi. Công tử Phồn sai nhiều toán mật thám cải trang đi dò la tin tức các nơi, kẻ thì đóng vai người nhà quê miền núi, kẻ thì đeo cung tên là thợ săn, kẻ thì đóng thành người hái thuốc đeo gùi trên lưng, tay cầm thuổng cuốc. Cũng có thể do quân Ngô đóng quân ở đây lâu ngày, nên với những người dân trong vùng ra vào thung lũng, đám lính gác quân Ngô không hề khám xét gì hết, thậm chí còn chào hỏi rất thân mật, nói với nhau vài câu chuyện xóm chuyện làng, đôi bên không hề có gì tỏ ra ngăn cách hay đề phòng nhau, thế nên đám mật thám của quân Sở được thể chu du khắp mọi nơi, nắm được hết tình hình mọi mặt của quân Ngô. Tổng hợp, phân tích những tình hình đó, công tử Phồn đã rút ra mấy điểm sau: Vùng Thư Cưu tuy có quân Ngô đóng giữ, nhưng số lượng không đông, điều đó so với lời anh em họ Diêu nói ra, không sai một mảy may nào. Thứ hai là từ Thư Cưu đến nước Đồng, chỉ có một con đường duy nhất, dọc đường quân Ngô không mai phục. Ba là tướng sĩ quân Ngô người nào cũng chán ghét chiến tranh, người nào cũng ủy mị, lại luôn ấm ức trong bụng, nói năng lung tung. Thứ tư là quân Ngô đóng quân ở Thư Cưu và ở nước Đồng lâu ngày, thù địch với nhân dân, dân chúng địa phương không cung cấp lương thực cho họ. Cho nên quân Ngô phải chờ từ hậu phương xa xôi, lương thực khó bề tiếp tế, chính vì thế mà tướng sĩ quân Ngô thường ở trong tình trạng đói khát. Làm sao thấy được những điều đó? Có hai điều chứng cớ sau đây: Một là quân Ngô đả phải đi săn bắn mà ăn, trinh thám quân Sở đã từng thấy hai toán quân Ngô ẩu đả với nhau để tranh giành một con mồi và cả hai bên đều sức đầu mẻ trán; hai là trinh thám của quân Sở nhiều lần thấy quân Ngô đói quá đã phải giết ngựa để ăn. Công tử Phồn sung sướng phát điên lên, hý hửng reo lên: “Trời giúp ta rồi”, sau đó lệnh cho mổ lợn giết bò, khao thưởng tướng sĩ toàn quân, sau khi cơm no rượu say, đã nhổ trại tập hợp, hành quân áp sát những nơi cửa khẩu hiểm yếu quân Ngô đang đóng giữ.
Đấy là triền kéo dài của Đại biệt sơn và Hoắc sơn, thân núi phần lớn đều cấu tạo bởi những tảng đá vôi, từ Lục An kéo dài xuống đông nam hơn trăm dặm phần lớn là ao hồ và đầm lầy, qua Thư Cưu không xa, núi cao nhô hẳn lên, liên miên chạy dài lên tây bắc. Núi Móng phượng sừng sững nhô lên, ba cái móng của chân phượng hình thành thế đối lập nhau, giữa hai móng ấy là hai lũng núi sâu, tên là Lũng Móng phượng trước và Lũng Móng phượng sau, tạo thành hình hom giỏ phía trước rộng, phía sau hẹp, đi chừng mươi dặm, hai lũng núi nhập vào là một, gọi là lũng Móng phượng, lũng sâu cây dày, núi cao dốc hiểm, người đi trong lũng núi, không thấy ánh mặt trời, âm u dễ sợ. Ngay trong lòng thung lũng, địa thế cũng rất phức tạp, lúc thì thấy rộng ra, lúc lại thấy hẹp lại. Chỗ rộng có thể đứng được cả trăm người, như một cái bãi rộng; chỗ hẹp phải nghiêng mình mới lách được qua mà còn phải thót ngực nín hơi, chỗ này cong xuống, chỗ kia cong lên, có lúc lại gấp khúc, có lúc vòng quanh hẳn lại, như một thứ mê hồn trận, hoặc chảy xiết thành thác reo, hoặc thành đầm sâu khôn lường, hoặc khe rãnh dọc ngang, hoặc thành động thành hang nối thông nhau. Một vùng rừng rậm lũng sâu như vậy, không nói là mới trinh sát trong chốc lát, mà ngay cả người Thư Cưu sống đời đời kiếp kiếp ở đây, cũng khó mà biết hết được mọi điều ở đây, nắm được những gì bí hiểm của nó, huống chi là quân sĩ nước Ngô theo lệnh của Tôn Tử, đã cố tạo ra những giả tượng cho quân Sở nhìn thấy, bởi thế nên những gì mà quân Sở trinh sát được, đều là những chuyện giả dối, những tình hình cố ý tạo ra.
Quân Sở đến chân núi Móng phượng, đã thấy tướng lĩnh quân Ngô mang lính của mình giữ chặt cửa trước cửa sau của thung lũng sẵn sàng đón địch, thế trận y như giữ thành giữ ải vậy. Công tử Phồn lệnh cho viên quan đi tiên phong là Vĩ Việt lên phía trước thách địch ra trận. Vĩ Việt tuân lệnh, liền sai xà ích đánh xe lên phía trước. Trung Quốc thời xưa, ở giữa thời kỳ Chiến quốc, trước Vũ Linh vương nước Triệu mặc áo rợ Hồ cưỡi ngựa bắn cung, phần lớn là dùng chiến xa xung phong giao chiến. Loại xe này khá lớn, bốn con ngựa mới kéo được một cỗ xe gọi là một thặng. Trên xe ít nhất có ba người: Một người làm xà ích đánh xe, một người đứng ở bên phải luôn tay múa mâu dài, đánh kẻ địch ở gần. Một đất nước lớn nhỏ mạnh yếu, thường thường đánh giá bằng số lượng các cỗ chiến xa thế này, nước nào có ngàn cỗ chiến xa, được gọi là nước “thiên thặng”, có vạn cỗ xe thì gọi là nước “vạn thặng”. Nhắc đến viên quan tiên phong Vĩ Việt, người đọc chắc không lấy làm lạ, khi Ngũ Tư Tư hàm oan vượt Chiêu quan, con người này đã từng nổi bật vai trò. Về sau Sở Việt liên quân đánh Ngô, Tử Tất làm đại tướng, Vĩ Việt phụ tá, gần như chết không còn chỗ chôn. Người ta bảo thắng thua là chuyện thường tình của nhà binh, trên đời này khó mà tìm ra những vị tướng luôn thắng, Ngô Sở giao chiến với nhau, Vĩ Việt lại đánh trận nào thua trận ấy, xứng đáng là một vị tướng luôn thua, ấy thế nhưng hắn lại luôn tỏ ra vênh vác, tỏ vẻ ta đây, cứ làm như trong lịch sử chưa từng có những kỷ lục xấu xa tồi tệ ấy. Hãy cứ nhìn hắn với tấm thân cao lớn cao chín thước, với cái đầu vừa tròn vừa to, mày rậm mắt lồi, mũi sư tử, miệng rộng, dưới cằm là bộ râu cứng như sắt, đầu đội mũ bạc, thân khoác chiến bào, lưng thắt đai da, chân đi ủng đen ngang lưng giắt kiếm… bộ dạng cũng khá là anh dũng, nếu cứ trông vào ăn mặc, cũng rất ra vẻ một ông tướng. Vĩ Việt hô lớn:
– Tướng sĩ quân Ngô hãy dỏng tai lên mà nghe đây này. Hãy mau mời Tôn Vũ nguyên soái của các người ra đây mà đỡ đòn, ông các ngươi là Vĩ Việt quyết một phen sống mái với hắn đây này!…
Vĩ Việt còn chưa nói dứt lời, từ trong lũng Móng phượng trước lao ra một cỗ xe, bốn con ngựa cùng màu, đỏ như lửa cháy, mười sáu chiếc vó trắng tung lên như bay, giữa đỉnh đầu một con ngựa là một nhành mai trắng, càng tỏ ra đẹp đẽ lanh lợi, chưa cần nhìn thấy mặt tướng lâm trận, mới chỉ chỗ chiến xa này, với những con ngựa này, cũng đủ để Vĩ Việt thấy thẹn không bằng người, rồi không rét mà run. Vị tướng đứng đầu trên xe mình cao tới trượng hai, đầu tầy cái đấu, vai rộng như bức tường, lưng như tấm phản, đứng hơi dạng chân ra ở trên xe như một đỉnh núi. Bàn tay ông xòe ra như cái quạt, các ngón tay duỗi ra như những cái dùi trống, tay cầm cây thiên phương họa kích nặng một trăm tám mươi cân như cầm một chiếc kim thêm. Ông đội mũ tử kim khôi, mặc áo giáp vàng, chân đi ủng chẽn, mắt giương tròn như mắt hổ, thét lên một tiếng, khiến cho chiến xa của địch sợ quá lóc cóc chạy lui, Vĩ Việt ở trên xe xo lại như chỉ còn một nửa. Vị tướng ấy chỉ vào Vĩ Việt nói:
– Nếu ta không lầm, thì ông là Vĩ Việt, Vĩ tướng quân phải không? Mười bốn năm trước trấn thủ Chiêu quan, để Ngũ Tử Tư và công tử Thắng đi ngang qua trước mặt, xuýt nữa thì mất đầu, hạng người bất tài như thế, còn dám ăn nói càn rỡ, định so tài cao thấp với Tôn nguyên soái nhà ta, người còn biết trên đời này có hai chữ liêm sỉ hay không?
