Ở trên vừa kể, sau khi tiệc tàn, huyện lệnh với Điền tướng quân đang ngồi ở phòng khách bàn công việc, còn Điền Vũ thì được gia nhân đưa đi thăm phố phường An Lạc. Bỗng có nha dịch hốt hoảng vào cấp báo: Cậu ấm Điền bị ngã xuống nước, không thấy đâu nữa, nghe tin ấy mọi người đều thất kinh, người thì ngất ngã ra ngay tại chỗ, người thì há hốc mồm ra mà nhìn nhau…
Thành phố Lạc An nhỏ và xinh, phong cảnh cũng đẹp đẽ phố xá rộng rãi phong quang, cảnh buôn bán cũng ồn ào náo nhiệt. Tế Thuỷ là dòng sông từ phía nam, chảy tới góc tây nam của thành phố lại đổi dòng quẹo theo hướng tây nam, thành ra một hào nước tự nhiên bảo vệ phía tây nam thành phố. Điền Vũ như một con vịt, ngay từ bé đã thích nghịch nước, nhìn thấy nước là ngứa ngáy chân tay, thế nào cũng phải xuống mà vầy cho thoả thích một phen. Sinh ra và lớn lên bên bờ sông Tri Thuỷ, Điền Vũ đã biết bơi lội từ lâu, cho dù có được ngâm cả ngày trong nước cậu cũng không hề chán bao giờ. Điền Thư quanh năm xa nhà, đương nhiên là không biết được thói quen ấy và tài bơi lội của cháu mình. Điền Vũ đến đây, thấy Tế Thuỷ có nhiều điểm khác hẳn với Tri Thuỷ: Tri Thuỷ luôn ngầu đục, Tế Thuỷ lại trong xanh. Tri Thuỷ chảy cuộn cuộn, sóng kêu rì rầm, Tế Thuỷ ngoan ngoãn hiền từ…Ở bên ngoài thành Lạc An, dọc theo bờ Tế Thuỷ, cây xanh hoa đỏ toạ nên sự tương phản kỳ thú, tiếng ve, tiếng ếch, rộn rã vô cùng, hươu thỏ đùa nhau trong lùm cỏ, chim chóc đua bay quanh rừng cây. Lại nhìn ra bờ sông Tế Thuỷ nước xanh sóng biếc, vịt thì xám, thiền nga thì trắng thấp thoáng xen lẫn những cánh buồm xa xa hoặc những chiếc thuyền câu với ngư ông ngồi lặng lẽ buông cần. Tơ liễu mơn man trên mặt nước, hoa rụng cuốn trôi theo dòng, giọng hò vẳng trên sông hoà với tiếng cười ở ngoài doi cát. Những cô gái ra sông giặt sợi, lưng như cành liễu uốn cong cúi xuống ngẩng lên, nhịp nhàng như gà mổ thóc, muôn ngàn sợi tơ tình như muốn gửi vào dòng nước… Những chàng trai đạp guồng nước trên bờ, vai rộng như hổ, lưng lẳn như gấu, nhảy lên nhảy xuống trên bàn đạp, chẳng khác chi những con chim chích chuyền cành… Con sông Tế Thuỷ thật là xinh đẹp vô cùng, trong bức tranh ấy lại xôn xao tiếng động, nếu là bài ca lại rực rỡ sắc màu, nếu là thơ, lại thấy ngọt ngào dư vị…
Điền Vũ mấy lần muốn xuống sông để vầy nước cho thoả thích, nhưng những người cùng đi dứt khoát không cho. Điền Vũ cũng thôi không tranh cãi với họ làm gì, đi đến một chỗ, bỗng sểnh chân rơi xuống nước, nhô đầu lên mấy cái, rồi chìm xuống không thấy tăm hơi đâu nữa.
Cả chục người đi dọc theo bờ sông, người thì chạy trên bờ, người thì bơi thuyền dưới sông, người thì gọi, người thì lo toát mồ hôi. Bỗng một giọng non trẻ ở đâu vẳng tới:
– Tôi ở đây kia mà!…
Mọi người chạy về phía có tiếng gọi, ở chỗ dòng sông chảy quẹo đi, có một cây liễu mọc ngả ra bờ sông, cậu ấm Điền đang vắt vẻo cưỡi trên thân cây liễu đó, hai chân thõng xuống, khoả nước kêu bòm bõm, vầy nước thật vô tư.
