Tôn Tử Truyện

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 46 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Xvii Bàn Quân Luận Chiến – Quân Mạnh Nước Giàu
Chương Xvii Bàn Quân Luận Chiến – Quân Mạnh Nước Giàu

❊ ❊ ❊

Lại nói nước Ngô từ sau khi trừng trị bọn hủ bại, bọn tà ác đã run sợ, muôn dân hả hê, trên dưới dốc một lòng, cả nước yên hàn nghiêm chỉnh lại, tuy nhiên Tôn Tử vẫn chưa nói ngày nào thì đem quân đi đánh nước Sở. Hạp Lư với Ngũ Tử Tư suy nghĩ đủ trăm chiều mà vẫn chưa tìm ra duyên cớ. Nhất là với Ngũ Tử Tư, nào là vượt Chiêu Quan chạy sang nước Ngô, kết bạn với Chuyên Chư, Yếu Ly giết Vương Liêu, trừ Khánh Ky, mời Tôn Tử ra khỏi núi, vượt hiểm nguy qua muôn nỗi gập ghềnh, tất cả cũng chỉ vì một mục đích là mượn quân Ngô để trả thù nhà rửa hận nước, nhưng đến lúc này xem ra Tôn Tử chẳng có chút gì hào hứng trong chuyện đem quân đi đánh Sở, mà cứ coi như không có chuyện ấy, thì làm gì chẳng khiến cho ông nôn nao như lửa cháy trong lòng và ý nghĩ như tơ vò trăm mối? Đã nhiều lần ông định nhắc khéo Tôn Tử, nhưng cuối cùng do vướng chút nể nang, sợ rằng Tôn Tử cho rằng mình khí lượng hẹp hòi mà khinh rẻ mình đi, bởi thế mà cứ định mở miệng ra nói lại thôi, đành cố nén chịu nỗi dày vò trong lòng và niềm đau khổ trong ý nghĩ, suốt ngày áy náy không vui.

Một hôm Hạp Lư mời Tôn Tử tới uống rượu, nhân vui chén rượu mới nhắc đến chuyện đem quân đánh Sở. Tôn Tử không trả lời thẳng vào đề, tủm tỉm cười bảo:

– Nghe các quan nội thị khen rằng đại vương thường hay đọc binh pháp của thần, chẳng hay chuyện ấy thực hay không?

– Có thật! Hoàn toàn có thật đấy – Hạp Lư trả lời chắc chắn – mà đâu chỉ là thường hay đọc, phải nói là quả nhân đọc phát mê đi ấy!

Có phải Hạp Lư đang khen ngợi, đang tôn sùng? Hay đang đãi bôi? Không biết được, có thể mỗi cái đều có một chút. Tôn Tử nghe nói thế, chỉ cười không đáp, cười đến mức Hạp Lư thấy rất mất tự nhiên, từ nghi hoặc đi đến chỗ lúng túng, từ lúng túng đi đến sốt ruột, bất giác buột miệng hỏi:

– Cớ sao nguyên soái lại cười?

Tôn Tử hóm hỉnh trả lời:

– Thần cười đại vương thèm quýt, nhưng lại không biết được sự khác nhau giữa quýt nước Ngô và quýt nước Việt. Tuy đại vương. thích đọc “binh pháp” của thần, nhưng cho đến giờ, vẫn chưa lĩnh hội được cái tôn chỉ cốt lõi của nó.

– Ô! – Hạp Lư bị Tôn Tử nói cho ngớ người ra – Vậy tôn chỉ cốt lõi trong “binh pháp” của quân sư là gì?

Để trả lời câu hỏi của Hạp Lư, Tôn Tử đã nói rõ thêm một quan điểm thế này: đấu tranh quân sự không phải đơn thuần chỉ là cuộc chạy đua về quân sự, mà là cuộc đấu tranh tổng hợp giữa ta với địch về các mặt chính trị, kinh tế, ngoại giao. Đối với chiến tranh, phải có thái độ nghiêm túc, kỹ lưỡng, thận trọng cố gắng trên cơ sở thực lực, lấy mưu trí mà thắng địch, chứ không phải chỉ lấy sức mạnh mà thắng địch. Có nghĩa là một cuộc chiến tranh có đánh hay không? Đánh như thế nào, sau khi đánh sẽ đưa đến kết quá ra sao… trước khi đánh đều phải được cân nhắc toàn diện, cần phải cân nhắc tất cả các nhân tố hiện thực đang tồn tại một cách khách quan. Chỉ khi nào có sự so sánh phân tích chính xác, khoa học những điều kiện cơ bản của chiến tranh mới có thể đưa ra một sự phán đoán chuẩn xác, nêu ra quyết sách đúng đắn về chiến lược. Tiếp đó, Tôn Tử đã so sánh và phân tích về các mặt chính trị, vua với tôi, vua với dân, giữa tướng soái, về kinh tế, quân sự, ngoại giao, giao thông, vv… giữa nước Ngô và nước Sở, ông đặc biệt nhấn mạnh đến tác dụng của thực lực kinh tế trong việc so sánh lực lượng trong chiến tranh. Ông nói:

– Nói đến dấy quân đánh trận là phải động đến hàng ngàn cỗ xe chiến với hàng ngàn cỗ xe chở quân nhu, hàng chục vạn quân, lại phải chở lương thực xa hàng vạn dặm, như thế, chi phí ở tiền phương và ở hậu phương rồi việc chi tiêu cho các sứ giả ngoại giao đi lại, việc cung cấp vật tư khí tài, việc bảo dưỡng bổ sung các loại khí giới, mỗi ngày tiêu phí hàng ngàn lạng vàng… cân nhắc những thứ đó đã sau mới có thể dấy quân đánh trận. Thế còn nước Ngô ngày nay, sau khi trừng trị bọn hủ bại, tuy rằng giữa vua tôi đã tâm đắc muôn dân một lòng, nhưng dù sao đi nữa, một đất nước hoang phế lâu ngày như thế, chẳng khác gì người mới ốm dậy, tinh thần và thể chất đều còn chưa được hồi phục, làm sao đã có thể cắp Khung Long mà vượt qua Thái Hồ được?

Tôn Tử nói dõng dạc, thao thao bất tuyệt, Hạp Lư nghe như nuốt từng lời, nghe như say như dại. Qua cuộc nói chuyện thoải mái đó, Hạp Lư lại càng hiểu biết và thông cảm thêm một bước nữa với Tôn Tử và khâm phục tới mức không chê vào đâu được. Tôn Tử thật cũng không hổ thẹn là một nhà quân sự, ông luôn luôn nhìn vấn đề bằng tầm nhìn chiến lược chứ không hề vội ham nguồn lợi trước mắt với tầm nhìn thiển cận. Lý luận của ông nêu ra vừa cao sâu khôn lường, nhưng lại rất thực tại gần gũi. Ông nhận thức vấn đề cao hơn người khác một mức và hết sức sâu sắc, nước Ngô, và ngay cả với nước Sở cũng thế. Ông phân tích vấn đề rất thấu đáo, rõ ràng, khiến ai cũng thấy khẩu phục tâm phục. Hạp Lư đã hoàn toàn bị Tôn Tử thuyết phục, không còn nghi ngờ gì nữa, một người mới ốm dậy, muốn mau chóng phục hồi sức khoẻ và mạnh mẽ trở lại… thì phải nhiều thức ăn ngon, tăng thêm nhiều chất bổ. Thế nhưng, nước Ngô lúc này, rốt cuộc nên làm những gì để có thể nhanh chóng phục hồi sức mạnh của đất nước, làm giang sơn nhanh chóng lớn mạnh lên? Ông đem vấn đề ra khiêm tốn hỏi ý kiến Tôn Tử.