– Ngươi là ai? Khá mau xưng tên họ ra ngay! – Vĩ Việt tức giận, giọng nói run run, nhảy lên ở trên xe hỏi lớn.
Tướng Ngô chỉ cười vang, cười đến chảy nước mắt ra mà không trả lời.
– Quân điên rồ làm sao lại chỉ cười không đáp, mau xưng họ tên ra, để ta cho chết được rõ ràng – Vĩ Việt làm ra vẻ rất đắc chí.
– Ta cười Vĩ tướng quân quá là quí người mà mau quên – Tướng Ngô nín cười lại nói – hai năm trước, ở hang Quỷ Sầu núi Thiên Mục, người đã chẳng cùng đường, phải quỳ xuống đất để xin tha tội chết, chẳng phải là ta đã tha cho người đó sao? Thì ra cái ơn nhân đức đã cứu sống mạng người mà người cũng quên sạch rồi sao? Người còn có đáng là người nữa không?
Năm 510 trước công nguyên, Sở – Việt liên quân đánh Ngô, quân Ngô đã dụ quân địch vào sâu vùng núi Thiên Mục, tiêu diệt nặng nề sinh lực địch đã trừng trị chúng một đòn đích đáng. Để làm tê liệt cảnh giác của Sở Chiêu vương, Tôn Tử đã ra lệnh thả cho Tử Tất và Vĩ Việt được sống sót, và để cho chúng ca khúc khải hoàn với tư thế của người chiến thắng. Vĩ Việt không phải là chóng quên, mà đã lầm dấn thân vào hang Quỷ Sầu, bị đuổi đến chỗ cùng đường nghẽn lối, khi hắn quỳ xuống đất xin tha, thì hồn bay phách lạc từ lâu, làm sao còn dám ngẩng mặt lên nhìn hình đáng của tướng Ngô trước mặt, thế nên hôm nay đụng độ với nhau, mới không biết đó là ai.
– Nói thế thì ra người là công tử Phu Khái nước Ngô – Vĩ Việt làm ra vẻ ngạc nhiên – đây quả thật là oan gia đường hẹp, ta đang muốn tìm người để rửa nỗi nhục năm xưa, hãy nhìn đây!… – Vĩ Việt nói xong nâng mũi thương lao thẳng về phía Phu Khái.
Phu Khái vội vàng né tránh, Vĩ Việt đâm hụt một nhát. Thế là hai xe tám ngựa quấn quít lấy nhau, bụi tung mù trời, ngựa hí ầm ĩ, thương qua kích lại, ánh chớp lạnh người, binh khí va nhau, tiếng vang chát chúa, lửa toé lên bốn bề, kèm theo đó là tiếng trống thúc, tiếng hò hét, vang động cả núi rừng, thấu tận mây xanh. Không biết đánh nhau như thế được bao nhiêu hiệp, Vĩ Việt dần dần thấy đuối sức, thở ồ ồ, đòn hở tứ tung, chỉ còn gượng gạo chống đỡ được thôi, mà không đánh lại được miếng nào. Thấy tình thế có vẻ tồi tệ, công tử Phồn liền ra lệnh giục ngựa đưa mình ra trận để đánh nhau với Phu Khái, thay cho Vĩ Việt lui ra. Cũng đúng lúc ấy, bên quân Ngô có một vị tướng lùn đánh xe ra trước, người ấy mình thấp nhưng tiếng lại to, cất tiếng hô lớn:
– Xin Phu tướng quân hãy lui ra, để tôi được tiếp chủ tướng của quân Sở.
Vị tướng lùn ấy của quân Ngô chẳng phải ai khác, mà chính là Bị Ly con của Yêu Ly.
Công tử Phồn giao chiến với Bị Ly, hết sức nực cười và thú vị, một đằng tuổi tác chưa quá hai mươi, dong dỏng cao, đứng ngất ngưởng như một cái chồi cây, một đằng thì cao chưa quá cái bàn ép đập, nhưng ngang thì lại hơn hai ôm, đứng xe đâm ngược chọc xuôi, y như cái bị thịt lăn đi lăn lại trên. Hơn nữa đầu đội mũ đỏ mình mặc giáp đỏ, trông lại giống như quả cầu lửa lăn lóc trên xe. Đánh nhau chừng mươi hiệp, công tử Phồn to xác nhưng chẳng được mấy tí hơi, quả cầu lửa kia suy cho cùng cũng chưa đáng mặt là địch thủ của Bị Ly, nên dần dần chịu thua. Đúng lúc đó, có một cánh quân Sở khác, chúng người đông thế mạnh, lính khỏe ngựa tốt, cứ như một đạo thiên binh từ trên trời xuống với thế mạnh như Thái Sơn đè đầu. Quân Ngô thấy tình thế bất lợi, vội vàng nổi lệnh thu quân, lá cờ soái cao bay phấp phới không thấy đâu nữa, các tướng sĩ ùa lên chạy trốn về phía lũng Móng phượng trước và sau, chiến xa, khí giới lương thực vứt ở dọc đường nhiều vô kể. Công tử Phồn một mặt cho người nhặt nhạnh thu dọn chiến trường. Những thứ quân Ngô bỏ lại đó, đối với quân Sở không khác gì buồn ngủ gặp chiếu manh, thật hết sức quý giá; mặt khác sai Vĩ Việt bám riết trung kích phía sau quân Ngô, để tiêu diệt hết.