Tóm lại là chưa đến nỗi thành tai hoạ, mọi người chỉ phải một phen hết hồn mà thôi, nỗi lo âu và từng trái tim thắc thỏm của mọi người đều dần dần yên ắng lại.
Sự việc này đã nói lên rằng, bất kể việc gì Điền Vũ đã định làm thì chẳng ai có thể ngăn cản được.
Từ huyện thành trở về, Điền Vũ bị ông mình mắng cho một trận nên thân, thậm chí xoè cả bàn tay giơ lên rõ cao, chỉ có điều rồi lại không tát vào mặt Điền Vũ.
Sự thông minh và mưu mẹo của Điền Vũ, chẳng mấy chốc mà đã đồn đại xôn xao khắp thành phố, thậm chí còn đồn thổi tô vẽ thêm, đến Tề Cảnh công và Yến Anh cũng đã nhắc tới với Điền Thư. Cuối hạ sang thu, tại Bách Tẩm đài, Tề Cảnh công với Yến Anh. tiến hành một cuộc duyệt binh rất lớn;.Điền Thư đảm nhiệm vai trò tổng chỉ huy cho lần duyệt binh này, và theo lệnh vua mang cả cháu đi theo.
Bách Tẩm đài ở chỗ cách thành Lạc An tám dặm về phía đông[1] do năm nào Tề Hoàn công xây dựng để liên minh chư hầu, nên còn gọi là đài Hoàn công. Đài cao ba trượng, diện tích hơn mười mẫu, trên đài điện các nguy nga, miếu đều hùng vĩ, đình tạ nhấp nhô, thông già bách xanh, che kín một vùng âm u, tao nhã. Dưới đài có một bãi tập rộng tới cả trăm mẫu, lễ duyệt binh sẽ diễn ra ở bãi này. Chiến xa, kỵ binh, bộ binh, mỗi loại xếp thành hàng thành khối vuông, tinh kỳ phấp phới, oai phong lẫm liệt. Nhìn tướng lĩnh ai ai cũng tỏ ra uy vũ hùng tráng, nhìn binh lính thấy người nào người nấy hăng hái sẵn sàng, nhìn chiến mã, vừa to vừa khoẻ, nhìn binh xa, xếp ngay ngắn như rừng, nhìn binh đao, ánh thép sáng loà, nhìn mộc chắn, sáng ngời chói mắt, nhìn bãi tập, tràn ngập oai phong, nhìn thế trận, chỉnh tề nghiêm túc, nghe tiếng hô, vang dội núi sông. Các tráng sĩ của ba thứ quân đều hành động theo hiệu cờ trong tay của Điền Thư, chỉ đông là sang đông, chỉ tây là sang tây, đội hình biến đổi nhanh chóng gọn gàng, các thứ quân xen nhau hợp lý và không hề lộn xộn, đi đến trước đài kiểm duyệt, tất cả đều ngẩng cao đầu, sải rộng chân nghiêm trọng như khối núi, nhất loạt tung hô vạn tuế, tiếng hô vang lừng một góc trời. Ngay giữa bãi tập lại đắp một cái hào, cao chừng mười trượng, rộng đến năm mẫu, một đội bộ binh, theo bậc mà lên xếp thành một hàng dọc, thẳng như kẻ chỉ, một hiệu lệnh vang lên, quân lính theo nhau thẳng tiến, đi đến mép đài cao, nếu chủ soái chưa ra lệnh dừng lại, các binh sĩ ấy sẽ theo nhau ngã xuống chân đài mà chết…
Lễ duyệt binh đã thể hiện đầy đủ sự uy nghiêm và thiêng liêng không thể xâm phạm của một nước lớn ở phương đông, đội quân với vũ khí và ngựa xe huấn luyện đâu ra đấy như vậy, tất sẽ không ai thắng nổi, sẽ vô địch trong thiên hạ và đi lên không gì cản nổi.