Tôn Tử đã nói với Hạp Lư rằng, việc gấp rút trước mắt lúc này là trên cơ sở đã trừng trị bọn hủ bại, phải làm cho quân mạnh nước giàu, cụ thể là phải bắt tay vào mấy vấn đề sau đây: Một là, giảm nhẹ sưu thuế, khuyến khích khai hoang, phát triển sản xuất lương thực. Hai là, phải giảm thuế lưu thông, trừng trị bọn chủ vựa cá, phát triển nghề đánh bắt thuỷ sản. Ba là, mở rộng diện tích trồng dâu, trồng trà, phát triển nghề gia công chè, nuôi tằm dệt tơ. Bốn là, lần lượt huấn luyện lính bộ binh và lính thuỷ, nhất là phải tăng cường huấn luyện lính thuỷ. Năm là, phát triển nghề nấu luyện, mở rộng các công xưởng của quân đội, đẩy mạnh chế tạo khí giới.

Năm mặt mà Tôn Tử nêu ra; không bao lâu sau đã hình thành những điều khoản trong văn bản chính sách cụ thể của triều đình, rồi đưa ra để các quan văn võ thảo luận thông qua và ban bố để thi hành, rồi sẽ cử người theo dõi đôn đốc, không được chậm trễ và kéo dài. Do đã rút ra được những bài học trong khi trừng trị bọn hủ bại, cho nên trên là các quyền thần trong triều đình, dưới đến lớp quan lại ở cơ sở, còn ai dám cẩu thả nữa. Ngũ Tử Tư được phân công huấn luyện lính thuỷ, có Bá Bỉ hỗ trợ. Công tử Phu Khái phụ trách huấn luyện lính bộ, có Bị Ly là em của Yếu Ly phụ tá. Chuyên Nghị là con của Chuyên Chư lãnh đạo binh công xưởng, chuyên sản xuất khí giới. Tôn Tử thì thống lĩnh cả một sự nghiệp quân mạnh nước giàu, đi khắp nơi tuần sát, chỉ đạo, phát hiện vấn đề thì kịp thời giải quyết. Nước Ngô từ trên xuống dưới bừng bừng như một ngọn lửa, như những lớp sóng cuồn cuộn, cháy rực bầu trời, cuốn trôi mạnh mẽ. Năm ấy là năm 513 trước công nguyên, năm Hạp Lư thứ hai của nước Ngô.

Tôn Tử đã từng cười Hạp Lư thèm quýt, nhưng lại không phân biệt được sự khác nhau của quýt nước Ngô với quýt nước Việt, tuy thích đọc “binh pháp Tôn Tử”, nhưng chưa nắm được tôn chỉ cốt lõi của nó. Sự việc này có một sự kích thích rất mạnh đối với Hạp Lư. Tôn Tử đã có thể từ trong những cuộc chiến tranh qua các thời đại, đúc rút ra quy luật phổ biến của chiến tranh, rồi viết ra mười ba bài “binh pháp”, mà mình lại khổ công đọc nó nhưng không thấy ra được tôn chỉ của nó, thế chẳng hoá ra ngu dốt như bò như lợn hay sao? Cứ thế lâu dài mãi thì làm gì còn đủ tư cách ngồi thêm trên ngôi báu, còn mặt mũi nào mà lớn tiếng hò hét và đâu còn dám mong làm bá chủ chư hầu, là vua thiên hạ được nữa? Từ đó, Hạp Lư đã xa lánh tửu sắc, chuyên tâm chịu khó đọc “Tôn Tử binh pháp” cùng với binh thư các thời đại và các điển tích văn hiến… Người ta thường nói, có học mới thấy mình còn chưa đủ, có đầy mới thấy lúng túng, ông càng học càng thấy là chưa đủ, càng học càng thấy hiểu biết của mình nghèo nàn, trống rỗng, càng học càng nhận ra rằng hiểu biết và học vấn là vô cùng quý giá… Ông hầu như đã trở thành một cậu học trò chăm chỉ sách luôn trên tay, đọc sách đến mức như mê muội, đến mức quên ăn quên ngủ. Soả Doãn trai là phòng đọc sách của Hạp Lư, nơi gọi là phòng đọc sách này, trước đây rất ít khi được bày thư tịch và thẻ tre, mà phần lớn là đồ châu báu và đồ cổ, vì thường có cung nữ đến đây múa hát, cho nên trên tường treo kín các loại nhạc cụ, có lúc còn treo cả vài bộ xiêm áo của đàn bà con gái, nên việc bài trí trong cả căn phòng rất lộn xộn, không ra một thể thống gì. Nhưng bây giờ tất cả đã thay đổi, trong khắp phòng men theo tường là những giá sách bằng tre, trên giá dưới giá, bày đầy những bó thẻ tre, lấp loá đến ngợp cả mắt, có thể như là một rừng thư tịch, một biển tri thức. “Tôn Tử binh pháp” được viết trên lụa với khổ chữ lớn bằng cái hạt đào, rồi treo lên những nơi dễ nhìn nhất trong phòng, ở bên dưới cửa sổ đối diện với nơi treo “binh pháp” kê một chiếc giường, bên giường kê một chiếc án thư, trên án thư có đặt một số thư tịch và một số đồ dùng gọi là văn phòng tứ bảo, tất cả những cái đó nói lên với người ta một điều là, Hạp Lư chẳng những ở đây học tập và làm việc, mà còn ở đây nghỉ ngơi và ngủ hàng đêm. Hạp Lư đọc “Tôn Tử binh pháp” bằng cách gọi là gà con mổ gạo, cứ nhặt từng hạt từng hạt một, nuốt từng hạt một, mỗi lần chỉ sao chép một lượt, rồi treo lên tường, ngày đọc đêm nghiền ngẫm, nếu gặp chỗ nào nghi ngờ, khó hiểu, thì nhớ trong bụng, đợi đến buổi chầu, khi ở nơi bàn công việc, nếu có gặp Tôn Tử, liền đưa ra hỏi, cho đến khi tinh thông bài viết ấy mới thôi, lúc đó mới chuyển sang bài khác.

Do quá mệt mỏi và thức đêm nhiều, dần dần khiến sức khoẻ của Hạp Lư suy sụp, cuối cùng lăn ra ốm, hàng mấy ngày liền không lo được việc triều chính, nhưng ông cũng không vì thế mà lơ là việc học tập và nghiên cứu “binh pháp”. Ông ngồi tựa lưng trên giường bệnh, trên án thư vẫn để cuốn “binh pháp” và ở trên tường phía trước mặt cũng treo bài “cửu địa biên “ trong “Tôn Tử binh pháp” để khi thấy tinh thần hơi khá lên một chút, là lại đọc một lát, lại ngẫm nghĩ một phen. Đối với Hạp Lư, ông cho rằng: trong số những bài trong “binh pháp”, so với mười hai bài kia mà ông đã đọc qua, “Cửu địa biên” là bài mà ông thấy khó hiểu nhất, hầu như bước nào cũng vướng mắc, chỗ nào cũng thấy khó, vì ốm nên không thể thường xuyên gặp Tôn Tử; chỉ có thi thoảng khi Tôn Tử vào hậu cung để thăm hỏi, ông mới có thể tranh thủ thời gian, đưa hàng loạt những vấn đề còn tồn đọng ấy đọc tất cả ra, hỏi Tôn Tử một thôi một hồi. Thấy khi sắc trên mặt Hạp Lư còn chưa được tốt lắm, tinh thần cũng chưa sung mãn; Tôn Tử luôn luôn khuyên ông đừng nóng vội muốn biết được hết ngay, chờ khoẻ hẳn rồi sẽ nghiên cứu cũng còn chưa muộn.