Nhìn bề ngoài, thua trận như núi lở, quân Ngô tan vỡ tơi bời, từng toán một chạy trốn còn nhanh hơn thỏ. Nhưng thực ra, họ đang đùa giỡn với quân Sở, như làm trò ú tim khiến quân Sở phân tán loanh quanh vào các hẻm núi sâu, rồi xuất quỷ nhập thần tiêu diệt hết.
Từ lũng Móng phượng trước và sau, đuổi sâu vào hơn mười dặm, hai lũng núi này hợp lại với nhau làm một, chính ngay chỗ hai lũng núi giao nhau có một cái đầm sau, rộng tới hàng chục mẫu, nước đen như mực, âm u đến ghê người, ai nhìn thấy cũng ớn nổi da gà. Lũng núi trước và sau gần bao quanh nửa đầm lầy, mới hợp lại thành lũng Móng phượng, như một con đường vòng của thành phố, có điều đường ở đây rất hẹp, không thể đi xe vào được mà chỉ có thể đi bộ được thôi, cưỡi ngựa đi qua cũng rất khó và nguy hiểm. Mặt đường thì khấp khểnh nhấp nhô, toàn là đá cuội lổn nhổn. Một bên đường là vách núi thẳng đứng như đẽo và những suối khe chằng chịt như mạng nhện, một phía là vực sâu thăm thẳm, hễ đi không cẩn thận là sểnh chân rơi xuống đầm sâu, vùi thân vào bụng cá. Quân Sở không thuộc địa hình, đuổi tới đây, không thấy bóng quân Ngô đâu, lòng bỗng sinh nghi. Chúng thận trọng rón rén, thấp thỏm run sợ tiến về phía trước, muốn đi quanh bờ đầm, theo lũng núi Móng phượng tiếp tục trung kích. Bỗng nhiên, một hồi trống vang lên, hàng loạt quân Ngô mai phục sẵn ở các nơi hò hét xông ra, hoặc bắn tên, hoặc đâm bằng thương bằng kích, hoặc chém bằng dao, quân Sở luống cuống theo nhau rơi xuống đầm sâu mà chết, kẻ nào chưa bị đâm chém thì cũng bị tiếng hô làm giật mình rơi xuống đầm nước, nhiều không biết đâu mà kể. Kẻ nào sống sót vòng qua được bờ đầm đi tới lũng núi Móng phượng, thì cũng không dám đuổi theo quân Ngô nữa, mà trốn chạy thục mạng. Đương nhiên cũng có kẻ muốn quay trở lại đường cũ, nhưng lối đi ấy đã bị quân Ngô cắt ngang, mười tên chạy trở lại thì hết tám chín tên bỏ mạng trong rừng.
Tướng sĩ của quân Sở chạy đến lũng núi Móng phượng liệu đã thoát nguy hiểm hay chưa, không ai dám ngông cuồng và ngây ngô nghĩ thế: Dọc đường trong thung lũng và các hang động, Tôn Tử đều cho quân mai phục. Quân Sở trốn theo lũng núi, lúc nào cũng có thể có một toán phục kích xông ra, đánh giáp lá cà hoặc vật lộn với chúng, rất ít kẻ được sống sót, toàn quân tan hoang.
Công tử Phồn tuy ít tuổi, nhưng là con người tỏ ra có tâm cơ, và có thể nói là rất gian ngoan xảo quyệt cũng không quá. Quân Ngô thua trận, hắn sai Vĩ Việt đuổi theo, còn mình thì ở lại đằng sau. Khi ở phía trước báo về rằng quân Sở nhiều lần trúng ổ phục kích của quân Ngô, thương vong gần hết, hắn vội vàng thu vén tàn quân chạy về hang ổ.
Tôn Tử đã khéo léo chỗ mai phục, bỏ ra một cái giá rất rẻ, đánh một trận hầu như tiêu diệt hết quân trên bộ của nước Sở. Chỉnh đốn lại đôi chút, đến tháng mười, quân Ngô dùng thuyền của người nước Đồng xuôi xuống phía Nam, trên thuyền cắm cờ của quân Sở, toàn bộ tướng sĩ đều chuyển sang mặc trang phục của lính Sở dùng rất nhiều vàng bạc mua chuộc hàng tướng của nước Sở và cho đứng trên mũi thuyền, vẫy cờ kêu gọi. Quân của Nang Ngoã bày trận ở mặt sông phía đông Ô Sa, thủy quân của quân Ngô đóng giả là công tử Phồn thì tiến ngược dòng mà lên, từ Mai Cánh tiến về phía tây, cùng Nang Ngoã tạo thành thế gọng kìm. Nang Ngoã đang ở dưới khoang thuyền, uống rượu hú hí với nàng cơ xinh đẹp, nghe báo công tử Phồn đã thắng trận quay về, liền đẩy người con gái đẹp trong lòng ra, lên mặt khoang thuyền ngóng trông, thấy đúng là thuyền của quân Sở đang tới, lá cờ của bộ binh quân Sở kéo trên cột, buồm bay cao trước gió, trên mũi của chiếc thuyền đi đầu, đang có một người dùng hiệu cờ, thông báo cách liên hệ để tiêu diệt thủy quân nước Ngô đang bị vây trên sông. Nang Ngoã một mặt lệnh cho ra hiệu cờ chỉ huy, một mặt nữa lệnh cho đoàn thuyền đi hết tốc độ về phía trước. Tiếng trống của thủy quân Sở đóng lên ầm ĩ, xen lẫn tiếng tơ tiếng trúc vang rền, tất cả chăm chú say sưa vào việc chúc mừng, mà không hề có một chút chuẩn bị gì về tư tưởng để đón đánh kẻ địch mạnh mẽ. Đoàn thuyền của Nang Ngõa đã gặp thủy quân nước Ngô, từng chiếc thuyền của quân Ngô hoặc bơi đi bơi lại trên mặt nước rộng mệnh mông, hoặc là xông xáo ngược xuôi, nhưng lại chẳng có một người nào của tướng sĩ quân Ngô lên trên mặt boong để đánh nhau chém giết với quân Sở. Nang Ngoã còn đang thắc mắc thì bắt được một chiếc thuyền của quân Ngô, nhảy lên thuyền xem, chỉ thấy có một người chèo, một người lái, một người kéo buồm, ngoài ra chẳng có lính tráng nào hết. Hóa ra toàn bộ thuyền chiến dàn ra trên mặt sông của quân Ngô toàn là thuyền không, Nang Ngoã chằng hiểu ra làm sao, hắn còn chưa kịp suy nghĩ gì thêm, thì đoàn thuyền có treo cờ quân Sở đã áp sát tới, trên thuyền chở đầy tướng sĩ, kiêu hùng của quân Ngô, người nào người ấy hăng hái như không gì có thể cản nổi, chẳng khác gì như hổ vào giữa bầy sói, rồng vờn trong đàn tôm cá, họ nhào đám thủy quân chống đỡ luống cuống của Nang Ngoã. Trận đánh chém này mới hùng tráng làm sao, đánh đến nỗi mặt sông như bỗng cuộn mây đen đẩy mặt trời chìm xuống đằng tây, đánh đến nỗi nước sông sôi sục, cuồn cuộn ào ào, gợn lên những lớp sóng đỏ ngầu, đánh đến nỗi thây người nổi lều bều, dập đờn theo sóng trôi theo dòng sông…
Quân Ngô thu toàn bộ chiến thuyền của quân Sở quay về trên đường về, đi qua phía nam Sào Ấp rồi đổ bộ lên bờ và dần dần vây đánh Sào Ấp, chỉ một trận là thắng, bắt được công tử Phồn nước Sở mang về.
Sau chiến dịch ấy về sau, tất cả các ấp ở phía đông núi Dự Chương và các nước phụ thuộc, toàn bộ thuộc về nước Ngô, còn nước Ngô thì đã hoàn thành được công việc chuẩn bị về quân sự để phá Sở mà vào Sính đô.
Sau khi Phong Hồ nói chuyện về gươm báu, nước Sở đã bỏ bê công việc đối phó với chiến tranh, các vị tướng quân không còn việc gì làm, suốt ngày ăn uống chơi bời, ngoài việc ấy ra, Tử Tất lại còn có riêng một nỗi lòng là luôn thắc thỏm áy náy về nỗi tội không phạt, công không thưởng của Chiêu vương, hắn luôn tỏ ra thất thường, lúc nào cũng hốt hoảng ngơ ngác, lang thang các nơi trên phố chẳng có mục đích gì. Một hôm, Tử Tất đang đi vơ vẩn trên phố, bỗng gặp một ông thầy bói tướng mạo khác thường – thân cao chín thước, mặt vuông tai to, tóc bạc da hồng, râu như sợi cước, lòng hiếu kỳ đã xui khiến hắn dừng chân lại bắt chuyện, nhờ thầy xem cho mình một quẻ. Ông thầy đưa mắt nhìn vị võ tướng hùng dũng trước mặt, hỏi qua ngày sinh tháng đẻ, xem qua tướng tay, trong miệng lẩm bẩm cái gì đó, sau đó cầm bút viết như rồng bay phượng múa vào vuông lụa, rồi đưa cho Tử Tất. Tử Tất nhận vuông lụa trên tay mở ra đọc, chỉ thấy trên lụa viết ba câu: “Ngọc lẫn trong đá, vàng chôn dưới đất, người ở hang sâu”. Tử Tất ngẫm đi nghĩ lại, không hiểu ý ra sao, xin hỏi ông thầy, được trả lời rằng:
– Thiên cơ không được tiết lộ, sau này tất sẽ hiệu nghiệm.
Đã là thiên cơ thì Tử Tất không tiện hỏi thêm nữa, khỏi phải nói, ông thầy này cũng là thần tiên biến hóa ra, nếu không, làm sao có thể biết được thiên cơ? Đương nhiên, cũng rất có thể là một gã lừa đảo trong giang hồ cũng nên. Tử Tất thu vuông lụa lại giấu vào tay áo, ấm ức bước đi. Về đến phủ của mình. Tử Tất mở ra xem lại, rồi đắn đo suy nghĩ, sau cùng mới tỉnh ngộ ra rằng: Ba câu viết trong lụa, hình như có ý báo cho hắn, mình đang như ngọc lẫn trong sỏi đá, khó có thể phơi bày hết vẻ mặt tươi sáng vốn có. Mình đang ở trong hang sâu, xung quanh là một màn đen tối, không có một tia ánh sáng, không biết lúc nào là sớm là chiều, đang sống chung với sói lang hổ báo, từ lâu đã mất đi linh tính của con người. Đừng nói người với súc vật sống chung với nhau trong hang hốc, mà ngay con người với nhau cũng phải đàng hoàng, có trai có gái, có nghèo có giàu, có quan có dân, quan thì có phẩm trật từ nhất phẩm đến thất phẩm, tước thì có công hầu bá tử nam, dân có từng loại ba sáu chín, từ đó người thì tác oai tác quái, kẻ thì bị người khác nô dịch, hoặc ngồi xe, hoặc nằm cáng, hoặc ngồi kiệu, hoặc lặn ngòi ngoi nước bôn ba ngược xuôi, hoặc cẩm bào đai ngọc, hoặc nhung gấm lụa là, hoặc áo quần lam lũ, ăn thì hoặc là sơn hào hải vị, hoặc thịt gà cá chép, hoặc bụng lép dạ không, hoặc béo trục béo tròn, hoặc gầy như que củi, sáng sớm không biết tối… Giới hạn giữa họ mới rõ ràng làm sao! Tuy nhiên nếu lột hết quần áo của họ ra, cho vào một chỗ để tắm rửa, thì ngoài nam với nữ ra, còn phân biệt được những gì? Nào thân phận, địa vị, giàu nghèo, hiền ngu vv… tất cả đều như ghét bẩn trên mình, bị trôi vào dòng nước đục. Tử Tất đi khắp nơi hỏi tin về ông thầy bói, rất muốn nói với ông những suy nghĩ này của mình và xin ông chỉ bảo cho, thế nhưng, làm sao còn có thể tìm thấy bóng ông ta nữa, đành mang điều hối tiếc và băn khoăn đó chôn sâu trong dạ, để chờ hiệu nghiệm sau này.
Sau đó không lâu, Tử Tất đổ bệnh, nằm liệt trên giường, mời thầy, uống thuốc, vẫn chưa có kết quả gì. Có bệnh thì vái tứ phương, tìm đủ các loại thầy lang, một hôm, người thị vệ tâm phúc, mời đến một nhà tu hành, nghe đồn người này chẳng những tinh thông ý lý, chẩn mạch linh nghiệm như thần, người bệnh chưa cần nói gì, đã có thể đoán được rõ bệnh tình rồi hoặc là kể một câu chuyện, hoặc nói một câu chuyện vui, hoặc hát cho bệnh nhân nghe một khúc bình đàn Cô Tô, đôi khi trò chuyện thủ thì với người bệnh, để người ấy nghe rồi thì vui, vui rồi thì bệnh nhẹ đi, kèm thêm đó là châm kim đá và thuốc men, bệnh sẽ khỏi dần. Nhà tu hành được dẫn đến trước giường của Tử Tất, Tử Tất khẽ mở mắt ra, thấy người đứng trước mặt mình chừng ngoài ba mươi tuổi, người cao lớn, mặt mũi khôi ngô, mặc áo tu hành, mũ cao đai rộng, hai mắt tinh nhanh, da như nặn bằng sáp, mặt như tạc bằng ngọc. Mà người này sao có vẻ quen quen hình như đã gặp
nhau ở đâu rồi, nhưng lại chưa nhớ ngay ra, đành uể oải nhắm mắt lại, mặc cho ông ta muốn làm gì thì làm, nào là bắt mạch, thử thân nhiệt, xem lưỡi, xem bàn chân, sờ vào nách, rồi sau đó là châm rồi cứu, rồi cho đơn cắt thuốc, mọi việc làm đâu ra đấy, xem ra rất thành thạo. Nhưng ông ta không dừng ở đấy, mà còn kể cho mọi người nghe một câu chuyện rất là hấp dẫn và lý thú:
Có một con chim phượng hoàng màu vàng trú đông quay về, bay liên tục ba ngày ba đêm, nó mỏi mệt quá, nên đã hạ cánh xuống một cánh đồng để nghỉ ngơi. Có một điều rất lạ là trên cánh đồng ấy không hề có một loài muông thú nào, chỉ có lợn rừng và quạ đen, từng đàn từng lũ quạ đen đậu trên mình lợn rồi cùng chạy theo lũ lợn trên đồng cỏ, đúng là quạ đen trên mình lợn, chẳng ai chê ai đen. Chúng “quà, quà”, “ịt ịt” thay nhau kêu, như phụ họa với cuộc thi, tiếng của chúng chát chát, giọng của chúng khô khan, đơn điệu mà chối tai, nhàm chán và vô vị, song tự bản thân chúng hình như lại dương dương tự đắc và tỏ ra thích thú. Bỗng nhiên chúng phát hiện ra con phượng hoàng… Vua của trăm loài chim đang đậu ở đầu cành, bất giác cười ồ lên. Chúng ghé đầu ghé tai nhau, xì xào bàn tán, cười chê đôi cánh lốm đốm năm màu rực rỡ óng ánh của phượng hoàng. Chúng không thể hiểu nổi, đôi cánh kia việc quái gì phải lắm màu sắc hoa hoét lòe loẹt như thế cho khó coi ra, tất cả một màu đen như chúng, đen láy như lĩnh đen thế này có phải đẹp hơn không! Lại còn cái đầu nữa, sao mà to thế, to thì sẽ nặng nề chậm chạp; Cái đuôi cũng quá dài, đúng là “đuôi dài khó vẫy”… Tuy chúng nói riêng với nhau, nhưng ở đầu cành này, phượng hoàng nghe thấy hết, trong lòng rất lấy làm chua chát, nó vỗ cánh vươn cổ, gáy lên mấy tiếng, tỏ ra phản đối. Tiếng gáy như tiếng sáo tiếng khèn, uyển chuyển du dương, như là một khúc nhạc, trên thảo nguyên lập tức tràn ngập những âm thanh êm dịu thanh bình vang mãi không dứt. Bọn quạ đen và lợn rừng nghe thấy, bất giác cười lên hô hố, chúng cười tiếng gáy của phượng hoàng sao mà du dương trầm bổng, sao mà réo rắt gần xa đến thế, mà lại dịu dàng say đắm thế, chúng bảo nhau: “Làm thế để làm quái gì? Rõ thật là thừa!”. Phượng hoàng nghe xong, khóc dở mếu dở, nghĩ bụng rằng mình không thể cùng lứa cùng bầy với cái con xấu xí đen đủi này được, tốt nhất là hãy tránh xa chúng ra. Phượng hoàng bay đi, trên thảo nguyên lại chỉ còn lợn rừng và quạ đen, quạ đậu trên lưng lợn, lợn cõng quạ trên lưng mà chạy đua nhau chẳng ai chê ai đen, chẳng ai bảo ai xấu…
Uống được dăm thang thuốc, bệnh tình của Tử Tất mỗi ngày một giảm. Trong những ngày liệt giường, hắn luôn luôn nghĩ đến câu chuyện phượng hoàng, quạ đen và lợn rừng, rất tự nhiên liên hệ giữa ngọc quý, vàng ròng với phượng hoàng.