Mấy hôm này, Hạp Lư ngủ rất ngon, ăn cũng được nhiều hơn, bỗng thấy tinh thần cũng sảng khoái hơn, chợt nghe tin Tôn Tử đi Vô Tích thị sát việc luyện quân vừa trở lại kinh đô, vội sai nội thị cho vời tới Soả Doãn Trai để đàm đạo, mục đích chính chỉ là để hỏi những vấn đề thấy khó trong bài “Cửu địa biên” mà ông vừa đọc mấy hôm nay, luôn tiện tìm hiểu một chút tình hình luyện quân ở các nơi. Tôn Tử phụng mệnh vào cung, vào tới Soả Doãn Trai, thấy thái y đang bắt mạch cho Hạp Lư, không tiện quấy rầy, liền đứng đợi một bên. Hạp Lư ngẩng đầu, nhác nhìn tấy Tôn Tử, vội vẫy tay cho thái y bước ra, gọi nội thị bê ra một chiếc ghế, đặt ở bên giường bệnh, chỉ mời Tôn Tử ngồi, rồi đôi hồi hỏi ngắn hỏi dài, như bạn thân xa nhau lâu ngày gặp lại, không hề tỏ ra có chút gì tôn nghiêm của một bậc quân vương. Tôn Tử cúi chào vấn an, hỏi han về tình hình ngọc thể của đại vương mấy hôm nay hồi phục thế nào, rồi báo cáo nhưng kết quả huấn luyện ở những căn cứ quân sự… chuyện nọ chuyên kia, rồi nói sang bài “cửu địa biên” lúc nào không hay. Hạp Lư hỏi:

– Chư hầu đánh nhau trên đất của mình gọi tà tản địa, tác chiến ở tản địa, lính tráng nghĩ đến nhà mình, nên phải cố giữ, không thể khinh suất mà giao chiến. Nếu quân địch công phá thành trì của ta, cướp lương thực trên vườn ruộng của ta, bắt gia súc của ta, cấm ta vào rừng chặt cây đốn củi, chặn đường đi lối lại của ta, chờ cho bên trong ta trống rỗng rồi mới đánh, thế thì làm thế nào?

Tôn Tử đáp:

– Quân địch tiến sâu vào lãnh thổ của ta, binh lính sẽ lấy quân đội là nhà, không dám đi xa nửa bước, chỉ muốn ít phải đánh nhau. Còn quân ta tác chiến ngay trên đất mình, bám đất mà sống, khiến cho địch có bày trận ra mà cố thủ cũng không vững, khiến cho chúng có tấn công cũng không thắng. Khi tập kết được số lớn quân đội, tích trữ được nhiều lương thực vải vóc, gia cố thành trì, dựa vào thế hiểm mà bố phòng, điều những nhóm nhỏ đi cắt đường chuyên chở lương thực của địch, chúng khiêu chiến ta cũng không ra đánh. Đợi đến lúc lương thực và trang bị của địch không tiếp tục đưa lên được nữa, ngoài đồng cũng chẳng còn gì để mà cướp, ba quân lúng túng chán nản, ta mới lấy lợi ra mà dụ, gom chúng lại mà diệt, như thế tất sẽ thắng lợi. Nếu giao chiến với địch, nhất định phải lựa thế mà dẫn dắt, thế tức là dựa vào nơi hiểm trở mà bố phòng, mai phục, không có nơi hiểm trở thì lợi dụng điều kiện u ám hay bóng tối, xuất kỳ bất ý, đánh vào lúc chúng đang rệu rã, tất sẽ thắng trận.

Câu trả lời của Tôn Tử như một liều thuốc trấn tĩnh làm dịu nỗi đau đớn bệnh tật của Hạp Lư, đồng thời lại như một liều thuốc hưng phấn, làm cho tinh thần của Hạp Lư sôi nổi hẳn lên, hai mắt lóng lánh tinh anh, ông tiếp tục hỏi:

– Vào đất người mà chưa sâu, gọi là khinh địa. Ta mới vào đất địch, quân lính muốn quay về, tiến thì khó mà lui thì dễ, phía sau không có gì hiểm trở, ba quân lo sợ, tướng muốn tiến nhưng lính lại muốn lui, trên dưới không đồng lòng mà kẻ địch có quân mạnh chống giữ, đắp thành trì, sửa chiến luỹ, chỉnh đốn ngựa xe, hoặc chắn trước mặt ta, hoặc đuổi sát sau lưng ta, thế thì làm sao?

Tôn Tử đáp:

– Quân vào đất địch, địch dựa vào chỗ hiểm yếu mà cố thủ, quân lính muốn quay về, mà lui thì khó, thế gọi là kinh địa. Lúc ấy phải chọn lấy những quân kỵ dũng cảm, mai phục ở những đoạn đường hiểm yếu, ta lui chắc địch sẽ đuổi, đến đó thì ra đánh. Quân đánh ở nơi khinh địa, lính tráng còn chưa quen, cần phải vào sâu chớ có đánh để mà đánh.. Không đến gần thành trì của chúng, không đi những đường giao thông huyết mạch của chúng, phải nghi binh, vờ đi, để làm mê hoặc chúng. Chọn lính khoẻ và dũng cảm, cả quan cả lính đều phải ngậm tăm[1] im lặng mà tiến, cướp lấy lừa ngựa, gia súc của chúng. Ba quân thấy có những thứ có thể lấy được thì sẽ không sợ nữa, lần lượt cử những người lính tốt và tinh nhuệ mai phục tại những nơi hiểm yếu, kẻ địch đến thì đánh; nếu địch không đến, thì bỏ đấy mà đi.

Thời tiết đầu xuân, tuy hơi ấm song cũng chưa hết rét, Hạp Lư lại cảm thấy nóng nực, lệnh cho nội thị mở toang cửa sổ ra, để cho thoáng khí, thực ra là ông thấy quá hưng phấn; quá xúc động, liền nhổm dậy khoác áo ngồi lên và nêu ra một số vấn đề mới:

– Ta được thì lợi, người được thì cúng lợi, thì gọi là tranh địa. Tác chiến ở tranh địa, địch đến đó trước, chiếm cứ địa hình có lợi, giữ được trận địa có lợi, quân đội tinh nhuệ, từ quan đến lính đều được chọn huấn luyện, hoặc giữ hoặc đem quân ra đánh, để đề phòng quân kỵ của ta, thì ta nên làm thế nào?