Gươm báu Trạm Lư từ trên ban xuống, đấy là báo đáp cho một ông vua có thánh đức, đó là tượng trưng và tiêu chí cho thiên hạ, chư hầu các nước lũ lượt đến chúc mừng, nhất là những nước phụ thuộc và đi theo nước Sở như Đường, Thái, Hồ, Thẩm vv… Đã đến để chúc mừng, thì không thể đến với hai bàn tay trắng mà phải kèm theo những quà biếu tương đối quý giá. Đường Thành công mang tới một đôi thiên lý mã rất quý, một con để dâng tặng Sở Chiêu vương, còn một con để lại mình cưỡi. Thái Chiêu hầu thì mang đến hai tấm áo bằng da ngân điểu, một tấm dâng tặng Sở Chiêu vương, một tấm để mình mặc. Họ đều thừa biết Nang Ngoã là con người tham tiền hám của nên cũng đem tặng hắn ta nhiều món đồ quý giá. Thái Chiêu hầu còn nhắm mắt chịu đau dâng một đôi bạch bích trong hai đôi mà mình rất ưa thích, còn một đôi để lại luôn đeo bên mình. Không ngờ đâu Nang Ngoã lại chưa vừa lòng, hắn nghĩ, Chiêu vương là do ta dựng lên, không có Nang Ngoã này thì làm gì có Chiêu vương, với lại, Chiêu vương còn nhỏ tuổi, việc nước đều rơi vào vai ta, các người chỉ biết Chiêu vương, mà lại qua mặt xem thường Nang Ngoã, như thế ai mà chả tức. Hắn mang bộ mặt lì lợm xin nốt con ngựa còn lại của Đường Thành công, lại lấy nốt chiếc áo da điểu của Thái Chiêu hầu. Vua nước Đường nước Thái không đồng ý, Nang Ngoã tức quá hóa cùn, bắt giam hai người lại, không cho về nước. Chỗ ở của hai ông vua này lính canh dày đặc, danh nghĩa là bảo vệ, nhưng thực ra là giam lỏng, ngay cả cửa lớn cũng không cho ló mặt ra. Một viên quan tùy tùng của Đường Thành công đã khuyên chúa công của mình:
– Nang Ngoã nằng nặc đòi ngựa quý, theo ngu ý của thần, chi bằng cứ cho quách hắn là xong nếu không, bị giam ở đây chưa biết đến khi nào về được là điều khỏi phải bàn, mà đến khi Nang Ngoã nổi nóng lên, đem giết vua tôi chúng ta đi, thì có phải mất toi mấy mạng người! Người ta thường bảo tránh voi chẳng xấu mặt nào, còn người thì còn của, với lại đầu chạm mái tranh thì ai chẳng phải cúi ạ!…
Đường Thành công còn chưa hết giận, hầm hầm nói:
– Nang Ngoã ức hiếp người ta quá đáng! Quả nhân thà chết, chứ không chịu khuất phục!
Viên quan nọ khuyên can mãi không được, liền giấu Đường Thành công, ngầm giắt ngựa đi dâng cho Nang Ngoã nói rằng của Đường Thành công dâng tặng. Nang Ngoã được ngựa, hý hửng ra mặt nói:
– Rốt cuộc các người đã phải chịu đựng thua ta…
Hôm sau Nang Ngoã liền tha cho vua tôi Đường Thành công về nước. Đường Thành công sau khi biết chuyện này cũng chẳng trách móc viên quan đi theo mình làm gì nữa, bởi ông ta nói không phải không có lý, đành ngậm đắng nuốt cay, ai bảo mình nước nhỏ quan yếu? Thái Chiêu hầu nghe thấy thế, nghĩ bụng: – Ta cũng chẳng cần phải ngồi đầy để ấm ức làm gì, hãy làm sao thoát thân về nước cái đã, rồi sẽ tính sau, thế là cũng nén giận đem áo da điểu ra tặng cho Nang Ngoã. Ngay lập tức Nang Ngõa đã tha cho Thái Chiêu hầu về nước. Trên đường về, Thái Chiêu hầu vừa nghĩ vừa ức, khi đi thuyền trên sóng Hán Thủy sang bờ bắc, đứng ở mũi thuyền, cởi đôi bạch bích còn lại đeo trên mình ra, vứt đánh “tõm” xuống sông, thề rằng:
– Không mang quân đánh Sở, không quay về nam nữa!
Đường và Thái, là hai nước láng giềng gần, sau khi vua hai nước trở về đã chụm đầu bàn bạc, quyết tâm mượn quân Tấn để đánh Sở. Tấn Định công tâu bày Chu Kính vương. Chu Kính vương vô cùng tức giận, để cho Tấn Định công ra mặt, liên lạc với mười tám nước chư hầu như Tống, Tề, Lỗ, Vệ, Trần, Trịnh, Hứa, Tào, Cử, Chu, Đốn, Hồ, Đằng, Khởi, Tiểu Chu Tử và cả bản thân hai nước Đường Thái nữa, tất cả họp nhau ở Thiệu Lăng,[2] mọi người tôn nước Tấn lên làm minh chủ, toàn bộ binh mã sẽ do đại tướng nước Tấn là Tuần Dần chỉ huy và với danh nghĩa quân triều đình, dọc đường rầm rầm rộ rộ bươn sang đất Sở.
Thế nhưng do Sĩ Ưởng nước Tấn còn có minh ước Tống Tây môn với Sở, phía bắc nước Tấn lại còn có họa Tiên Ngu, thêm vào đó dọc đường đi gặp mưa to, tướng sĩ của liên quân rất nhiều người bị ốm, cuộc chinh phạt nước Sở thế là bị chết yểu.
Do đánh nước Sở không thành công, cho nên mối thù sâu của Thái Chiêu hầu chưa báo được, trên đường về đã diệt nước Thẩm, giết chết Thẩm hầu là Gia. Mùa thu năm ấy, hữu doãn nước Sở là Nang Ngoã muốn đánh nước Thái, Tôn Tử biết tin này, mừng thầm trong bụng: Vào thời điểm mấu chốt, lại xảy ra chuyện này, đúng là trời giúp ta rồi!
Tôn Tử vội vàng cử ngay sứ thần Phiếm Khải sang nước Thái, lấy danh nghĩa Ngô vương gửi sang một tấm áo da ngân điểu, kèm theo một bức thư. Trong thư viết rằng: “Gần đây được tin Nang Ngoã kiêu căng của nước Sở, đã tước đoạt tấm áo da yêu quý của đại vương, chuyện này nếu có thật, quả là khiến cho người trong thiên hạ đều công phẫn. Sở có là một nước lớn đi nữa, Nang Ngoã chẳng qua cũng chỉ là một quyền thần, còn đại vương là vua của một nước, một kẻ bầy tôi mà dám ngang nhiên hống hách giở trò tước đoạt với bậc quân vương, thật không ai có thể chịu nổi… Tôi cũng là vua một nước, trước hành động bạo ngược thê này của Nang Ngoã, cũng thấy hờn căm chứa chất trong lòng. Nay gửi đại vương một tấm áo da, gọi là bù đắp nỗi thiệt thòi mất mát của đại vương, kính mong hãy vui vẻ nhận cho. Một ngày khác, nhất định sẽ rửa mối nhục hôm nay cho đại vương…” bên dưới là chữ ký của Ngô vương Hạp Lư.
Phiếm Khải đến nước Thái, tặng quà dâng thư, kèm theo tình cảm thắm thiết của Ngô vương. Thái Chiêu hầu nhận áo, xem thư, bất giác cảm động đến rưng rưng nước mắt, thầm nghĩ rằng Hạp Lư quả là tri âm của ta, đối đãi với ta bằng sự tôn nghiêm của một bậc quân vương như thế, trước đây tại sao ta lại chẳng nhìn nhận ra? Thật là có mắt như mù, không biết cái gì hay cái gì dở, không phân biệt được đâu đá đâu vàng. Thái Chiêu hầu thấy lòng xốn xang với bao ý nghĩ, trong thiên hạ ngày nay, nước nhỏ muốn còn, nhất thiết phải đồng minh với nước lớn, mà Sở, Tấn là những nước không thể sở cậy được nữa rồi, trong thư Ngô vương lại nói một ngày khác sẽ rửa nhục hôm nay cho đại vương. Tại sao ta không xa lánh nước Sở đề kết thân với nước Ngô nhỉ? Ông ta lại nghĩ tới người có tình cảnh tương tự như mình là Đường Thành công, vội vàng sang thăm ngay, để cùng nhau bàn đường tiến thoái.
Đường Thành công với Thái Chiêu hầu cùng bệnh nên dễ hiểu nhau, gặp nhau là đã tỏ ra vô cùng thân thiết, chưa để Thái Chiêu hầu nói rõ ý định của mình, Đường Thành công đã vội vồ vập nói ngay:
– Đại vương tới thật đúng lúc, quả nhân đang có việc quan trọng muốn bàn với đại vương.
Thái Chiêu hầu hỏi lại:
– Đại vương muốn bàn chuyện gì?
Đường Thành công đáp:
– Trước đây Nang Ngoã đã tước đoạt ngựa quý của quả nhân. Quả nhân không còn trông mong sở cậy gì ở nước Sở được nữa, mà quyết tâm trả thù rửa hận, trông mong ở Tấn công, nên mới có cuộc họp ở Thiệu Lăng, tám lộ chư hầu liên minh đánh Sở. Không ngờ liên quân tan rã, cuộc phạt sở thế là chết yểu nửa đường, mối thù còn chưa trả được. Gần đây nghe nôi Ngô vương nhân hậu, muốn bắt tay với nước Ngô, không hiểu ý đại vương thế nào?
Ý định sang nước Đường của Thái Chiêu hầu thế là đã được Đường Thành công nói rõ, đúng như người ta thường nói là không hẹn mà gặp.
Thì ra Tôn Tử cùng một lúc cử Phiếm Khải sang nước Thái, cũng sai người sang nước Đường, lấy danh nghĩa Ngô vương Hạp Lư tặng Đường Thành công một con thiên lý mã, kèm theo một bức thư lời lẽ chan chứa nhiệt tình, khiến Đường Thành công cũng xúc động, quyết chí đi theo nước Ngô. Thế nhưng cả hai bên không hề nhắc đến việc đã nhận quà tặng của Tôn Tử, vì e rằng tổn hại đến nhân cách.
Thái chiêu hầu nói:
– Quả nhân sang đây lần này, chính vì việc đó, không nghĩ rằng lại để đại vương nói ra trước. Từ xưa người ta đã nói, bà góa nghĩ sao chỉ có bà góa mới biết, có ai mà hiểu nổi nỗi buồn khổ của những nước nhỏ chúng ta. Hai nước Đường, Thái lúc này điều hơn lẽ thiệt như nhau, mong từ nay về sau hãy cùng tiến thoái chung hoan nạn.
Đường Thành công tỏ ra rất tán thành, nói:
– Đúng như lời đại vương, những nước nhỏ yếu chúng ta đáng lẽ ra phải sát vai nhau, cùng nhau chống lại kẻ địch hùng mạnh, không nên tự làm mồi ngon cho hổ báo.
Vua của hai nước Đường, Thái trò chuyện rất tâm đầu ý hợp và đã đi đến một hiệp nghị rất gắn bó chặt chẽ, quyết định liên minh với nước Ngô. Sau đó không lâu, đã cử sứ thần sang Cô Tô, lấy tình máu mủ làm tin, để bày tò quyết tâm thân Ngô thù Sở.
Theo ý kiến của Tôn Tử, Ngô vương Hạp Lư đã đón tiếp sứ thần hai nước như một đại sứ của tối huệ quốc. Sứ thần nước Đường bái yết Ngô vương nói:
– Từ nay về sau, nước Đường coi quý quốc là nước đứng đầu, và quyết tâm cùng sống chết, cùng vận mệnh với quý quốc. Tiểu thần đã lĩnh ý của vua nước thần đến quý quốc, mong đại vương đừng vứt bỏ.
Ngô vương nắm chặt tay sứ thần nước Đường nói:
– Quả nhân từ lâu đã ngưỡng mộ Đường công, từ nay về Sau, Đường công đã gắn bó vận mệnh của đất nước với ta đúng như tình anh em, việc này thật đáng vui đáng mừng. Sau khi về nước xin hãy chuyển tới Đường công tấm lòng này cua quả nhân, Ngô vương Hạp Lư ta xin thề với các bậc thần minh, sẽ gửi tình nghĩa anh em với Đường công.
Đêm ấy Ngô vương đã mở quốc tiệc để thết đãi sứ thần nước Đường, Tôn Tử và Ngũ Tử vv… đã cùng tiếp rượu. Trong bữa tiệc, Hạp Lư đã nói với sứ thần nước Đường:
– Với tình hữu nghị của hai nước thế này, lẽ ra quả nhân phải sang thăm nước Đường, tuy nhiên tai mắt của các nước rất nhiều, nên không tiện đi, sau khi về nước, xin cho gửi lời cáo lỗi với Đường công.