Tôn Tử trả lời rằng:

– Cách tác chiến ở tranh địa, kẻ biết nhường thì được, kẻ cố giành lại mất. Địch được tranh địa, sẽ thận trọng và không tấn công, dẫn quân vờ đi. Dựng tinh kỳ lên, dóng trống ầm ĩ, xông đến vùng đất chiến lược hiểm yếu của địch, kéo cành cây trên đường cho tung bụi lên, đánh lừa tai mắt địch, phân công một số lính tốt ngầm mai phục ở một chỗ; quân địch tất sẽ ra cứu, người muốn thì ta cho, người bỏ thì ta nhặt, tranh thủ giành quyền chủ động. Nếu như ta đến vùng tranh địa trước, địch cũng sẽ dùng cách này, thì sẽ chọn lính tinh nhuệ, cố thủ ở nơi đóng quân, rồi cho phân đội trang bị nhẹ đuổi theo định, mai phục ở nơi hiểm yếu, địch đánh lại thì quân mai phục tụ lại mà đánh, tất sẽ thắng lợi.

Hạp Lư lúc này như một gã học trò chăm chú nghe bài, Tôn Tử nói đến đâu ông lại chăm chú nghe, vừa nghe vừa suy ngẫm, vừa mày mò khám phá đến đấy, để mong nắm được “tôn chỉ cốt lõi” của nó. Ông như một kẻ hết sức tham lam, không biết thế nào là đủ, Tôn Tử vừa mới giảng giải xong một vấn đề đã lại nêu ra câu hỏi mới:

– Nơi ta có thể qua, địch có thể tới, gọi là giao địa, tác chiến ở giao địa, ta sẽ ngăn cản quấy rối địch, khiến cho chúng không thể tiến lên được. Để đạt mục đích ấy tất phải giữ được các thành trấn ở biên thuỳ, sửa sang những công trình phòng bị, củng cố trại ấp; nếu như không lấy trước, địch sẽ đề phòng, thì địch có thể lại mà ta không thể qua được, mà lúc đó lực lượng giữa ta với địch không ngang nhau, lúc đó nên thế nào?

Tôn Tử đáp:

– Nơi ta đã không thể đến, mà người ta lại có đến, thì ta nên lấy quân mai phục, và không được chây lười uể oải, chờ đến khi địch vừa đến, quân mai phục bốn bề xông lên, xuất kỳ bất ý, đánh phủ đầu ngay, địch sẽ phải ôm đầu mà chạy thảm hại.

Hạp Lư thấy Tôn Từ giảng giải giờ lâu đã khô cổ bỏng họng, bèn lệnh cho nội thị bưng trà nóng ra. Nội thị bưng khay trà ra, đang định rót đưa cho Tôn Tử, Hạp Lư liền quở trách:

– Quân ngu xuẩn, không biết gì là lễ phép – Nói xong nhận lấy khay trà, hai tay nâng lên mời Tôn Tử – Xin mời nguyên soái dùng trà!

Hạp Lư lúc này sớm đã không coi Tôn Tử là hàng bầy tôi, cấp dưới, mà đã tôn lên làm bậc thầy và đối đãi bằng lễ với thầy. Tôn Tử thì được yêu mà đâm sợ, vội đứng lên nhận lấy chén trà, cúi lưng đáp lễ tạ ơn, mặt đỏ bừng đến gáy. Tôn Tử uống trà, Hạp Lư không hỏi thêm gì nữa, để cho ông được nhẩn nha uống trà, từ từ nhấm nháp vị trà ngon, mãi đến lúc Tôn Tử uống xong và đặt chén xuống bàn, nội thị lại đến rót thêm, Hạp Lư mới lại hỏi tiếp:

– Chư hầu ở sát nhau, đến trước thì kết giao, làm nước láng giềng và giành được đất có sự ủng hộ của đồng minh, gọi là cù địa. Tác chiến ở cù địa, tất phải đến trước địch, nếu như ta đã ở lại xuất phát muộn, dù ngựa xe có đi nhanh, cũng không thể đến trước được, thế nên làm thế nào?

Tôn Tử lúc này vừa uống mấy chén trà nóng, cảm thấy ngọt giọng và mệt mỏi cũng tiêu tan nên đã trả lời hào hứng và đâu ra đấy, ông nói:

– Đất chư hầu rộng bao la, đường của nó thông khắp ngả, ta sẽ lấy lễ hậu, dùng xe nhanh để đưa sứ giả, cùng các nước kết liên minh, tạo mối thân tình. Quân ta tuy đến sau, nước đồng minh với ta có thể bớt quân số ra rèn luyện quân lính, nhằm chỗ hiểm yếu mà bố phòng, thân mật với binh lính của ta tăng thêm của cải lương thực cho ta, thay chúng ta dò la tin tức, ta được nhiều người giúp đỡ, địch thì mất bạn bè, chư hầu sẽ thành thế ỷ dốc, dóng trống lên cùng đánh, quân địch bị tấn công bốn phía, muôn nỗi kinh hoàng, không biết đối phó ra sao, như thế làm gì mà chẳng thua?

Thấy Tôn Tử trên mình còn đầy gió bụi, nét mặt tiều tụy và xem chừng đã khá mệt mỏi, Hạp Lư không nỡ hỏi nhiều thêm nữa, lệnh nội thị đưa ông về công quán nghỉ ngơi, hôm khác lại đàm đạo sau. Tôn Tử thì lại đang nói rất hào hứng, nên chưa muốn cáo lui. Đúng vậy, người ta sinh ra ở tên đời, còn có gì sung sướng và được cổ vũ hơn là được người khác tôn trọng kính nể. Là ông vua của một nước, song Hạp Lư lại say mê mười ba bài “binh pháp” đến thế, đi sâu vào nghiền ngẫm kỹ lưỡng như thế, bản thân sự việc này đã nói lên sự kính nể và tôn sùng với mình. Giờ phút hạnh phúc nhất của một con người là khi thành quả lao động của họ được người đời khẳng định và tiếp nhận, và phát huy đầy đủ tác dụng của nó. Tôn Tử lúc này đã bắt đầu được hưởng niềm hạnh phúc đó. Là những người làm thầy, thường đều có một tâm niệm sâu sắc rằng học trò đã chịu chăm chỉ học hỏi không biết mệt, khiêm tốn cầu tiến bộ và lòng ham muốn không biết lúc nào đầy đủ thì bản thân thầy cũng không bao giờ thấy mệt mỏi, cho dù có mệt đến chết, cũng sẵn sàng cam lòng, huống chi trước mặt Tôn Tử lúc này lại đường đường là Ngô vương? Thế nến ông hầu như quên mất rằng Hạp Lư đang ốm, cần được nghỉ ngơi, không được quá mệt mỏi. Trước sự ham học như thế của Hạp Lư, trong lòng Tôn Tử bỗng cảm thấy có một điều áy náy, đang hoài nghi rằng có phải trước đây mình đã hơi thiên lệch trong cách nhìn nhận đánh giá ông, ăn năn vì ngày ấy lẽ ra không nên nói với Ngũ Tử Tư những lời có tính chất khinh nhờn Ngô vương như thế.

Hạp Lư thì chỉ mong Tôn Tử tiếp tục ở lại, để mình đàm đạo và hỏi han thêm, sau mấy câu hàn huyên, lại độp sang hỏi một vấn đề mới:

– Đã vào khá sâu trong đất địch, đi qua rất nhiều thành ấp trên đất địch, đất ấy gọi là trọng địa. Ta dẫn quân vào sâu trọng địa, địch cắt đường vậy chuyển lương thực của ta, muốn quay về, nhưng ở cái thế rất khó thông qua những nơi địch đang phong toả. Muốn ăn lương thực của địch, hai bên đều ở thế bằng nhau và đối chọi nhau, cầm cự với nhau. Trong hoàn cảnh ác liệt như vậy, muốn cho quân ta tránh được thất bại thì làm thế nào?