Tôn Tử với Ngũ Tử ngồi tiếp rượu, cũng nói xen vào:
– Chúa công tôi đã nói với ngài những lời khẩn thiết, chúng tôi cũng xin thêm vài lời. Từ nay về sau giữa quý quốc và nước Sở có xảy ra xung đột, là tướng soái của nước Ngô, chúng tôi tất sẽ phụng mạng của chúa công đây, mang hết sức mình ra giúp đỡ quý quốc, và cũng xin nói lại với Đường công ý nghĩ này.
Từ đó, nước Đường và nước Ngô đã uống máu ăn thề liên minh với nhau. Sứ thần nước Thái sang nước Ngô, nước Ngô cũng tiếp đãi như vậy, cũng những lời lẽ như vậy, không có gì khác nhiều lắm.
Sứ thần hai nước ra về rồi, Ngô vương mừng ra mặt, và càng khâm phục mưu lược của Tôn Tử, khen ngợi:
– Bằng những động tác ngoại giao, nguyên soái đã chẳng phải tốn một người lính, mà thu được năm vạn quân hai nước Đường, Thái, đó là một thắng lợi lớn lao biết bao.
Ngũ Tử Tư ở bên cạnh cũng nói xen vào:
– Tâu đại vương, Sở mất năm vạn, ta được năm vạn, cộng lại là mười vạn ạ!
– Đúng, không phải là năm vạn, mà là mười vạn, ha, ha… – Ngô vương vui sướng cười nghiêng ngả.
Hai nước Đường, Thái quay sang dựa vào nước Ngô, đều do có phản ứng với một mình Nang Ngoã. Tôn Tử vốn lắm mưu nhiều kế đã biết khéo léo lợi dụng sự phản ứng này trong tình cảm, khiến hai nước này quay sang liên minh với nước Ngô, và việc đó đã thu được thắng lợi rất lớn lao. Nang Ngoã chỉ vì một con ngựa, một manh áo mà để mất hai nước đồng minh, tổn thất đó không thể nói là không lớn. Tuy nhiên những người bình thường như Hạp Lư, Ngũ Tử Tư… chỉ nhìn thấy những cái cụ thể, hữu hình, đếm được như năm vạn, mười vạn quân, mà không nhìn thấy số quân mà Tôn Tử đánh đổi được bằng một cây gươm báu Trạm Lư.
Sở Chiêu vương nhận được một lá thư của Ngũ Tử Tư, trong thư viết rằng:
“Hôn quân vạn thuở Sở Bình vương, chỉ vì nghe những lời sàm tâu của Phí Vô Cực đuổi con lấy vợ, giết hại hơn ba trăm người của nhà họ Ngũ bốn đời trung lương, tội ấy đúng chém đầu không tha. Nay Sở Bình vương và Phí Vô Cực đều đã chết, nhưng mối hận của ta còn chưa nguôi, không lâu nữa, ta không thể không đem sức mình để tiêu diệt nước Sở, rồi người sẽ phải chết bởi tay ta”.
Chiêu vương đọc thư, chẳng những không sợ, còn luôn ha hả nói:
– Quả nhân vẫn cứ tưởng Ngũ Tử Tư là hạng tướng tài hiếm hoi như thế nào kia, đọc thư này mới biết, hắn cũng chỉ là hạng thất phu tầm thường mà thôi!
Nang Ngoã thấy khó hiểu liền hỏi:
– Sao đại vương lại nói thế?
Chiêu vương trả lời rất tự tin:
– Nếu ngước Ngô muốn xâm phạm nước ta? Sao còn gửi thư này? Ngô muốn xâm lăng nước ta, nhưng khổ nói là nước là nhỏ lực yếu, nên mới bảo Ngũ Tử Tư viết thư này đe dọa, vờ phô trương thanh thế mà thôi.
Nang Ngoã nghe ra, thấy Chiêu vương nói có vẻ có lý, liền vái rạp và thưa:
– Đại vương phán đoán sáng suốt, thần khâm phục sát đất!
Nang Ngoã biết Ngũ Tử Tư không phải hạng tầm thường, không thể coi khinh, bèn nói với Chiêu vương:
– Nỗi hận thù của Ngũ Tử Tư với Phí Vô Cực còn chưa tan, nên mới gửi thư này. Chi bằng ta mượn cớ này đào mồ Phí Vô Cực lên, mang đầu lâu của hắn gửi cho Ngũ Tử Tư, để làm tiêu tan mối hận thù trong lòng hắn. Làm như thế, có thể tránh được họa chiến tranh, đó mới là thượng sách vậy!
Chiêu vương cũng đang mong sao tránh khỏi phải chiến tranh, nói:
– Lệnh doãn nói rất có lý, Phí Vô Cực muôn người đều căm ghét, có đào mả hắn, gửi đầu hắn đi, cũng còn chưa đủ.
Nước Sở đã gửi cho Ngũ Tử Tư cái đầy lâu đã gần mục nát của Phí Vô Cực, Ngũ Tử Tư vung gươm băm loạn xạ một thôi một hồi, gầm thét lên, khóc lóc vì không được trả thù cho cha anh và cả nhà, hỏi Tôn Tử bao giờ đánh nước Sở.
Tôn Tử trả lời rất thận trọng:
– Đánh Sở lúc này, lẽ ra là có lợi cho ta, nhưng có một mối lo sau này, không thể không tìm cách loại trừ.
Ngũ Tử Tư hỏi:
– Cái gì là mối lo sau này?
Tôn Tử đáp:
– Sự thèm muốn về lãnh thổ của Việt Vương Doãn Thường rất mãnh liệt, về quan văn, hắn có những kẻ tinh khôn như Văn Trọng, Phạm Lãi, quan võ thì có những mãnh tướng như Tư Trữ, Quách Như Niết vv… lại còn có hàng chục vạn quân đã nhòm ngó nhằm thời cơ thì từ lâu để vào nước Ngô. Bọ ngựa bắt ve sầu, nên đề phòng chim sẻ đứng sau lưng, nếu không, họ sẽ thừa cơ mà len vào, ta sẽ lâm vào thế cả trước mặt và sau lưng đều có địch, chẳng mấy mà tiêu vong.
Ngũ Tử Tư nghe nói vậy, mà lạnh cả sống lưng, vội hỏi gấp:
– Làm thế nào để đề phòng nước Việt thừa thế xen vào?
Tôn Tử trả lời rất chắc chắn như đinh đóng cột:
– Cử sứ giả sang thăm dò tâm lý của họ, nói thác đi rằng là muốn đánh Sở, xin họ cho vay quân lương và binh lính. Nếu họ bằng lòng tức là không có ý xâm phạm ta, lúc ấy, ta mới có thể yên tâm đánh Sở.
– Nếu nước Việt từ chối yêu cầu của ta, thì ta nên làm thế nào? – Ngũ Tử Tư sốt ruột như lửa đốt, hỏi dồn.
Tôn Tử trả lời chắc chắn:
– Nếu nước Việt từ chối yêu cầu của ta, tất sẽ đánh nước Ngô, cho nên trước khi đánh nước Sở, phải làm tiêu vong nước Việt!
Phiếm Khải sang nước Việt, khẩn khoản với Việt vương Doãn Thường:
– Ngô với Việt là anh em hòa thuận với nhau, vì nước Sở luôn luôn xâm phạm nước tôi nhiêu lần, cho nên chúng tôi muốn đánh lại. Đại vương vốn biết nước Ngô thế cô lực mỏng, lấy sức của một nước ra để đánh Sở, thì hết sức khó khăn, cho nên mong quý quốc hết lòng giúp đỡ, mong đại vương hãy nghĩ đến mối tình cảm anh em, hãy giúp nước Ngô về quân lương và binh lính.
Đây là việc lớn của một đất nước, Việt vương không dám tự quyết, liền cho mời tể tướng Phạm Lãi, hiền sĩ Văn Trọng, quan võ Tư Trữ và các quyền thần như Quách Như Niết vv… để bàn bạc. Quan Võ Tư Trữ nói:
– Theo ý của thần thì không thể cho mượn như thế được, nước Ngô đánh nước Sở, tại sao lại phải hy sinh tính mạng binh lính của nước Việt.
Quách Như Niết tán thành ý kiến của Tư Trữ, nói:
– Nước Sở xa, nước Ngô gần, nếu thế lực nước Ngô ngày càng mạnh, sẽ là mối đe dọa lớn với nước ta, chớ nên làm cái việc ngu xuẩn cõng củi khô đi vào đám cháy như thế!
Việt vương lần lượt gật đầu khen phải, sau đó chỉ vào Văn Chủng hỏi:
– Ý của khanh thế nào?
Văn Chủng vái rạp xuống, thưa:
– Nếu sau này ta muốn mở mang lãnh thổ, không diệt trừ nước Ngô không được, cho nên giúp Ngô là hết sức ngu xuẩn. Ngô có những danh tiếng như Tôn Vũ, Ngũ Tử Tư, không cần phải ta giúp, họ cũng đánh Sở được. Nay họ sang cầu cứu ta, tất là có ý định gì khác, phải xử trí cho thận trọng.
Việt vương đưa ánh mắt đến chỗ Phạm Lãi, ý muốn nghe tể tướng nói ra cao kiến của mình. Phạm Lãi vốn nổi tiếng trên đời về tài trí lược, lại là một danh nhân về tài chính, lúc trời tạnh ông ta mua thuyền phòng nước lũ, đang mùa lũ thì lại lo đắp hồ chứa nước phòng sau này thiếu nước. Lúc được mùa giá thóc gạo hạ, ông ta dùng tiền kho nhà nước mua vào thật nhiều, khi mất mùa đói kém, lại đem thóc lúa ấy ra bán cho dân chúng với giá rẻ cho nên dân nước Việt luôn luôn yên hàn vui vẻ. Phạm Lãi đã dùng biện pháp đó nắm nền tài chính nước Việt hơn chục năm, khiến nước Việt trội lên trở thành một nước mạnh lăm le nhòm ngó nước Ngô. Thấy Việt vương đưa mắt dò hỏi, Phạm Lãi nói:
– Nước Ngô hỏi ta mượn lính vay lương, không phải là xin ta viện trợ, mà chính là sang để thăm dò xem ta có nhân lúc họ đi đánh Sở mà tấn công vào những chỗ họ không đề phòng.
Việt vương nghe nói hốt hoảng, vội hỏi:
– Vậy thì nên làm thế nào cho phải?
Phạm Lãi nói:
– Nếu chiều theo ý họ, họ sẽ cho rằng ta sợ họ, nếu dứt tình với họ, thì họ sẽ đánh ta trước khi đánh Sở.
Việt vương cuồng lên:
– Chuyện hóa ra rắc rối, làm thế nào bây giờ?
Lặng im suy nghĩ hồi lâu, sau đó Phạm Lãi mới nói:
– Cử sứ thần trịnh trọng đưa một bức thư, nói nước ta hết sức nghèo khó, không đủ sức cho mượn quân đội, mà chỉ trợ giúp được quân lương thôi, nước Ngô thây vậy sẽ yên tâm đánh Sở, lúc ấy ta mới thừa thế lẻn vào, đuổi quân Ngô sang đất Sở, chiếm đất của Ngô làm lãnh thổ của ta, thế mới là thượng sách.
Việt vương cảm nhận sâu sắc rằng Phạm Lãi nói rất có lý, bèn trịnh trọng thảo một bức thư, chuẩn bị năm trăm thạch quân lương, sai sứ mang sang nước Ngô. Tôn Tử đọc thư của Việt vương, hỏi ý kiến Ngũ Tử Tư thế nào. Ngũ Tử Tư đáp:
– Đưa sang năm trăm thạch quân lương, chứng tỏ rằng không có ý đánh ta, ta có thể đánh Sở!
Tôn Tử lắc đầu nói:
– Ta lại không nghĩ thế!
– Nguyên soái giải thích thế nào về việc họ đưa quân lương – Ngũ Tử Tư hỏi dồn. Tôn Tử đáp:
– Bức thư này chẳng qua chỉ là một đòn lừa bịp của Phạm Lãi, bởi Phạm Lãi là người vốn rất giỏi quyền mưu.
Ngũ Tử Tư vẫn hoàn toàn không hiểu, liền hỏi:
– Đưa cả năm trăm thạch gạo, sao lại có thể là xảo trá được?
Tôn Tử phân tích:
– Chỉ có quân lương mà không có lính tráng, đây là một cái bẫy đáng gờm! Dùng quân lương để làm yên lòng ta, ta sẽ lập tức đem quân đánh Sở, họ bèn tìm chỗ sơ hở mà đánh vào, không thể không đề phòng!
– Tầm mắt của nguyên soái sắc bén, nhìn suốt mọi vật, nêu đã thế, thì ta đánh họ trước.
– Không được! Họ xử với ta bằng phép lịch sự, ta lại đánh họ, đó là hành vi bất nghĩa vậy.
– Tuy vậy, cũng đừng nên bỏ phí thời gian.
– Câu nói ấy cũng có lý đấy! – Tôn Tử làm ra vẻ hơi suy nghĩ, đúng là cau mày vắt óc, kế liền bật ra. – Thế này nhé, để đề phòng nước Việt xâm lăng, trước khi đánh Sở, sai tướng quân Vương Tôn Lạc đem năm ngàn quân ra trấn giữ tại khe lũng núi Long Môn ở biên giới hai nước Ngô – Việt. Như thế là ta có thể dấy quân đánh Sở, nước Việt cũng không đánh được ta.
Ngũ Tử Tư lấy làm khó hiểu liền hỏi:
– Nếu quân Việt đến xâm phạm, năm ngàn quân thì chống chọi làm sao?
Tôn Tử cười đáp:
– Vấn đề không ở chỗ quân số nhiều hay ít. Phạm Lãi là con người thông minh tuyệt vời, thấy ta ém quân ở biên giới Ngô – Việt, tất sẽ biết rằng âm mưu của họ đã bị ta phá tan, dứt khoát không dám đến đánh nữa.
Tôn Tử lệnh tướng quân Vương Tôn Lạc đem quân trấn giữ khe núi Long Môn, sau dùng gian tế phao tin ấy sang đất Việt. Phạm Lãi nghe tin, kinh ngạc và thán phục, than mình chẳng bằng ai, nghĩ bụng: Ta tuy đưa năm trăm thạch lương thực sang cho nước Ngô, nhưng âm mưu lại bị Tôn Tử vạch ra, đem quân ra đóng ở biên giới, xem ra quyền mưu trí lược con người này hơn ta xa, giao chiến với họ, không biết sẽ sa vào bẫy của họ lúc nào, phải hết sức cẩn thận mới được!…
Tôn Tử đã đề phòng cẩn thận với nước Việt liền dấy quân đánh Sở.
❀ ❀ ❀
[1] Quý Từ tỉnh An Huy ngày nay.
[2] Phía đông Yển Thành, tỉnh Hà Nam ngày nay.