Tôn Tử trả lời:

– Phàm là ở vào trọng địa, quân lính ỷ vào dũng cảm mà khinh suất tiến công, đường chuyển vận không thông, thì cướp đồ tiếp tế của địch, dưới lấy được gạo vải thì đưa lên trên, ai lấy được nhiều thì có thưởng, binh lính sẽ không còn có ý bỏ về. Nếu muốn xuất kích lần nữa, nhất định phải thiết thực làm tốt việc canh phòng cảnh giới, luỹ cao hào sâu, làm như địch với ta phải cầm cự lâu dài. Phía địch hoài nghi quân ta liên hệ với trong nước không có gì ngáng trở, chúng sẽ tự bỏ việc ngăn trở ở những nơi hiểm yếu, ta sẽ thừa cơ cử những phân đội nhỏ bí mật ngậm tăm mà tiến, làm cho đất bụi tung mù mịt, rồi bỏ trâu ngựa dọc đường, làm thế để nhử địch. Nếu địch ra đánh, ta sẽ dóng trống lên mà đánh, ngầm mai phục sẵn, chờ cho chúng vào vòng phục kích của ta, sẽ trong tránh ra ngoài đánh vào, hai mặt giáp công như thế, chúng thua là điều chắc chắn!

Hạp Lư hỏi:

– Hành quân ở rừng núi, hiểm trở, lầy lội… phàm là những con đường khó đi, đều gọi là phỉ địa. Vậy khi quân ta phải tác chiến ở vùng phỉ địa như thế, núi non hiểm trở, hành quân khó khăn, đi lâu thì binh lính mệt mỏi, địch ở phía trước ta, hoặc mai phục phía sau, hoặc cắm doanh trại ở bên trái ta, lại phòng thủ ở bên phải ta, xe tốt quân kỵ giỏi, đánh chặn ta ở nơi hiểm yếu, ta nên làm thế nào?

Tôn Tử đáp:

– Ta nên cho một đoàn xe nhẹ, đi trước quân ta chừng mươi dặm, chờ đợi địch, tiếp chiến ở những nơi hiểm yếu, hoặc vu hồi sang trái, hoặc vu hồi sang phải, tướng phải ra xem trước ngó sau, phân tích hình thế, tìm ra khe hở của địch từ đó mà mang một số quân lớn ra đánh, lựa nơi địa hình thuận lợi để hội chiến, mà phải nhanh chóng chấm dứt cuộc tấn công.

Đang giữa lúc vua tôi hỏi đáp với nhau nguồn mạch như thác đổ từ trên cao, tuôn chảy ra ngàn dặm, thì Hoạn Giả Lệnh vội bước vào, ướm hỏi cơm trưa nên sắp thế nào đề khoản đãi Tôn nguyên soái. Hạp Lư thấy hỏi vậy, làm ra mặt giận, quở rằng:

– Từ khi luyện quân đến nay, nguyên soái phải bươn bả ở các căn cứ quân sự, suốt ngày dầm sương dãi nắng, vất vả biết bao nhiêu, khó khăn lắm mới có dịp về kinh, thế lại vội đến đây để dạy ta. Nên khoản đãi thế nào, thì các ngươi phải biết dự liệu lấy, phải hỏi ta làm gì?

Ý của Hạp Lư như thế, tức là phải khoản đãi Tôn Tử ở mức độ cao nhất, Hoạn Giả Lệnh lĩnh hội được ý đó vâng vâng dạ dạ lui ra. Tôn Tử từ chối, Hạp Lư không thuận cho, đành khách để tuỳ chủ. Sau khi Hạp Lư bình tâm trở lại, tiếp tục xin hỏi:

– Nếu vào nơi đất hẹp, lại có chỗ để quay lại, địch ít vẫn có thể đánh được ta đông, gọi là vi địa. Nếu ta lọt vào vi địa, phía trước có địch chặn đánh, phía sau là nơi đất hẹp ngáng trở, địch cắt mất đường tiếp tế lương thực, để nhử ta rút về, chúng dóng trống hò hét nhưng không đánh, để xem thực lực của ta, ta nên làm thế nào?

Tôn Tử đáp:

– Tác chiến ở nơi gọi là vi địa, phải bịt được lỗ hổng, để tỏ ra sẽ cố giữ, quân lính cũng buộc phải gắn bó, lấy quân làm nhà, muộn người một dạ, ba quân hợp sức lại, cơm ăn trong mấy ngày, nên nấu cùng một lúc rồi tắt bếp, không thấy lửa khói gì nữa, lấy đó mà làm rối loạn tình hình về quân ta vừa ít vừa yếu. Có như thế, địch sẽ thấy ta như vậy mà coi nhẹ việc phòng bị. Ta động viên quân lính, kích động họ tức giận, ngầm cho quân tinh nhuệ phục sẵn ở hai bên nơi hiểm trở, rồi dóng trống bất ngờ, đánh như phá vây mà ra, phía trước chiến đầu, phía sau mở rộng chiến quả, quân ở hai bên tạo thế ỷ dốc lẫn cho nhau, ứng phó cho nhau.

Hạp Lư lại hỏi:

– Địch lọt vào vòng vây của ta, quân mai phục còn chưa hành động, đã sắp sẵn mưu sâu, thấy bên ta có lợi thế, kéo cờ chạy quanh quân ta, nhao nhao như loạn, không biết chúng định làm gì, ta nên làm thế nào?

Tôn Tử trả lời:

– Hàng ngàn người múa cờ hiệu lên, rồi chia nhau bịt lấy đường huyết mạch, dùng phân đội nhỏ ra khiêu khích địch, người khiêu khích chỉ ra đối đầu với địch mà không đánh thực sự, một khi đã giao chiến, thì không được rút lui, đó tức là cách nghĩ mưu sâu để thắng vậy.

Tin Ngô vương và Tôn nguyên soái đàm đạo việc quân rất lâu ở Soả Doãn Trai đã đến tai Tân vương hậu, bất giác vương hậu bỗng thấy lo âu. Đại vương đau yếu đã lâu ngày mà bệnh thì mỗi ngày một nặng, từ lâu đã cách ly với các phi tần, một mình ra ở Soả Doãn Trai cho thanh thản, thế mà lại đàm đạo binh pháp với bề tôi liên tục không nghỉ ngơi như thế, chẳng hoá ra lại tự huỷ hoại ngọc thể của mình hay sao. Bà đã mấy lần sai nội thị đến lén xem, lần nào quay về cũng nói rằng hai người đang nói chuyện với nhau hào hứng lắm, Tôn nguyên soái chưa hề có ý tỏ ra muốn chấm dứt câu chuyện. Không lâu sau, lại nghe Hoạn Giả Lệnh nói rằng đại rương đã dặn cho sửa tiệc rất thịnh soạn để đãi Tôn nguyên soái. Một bữa tiệc thịnh soạn đến đâu, cũng chẳng tiếc vì điều Tân hoàng hậu lo lắng là chỉ sợ đại vương quá vui, uống rượu nhiều mà rồi lại đi đến chỗ vui quá hoá buồn. Bà bồn chồn như kiến bò chảo nóng, áy này không yên, không biết làm thế nào hơn, thế nào đành phá lệ thường trong cung đình, gọi cung nga dẫn tới Soả Doãn Trai, khéo léo trình bày, muốn ngầm nhắc Tôn Tử hãy nghĩ đến sức khỏe của đại vương, sớm rời khỏi nơi này. Người ta thường bảo, biết nói không giỏi bằng biết nghe, với lại Tôn Tử đâu có phải hạng người ngu muội, dù hoàng hậu có nói khéo hay không, ông cũng vẫn hiểu ý, lập tức đứng dậy cáo từ. Cho đến lúc này, Hạp Lư cũng vỡ lẽ ra, hiểu được ý định đến đây của hoàng hậu, bất giác nổi giận ầm ầm, hô bọn nội thị hãy xua ngay lũ đàn bà con gái này đi. Sau khi trầm ngâm một lát, Hạp Lư hơi trấn tĩnh lại, vội cáo lỗi với Tôn Tử, tự trách rằng phép tắc nơi cung cấm chưa chu đáo, phép nhà chưa nghiêm. Đàn ông đàn ang, suy cho cùng bao giờ cũng có một chút khí lượng lớn lao, một thoáng không thoải mái qua đi, vua tôi lại chuyện trò với nhau như cũ. Hạp Lư đã chủ động phá vỡ sự căng thẳng, ông hỏi:

– Quân của ta ra nước khác, đóng quân trên đất địch. Địch mang một số đông quân ập đến, vây quân ta nhiều vòng. Ta muốn phá vây, bốn bề đều bế tắc, muốn khích lệ quân lính, để họ quên mình vì nước, phá vây mà ra, thì làm thế nào?

Tôn Tử thản nhiên đáp:

– Luỹ cao hào sâu, làm ra như cố thủ, giữ im đừng hành động, để ẩn ý của ta đi. Cáo lệnh với ba quân, làm như bất đắc dĩ. Giết trâu bò, đốt xe, cho quân lính ăn, đốt hết lương thực, san bếp lấp giếng, như cắt tóc dâng cho giặc, tuyệt mọi đường sống. Tướng không có mưu gì khác, lính cũng quyết chết, thế là rèn luyện binh lính, sửa sang khí giới, dồn hết sức lực, đánh vào hai sườn, trống dóng người hô, địch nghe cũng sợ, không biết làm thế nào, ta chia quân tinh nhuệ ra nhiều bộ phận, đánh hăng vào phía sau của chúng. Như thế là làm ra sai lầm để tìm đường sống. Cho nên mới nói rằng: Kẻ nào bị vây mà không có mưu phá vây thì sẽ bại, bại mà không đánh thì sẽ chết.

Hạp Lư lại hỏi:

– Thế nếu ta vây địch, thì nên làm thế nào?

Tôn Tử đáp:

– Núi cao vực thẳm cheo leo hiểm trở, khó mà vượt qua được, gọi là cùng khấu. Cách đánh cùng khấu, là cho quân lính mai phục ở nơi hiểm trở, ẩn quân vào giữa vùng đất trống hoang dại, để cho chúng một lối thoát. Toàn quân địch đã phải ôm đầu chạy, tất sẽ chẳng còn ý chí chiến đấu, bởi thế nếu có đánh, tuy chúng đông vẫn cứ phá được.

Giờ Ngọ đã đến, nội thị đến xin hỏi cho đặt tiệc ở đâu. Theo ý của Tôn Tử, là cứ ăn trưa luôn ngay tại Soả Doãn Trai, bởi Ngô vương đang ốm chưa khỏi hẳn, đi lại không tiện. Hạp Lư không cho, bởi làm qua quýt như thế với nguyên soái kiêm thầy dạy, không đúng với lễ nghi chút nào, bắt buộc phải đặt tiệc ở trong sảnh khách, và dù ốm ông cũng gượng bệnh mà đến hầu tiệc, uống thêm vài chén, để bầy tỏ lòng kính trọng. Thế nhưng vấn đề định hỏi, ông còn chưa hỏi hết, bữa tiệc trưa phải chậm lại nửa canh giờ nữa.

Nội thị vừa bước ra, Hạp Lư liền tranh thủ hỏi ngay:

– Đánh mạnh thì còn, không đánh mạnh thì chết, nơi ấy gọi là tử địa. Ta ở trong tử địa, đường tiếp tế lương thực đã bị cắt, địch đang phục kích ta ở vùng núi non, hiểm trở, ta tiến thoái đều không được, thì làm thế nào?

Tôn Tử đáp:

– Đốt hết đồ dùng để chuyên chở của quân ta, phân chia số tài sản còn lại của ta, khích lệ đông đảo quân sĩ để họ thấy không còn đường nào sống, dóng trống hò hét mà xông lên, tiến về phía trước mà không nghĩ gì hơn, quyết liều mình giành lấy sức mạnh, để được sống, các tướng sĩ sẽ đồng lòng dũng cảm chiến đấu. Nếu địch ở tử địa, quân lính hăng hái, thì không nên liều lĩnh tiến đánh, mà nên cắt đường tiếp tế của chúng, phong toả vây khốn chúng, ém quân ta vào nơi có lợi, khiến cho quân ta như nỏ đã căng luôn giữ vững trận địa; sẵn sàng chờ địch.

Hạp Lư lại hỏi:

– Quân địch chiếm giữ vùng núi non hiểm trở, ỷ vào thế hiểm chờ đợi quân ta, lương thực lại đầy đủ, khiêu khích chúng cũng không chịu ra, sơ hở là xông ra cướp bóc, vậy thì làm thế nào?

Tôn Tử đáp:

– Chia quân ra giữ chỗ hiểm yếu, phòng bị tốt chớ lơi lỏng, đi sâu vào dò la tình hình của chúng, ngầm chờ lúc chúng trễ nải, lấy lợi mà dụ, không cho chúng được chăn ngựa, kiếm củi. Địch không được gì, tất sẽ thay đổi cách đánh cố thủ. Chờ cho quân địch ra khỏi trận địa hiểm yếu, ta sẽ tranh giành những chỗ mà chúng muốn, địch tất sẽ đánh để giành lại, ta lựa khe hở mà đánh. Cứ như thế, dù địch có chiếm nơi hiểm trở, ta vẫn có thể đánh được.

*

* *

Người ta thường bảo miệng nói thì đầu mệt, huống hồ Hạp Lư và Tôn Tử lại không phải là nói chuyện phiếm, mà là bàn việc quân, nói về cách đánh địch, đàm đạo với nhau về chiếp. lược Chiến thuật, vậy mà lại nói với nhau cả buổi như vậy. Hạp Lư nằm trên giường thấy không hề vì vậy mà bệnh tình nặng thêm, ngược lại còn thấy tinh thần phấn chấn, sức sống dồi dào hơn, trong bữa tiệc trưa đã luôn luôn cạn chén mà niềm vui vẫn dâng tràn. Từ đó đó con ma bệnh tật hình như cũng run sợ mà lánh xa, long thể bỗng khoẻ khoắn trở lại.

Trên đồng cỏ mênh mông, trai gái vui hò hát, sức sống dâng cuồn cuộn, người ta bổ cuốc vung liềm khai khẩn đất hoang, trên đồng cỏ nhấp nhô mọc lên những căn lều tạm khói lam từng sợi vươn lên tầng cao, giống như những chiếc lều da của người Mông Cổ trên đồng cỏ, lại như những cây nấm sau mỗi cơn mưa mọc lên trên triền núi. Những căn lều lúa nói lên rằng, muốn khai khẩn được nhiều đất hoang hơn, đã có không ít gia đình chuyển luôn đến ở ngay đồng cỏ, mong được ra sớm về muộn, làm quên cả mệt. Còn một số nhiều hơn các gia đình khác thì vẫn một ngày hai bữa mang cơm ra đồng. Người đi đưa cơm phần lớn là cụ già con trẻ, họ luôn tiện cho cả bò cừu ra chăn nuôi ở đấy. Những con chó giữ nhà trung thành cũng theo chủ ra chốn này chạy tung tăng khiến cảnh trí thêm phần sống động. Trên đồng cỏ xanh, con gái với quần hồng, con trai với quần nâu, cừu trắng, bò vàng… điểm xuyết vào đó là những con chó màu đen chạy đi chạy lại, tạo thành bức tranh phía bắc giữa vùng Giang Nam. Mấy tháng trời qua đi, phía sau những con người này, đã hiên ra một cánh đồng màu mỡ phẳng lì, thẳng tắp đến chân trời, phả lên mùi nồng nàn của đất mới. Năm tới ở đây sẽ là đồng lúa vàng gợn sóng, hương thơm ngào ngạt đến say đắm lòng người.

Trên sườn núi, người đông như kiến, ùn ùn lay động, những người con cần cù của mảnh đất Giang Nam đang đem sức ra tạo nên từng từng lớp lớp ruộng bậc thang trồng nên những vườn dâu nương chè xanh bát ngát. Không bao lâu nữa, ở đây sẽ là một vùng chè xanh mướt mắt như gấm thêu lấp lánh.

Khu vực Thái Hồ cũng hay bị lụt lội, nhiều phen huỷ hoại nghiêm trọng bức tranh của vùng quê cá nước lúa màu này. Muốn quân mạnh nước giàu, mà không trị tận gốc nạn lụt ở Thái Hồ, thì điều đó chỉ là điều nói suông. Với việc này, những người nắm chính quyền của nước Ngô đã nhìn rõ mồn một, cho nên đã tập hợp hàng vạn dân công hoặc khơi thông mương máng, hoặc đắp đê bỏ kè, hoặc đào thêm sông mới, hoặc xây cống đắp đập trên dưới một lòng, muôn người như một khắp nơi rầm rộ hăng say…

Thái Hồ mênh mang, Trường Hồ dào dạt, cột buồm như rừng, mái chèo như thoi đưa, buồm trắng thấp thoáng, điệu hò kéo lưới theo gió vang lên từng hồi tạo nên một khung cảnh bận rộn mà vui vẻ tấp nập. Những xóm thôn phố xá quanh hồ, cùng những hòn đảo sầm uất trên hồ, đâu đâu cũng thấy tôm vàng cá bạc, đợi đến mùa sau khi hoa lau nở trắng, hàng ngàn cánh buồm lại lướt sóng đi các ngả, chở những đặc sản như bạc như vàng này của nước Ngô đến các người vùng Trung Nguyên hoặc bán lấy tiền hoặc trao đổi lấy hàng hoá khác, cho đầy kho công, cho tăng nguồn lợi của dân, để mong quân mạnh nước giàu…

Bên bờ đầm Nga Chân ở vùng sâu triền Côn Sơn, lò cao mọc lên khắp nơi, khói tuôn lên cao như mây, đấy là những nơi luyện sắt thép, rèn dao đúc kiếm. Trong thành Vũ Tiến, bên bờ Ngô Giang, khắp nơi rộn vang tiếng đe tiếng búa… đó là những nơi rèn ra binh khí thương đao…

Mỗi một cánh rừng, mỗi một cửa khẩu, mỗi một dòng sông, mỗi một mặt hồ, mỗi một thị trấn… trên đất nước Ngô đều có đặt căn cứ quân sự, lính bộ lính thuỷ thay phiên nhau luyện tập đêm ngày.

Một ngày giữa mùa hạ, nóng như nung người, Tôn Tử tháp tùng Hạp Lư, mang theo đông đảo quan văn quan võ, ngồi xe cưỡi ngựa lục tục tới Khung Long để xem diễn tập quân sự với khoa mục là đánh chiếm đỉnh Khung Long. Quân chia làm hai cánh bên phải và bên trái. Phù Khái là chủ soái của tả đội, Bị Ly là chủ soái của hữu đội, bên nào lên được đỉnh Lạp Mạo giật được lá cờ đỏ ở đấy trước, là bên ấy thắng. Muốn giật được cờ đỏ trước chẳng những mình phải leo nhanh, lại còn phải tìm đủ cách để ngăn không cho đối thủ leo lên. Đường leo lên núi và cánh thức ngăn cản đối, phương, đều đo chủ soái các cánh quân xác định, như vậy một là phải trông vào mưu mẹo và tài ba của chủ soái, hai là phải trông vào tố chất của quân đội. Trống trận nổi lên, hai cánh quân tranh giành nhau vừa đúng một ngày, bên nào cũng có mặt mạnh, mặt yếu, nhưng chưa ai giành được thắng lợi; đúng là kỳ phùng địch thủ, thế lực đều tám lạng nửa cân. Đến lúc vàng mặt trời, lại khua lệnh lên, thu quân. Cứ như thế kịch chiến với nhau ba ngày, rốt cuộc vẫn không phân thắng bại.

Hạp Lư thấy sốt ruột, bèn nói với Tôn Tử:

– Tại sao nguyên soái không thử xem, cũng để cho Phu Khái và Bị Ly mở mắt ra một chút chứ!

Ngô vương đã lệnh thế Tôn Tử còn chối từ làm sao được qua bàn bạc, ông thay vào chức vụ của Bị Ly, chỉ huy hữu quân. Đêm ấy, dưới ánh trăng ông đã sắp đặt lại mọi việc.

Nguyên là hai sườn nam bắc của núi Khung Long thế núi khác nhau, sườn nam thoải hơn, dễ leo hơn, nhưng đường lại xa; sườn bắc cheo leo lửng lơ ngất ngưởng, lởm chởm nhấp nhô đủ kiểu, khe sâu vực thẳm, rãnh ngầm tối om, chim bay không tới, ma kinh vượn rợn, nhưng đường đi lại chỉ bằng một phần ba sườn phía nam.

Ánh trăng chiếu vào lòng núi, những khe những luỹ thấp thoáng ẩn hiện, hắt lên những ánh sáng lạnh ớn người, từ trong rừng sâu thi thoảng lại vẳng đưa những tiếng chim lạ, lúc thì thầm như giọng nói đàn bà, lúc lại ré lên như tiếng khóc trẻ thơ, có lúc lại như cụ già ho khù khụ… Ở một khoảng bằng phẳng trên đỉnh gò, đã tụ tập tới hàng ngàn người ngựa của hữu quân. Tôn Tử đang làm công việc động viên nhắc nhở trước khi bước vào chiến đấu và sắp đắt kế hoạch. Sau cùng ông nói:

– Phàm có kẻ nào dám trái lệnh, quân pháp sẽ không tha!

Tướng sĩ ai ai cũng hiểu rõ hàm ý câu quân pháp không tha ấy là gì, bởi việc Tôn Tử chém hai nàng cơ Hạ và Khương, đã lan truyền trong khắp ba quân như một câu chuyện hay, đêm nay chủ soái nhắc lại thế, không ai không run sợ. Đừng thấy trên lưng gò này phẳng phiu như thế mà tưởng tầm thường, phía tận cùng của nó lại hẫng như treo, sâu thẳm khôn lường. Tôn Tử chọn mười người lính nhanh nhẹn và khoẻ mạnh, đứng dàn hàng ngang trên đỉnh gò cao, phát ra hiệu lệnh, hàng ngang đi đều bước về phía trước, đi đến mé vực đá treo, có người không sợ chết, tiếp tục bước về phía trước, rơi xuống vực sâu, tan xương nát thịt; có người trái lệnh dừng chân, hoặc dùng dằng không dám bước. Tôn Tử hạ lệnh chém đầu những kẻ sợ chết ngay bên bờ vực sâu, trọng thưởng cho những dũng sĩ đã rơi xuống vực, tặng họ những danh hiệu vẻ vang, cho nhiều vàng bạc để an ủi gia đình họ. Sau đó, cho tình nguyện nghi tên, tổ chức thành một đội cảm tử leo núi một trăm người, giao hẹn người nào đầu tiên leo lên được đỉnh cao cướp được cờ đỏ, sẽ được thưởng năm mươi lạng vàng và được đề bạt lên quân uý, những người leo lên sau, theo thứ tự, thảy đều có thưởng, các binh sĩ còn lại, từ sườn phía nam tìm cách ngăn cản tả quân leo lên núi, và cũng công bố rõ ràng lệnh thưởng phạt nghiêm minh. Sắp đặt mọi việc đâu vào đấy, tất cả về doanh trại nghỉ ngơi, đêm ấy qua đi bình thường.

Giờ thìn hôm sau, trống trận lại dóng lên, cuộc diễn binh bắt đầu, Tôn Tử không ở chỗ hữu quân chỉ huy chiến đấu mà vẫn cùng các quan văn võ tháp tùng Hạp Lư thăm diễn tập, tay cầm quạt ba tiêu, cười nói ung dung. Cuộc kịch chiến ở sườn phía nam còn hăng hơn mọi ngày, người xem không ai là không náo nức, nhưng hồi hộp lo thay cho cả đôi bên. Người nào chỉ hơi tinh ý một chút là thấy ra ngay, chiến thuật của hữu đội hôm nay thay đổi hẳn, nhưng lính tráng khoẻ mạnh tinh nhuệ không đi leo núi, mà chỉ ra sức ngăn chặn không cho tả quân tiến lên. Họ cố sức leo lên một điểm cao, nhưng không tiếp tục leo cao thêm nữa, mà tất cả quay mình lại đứng trên nhìn xuống, lấy đá lăn, gỗ lao để khống chế đối phương, khiến cho họ không tiến lên được nửa bước, thậm chí còn ép cho họ xuống tận chân núi. Các quan trong triều thảy đều thắc mắc, không hiểu Tôn Tử đang định giở bài gì, cứ như thế này cho phòng mà không tấn công, có mà đánh đến ba năm cũng khó mà phân thắng bại. Đang giữa lúc Hạp Lư và quần thán nát óc nghĩ mãi không hiểu ra sao thì thấp thoáng đã nhìn thấy có người đã leo lên đến đỉnh núi, nhổ được lá cờ đỏ, giơ cao lên, lấy hết sức ra mà phất lên như để báo tin thắng trận. Những người lần lượt leo lên theo sát phía sau có tới hơn một chục người, họ đã chiếm lĩnh được đỉnh núi Lạp Mạo. Văn võ bá quan nhìn nhau kinh ngạc, không ai là không hết lời thán phục.

Một ngày cuối thu, Tôn Tử lại dẫn mọi người đến Thái Hồ để xem lính thuỷ diễn tạp. Giờ Mão ngày hôm sau, mặt trời hồng vừa mới nhô lên, cả mặt hồ lấp loáng như vàng. Giờ Thìn, thời tiết bỗng thay đổi hẳn, cuồng phong gào thét, sóng gió ngút trời, thuyền buồm lũ lượt theo nhau về cảng, chim chóc cũng lẩn đi đâu hết, núi non ẩn mình, các đảo trên hồ, ngay trong gang tấc cũng không thấy bóng đâu, tựa hồ như bị cơn gió tai quái này cuốn tít lên mây xanh mất rồi.. Những người hiểu rành rõ tính nết của Thái Hồ đều nói, diễn tập trong thời tiết này, quả thật là đem sinh mạng của tướng sĩ ra làm trò đùa, giống như bài ca dao của nước Ngô đã nói: “Tháng mười cuối thu gió bấc thổi, mười thuyền ra hồ chín không về”. Ngũ Tử Tư và Bá Bỉ ngay từ bé đã sống và lớn lên ở nơi sông nước lầy lội, đương nhiên là thấm thía sự nghê gớm của những cơn “gió bấc tháng mười” này, người làm tướng soái, có ai lại không thương xót cho tính mạng binh lính của mình. Mặc dù trong lòng họ tha thiết mong được đánh Sở báo thù, nhưng trong cái thứ thời tiết quái quỷ như thế này, có thể tiến hành diễn tập trên hồ được hay không, họ cũng không dám quả quyết, bèn hòi Tôn Tử, ông nói:

– Đem quân đi đánh Sở phần lớn là đi đường sông nước, biết đâu lại chẳng gặp phải “Gió bấc tháng mười”, ngày thường không luyện tập, trong chiến đấu thì làm thế nào? Hơn nữa thời tiết xấu địch tất sẽ lơi là, ta có thể nhân sơ hở đó mà đánh vào, sao có thể vì sóng to gió lớn mà run sợ không tiến lên?…

Chủ soái đã định, Ngũ Tử Tư với tư cách là một chủ tướng rõ ràng là chẳng còn nói được gì hơn, quân lệnh như sơn, thế là ra hiệu phát lệnh, cuộc diễn tập vẫn tiến hành như thường. Sóng to gió lớn, thuyền bè trong hồ bập bềnh chẳng khác gì những chiếc bánh trôi ở trong nồi, nhấp nhô chìm nổi. Cột buồm nghiêng ngả, mái chèo chuệch choạc, nhiều thuyền bị lật bị đắm, lính tráng làm mồi cho cá kể tới hàng ngàn, tổn thất nặng nề. Tuy nhiên cuộc diễn tập lính thuỷ lần này, đã hình thành trong tướng sĩ của quân đội nước Ngô một niềm tin, tạo nên cho họ một lề thói tốt đẹp là trên đời này chẳng có cái gì vững đến mức không thể đổ, anh dũng ngoan cường thì chẳng có gì đáng gờm chẳng có gì phải sợ!

Cuối năm, Hạp Lư đi thị sát các địa phương và quân đội, thấy dân giàu quân mạnh mà hả hê trong lòng, tựa như người còng lưng tự nhiên đứng thẳng được dậy, bước đi cũng đã dám nhìn cao bước rộng. Sau chuyến ấy quay về, một lần nữa lại hỏi Tôn Tử lúc nào thì đánh Sở, Tôn Tử vẫn lắc đầu, khiến Hạp Lư chẳng còn biết ra làm sao nữa!

❀ ❀ ❀

[1] Ngày xưa quân lính bí mật hành động, người ta bắt ngậm một thứ như cái đũa ở ngang miệng để không nói chuyện được, tránh địch phát hiện ra.

Nguyễn Bá Thính
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Tào Nghiêu Đức

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.