Xem duyệt binh, Điền Vũ rất lấy làm cảm động. Cậu tự thấy kiêu hãnh khi được làm một người dân nước Tề và càng tự hào khi được làm cháu của Điền Thư. Cậu quyết tâm sau này lớn lên, cũng sẽ làm một chủ soái, làm một tướng lĩnh như ông mình bây giờ, chỉ huy thiên binh vạn mã, làm mưa làm gió, chinh chiến ở biên cương.
Tề Cảnh công vênh vang đắc chí, sau lễ duyệt binh đã cho mở tiệc linh đình, để ăn mừng và khao thưởng văn võ bá quan, đương nhiên là Điền Thư cùng với Cảnh công và Yến Anh cũng tham gia buổi tiệc, Điền Vũ cũng theo lệnh, được ngồi mâm tiệc với ông mình. Làm vua không phải ai cũng khiến người ta những nhìn mà sợ, Cảnh công rất bình dị và gần gũi mọi người, điều đó có thể cũng có liên quan tới ảnh hưởng của Yến Anh, nhất là ông rất thích những đứa trẻ ngây thơ hoạt bát, coi chúng là niềm hy vọng và tương lai của đất nước sau này. Trong bữa tiệc, Cảnh công luôn giữ Điền Vũ ở bên mình, hỏi hết chuyện này đến chuyện khác để thử sự hiểu biết, tài học của cậu bé này, thậm chí có lúc còn ôm cậu vào lòng, áp sát lại và thơm lên đôi má cậu. Nghé con không biết sợ hổ, Điền Vũ chẳng có gì tỏ ra là sợ sệt e dè, hỏi đến đâu, cậu cứ đàng hoàng thao thao trả lời trôi như cháo chảy. Cậu suy nghĩ nhạy bén, nói năng lanh lợi, có khá nhiều vấn đề Cảnh công nêu chẳng những nói được ra, trả lời chính xác mà lại tỏ ra biết nhìn nhận, có phân tích, có căn cứ, nói có đầu có cuối. Cậu chớp chớp đôi mi mắt dài, hay khẽ đưa đi đưa lại trong mắt tinh khôn, thì chỉ trong nháy mắt đã nêu rạ một ý định, một lý lẽ nào đó, làm cho mọi người trong bữa tiệc không còn bụng dạ nào mà thiết uống rượu nữa, mà đều xúm lại nêu ra đủ các loại câu hỏi kỳ quái.
Lễ duyệt binh đương nhiên thể hiện được uy danh và sự vì nể của nhà vua đối với Điền Thư; bữa tiệc vui cũng nâng cao được địa vị của họ Điền trong triều đình, nhưng đồng thời cũng gây nên sự đố kỵ của những người trong hai dòng họ Loan, Cao, làm tăng thêm mối mâu thuẫn giữa các quan lại cùng triều, gieo rắc sẵn mầm tai hoạ.
Hai ông cháu không thể rời được nhau, Điền Vũ đã cùng đến Lâm Tri ở với ông mình. Tháng tám, mây trong trời cao, tới ngày mười hai, một vầng trăng to như chiếc ô treo lơ lửng trên trời, ánh sáng nhạt lung linh như nước chiếu cho mặt đất sáng như ban ngày, Điền Vũ ngồi dựa vào lòng ông nội, nài ông kể chuyện cho cậu nghe. Dừng lại một lát, sau đó ông nội đã kể, cho cháu mình nghe chuyện Ninh Thích và Quản Trọng khi họ mới gặp nhau.
Ninh Thích là người nước Vệ, hiểu biết rộng, tài ba hơn người, lập chí muốn phò tá một đấng minh quân, làm nên một sự nghiệp cho đất nước quân mạnh nước giàu. Nghe nói Tề Hoàn công có chí lớn và hoài bão lớn lao, đã giao Quản Trọng làm tướng quốc, chiêu hiền nạp sĩ, những mong cho quân mạnh nước giàu để xưng bá trong thiên hạ, nhưng vì chưa biết thật giả thế nào nên định cất công sang nước Tề đi thăm dò xem thực hư thế nào. Nhưng vì nhà nghèo rớt mồng tơi, nước Vệ sang nước Tề đường sá xa xôi, nên muốn sang Tề lại không có tiền, ông bèn đi làm thuê, đánh xe ngựa cho một đám nhà buôn sang nước Tề. Đám lái buôn lại dùng xe bò, ngày đi đêm nghỉ, cuối cùng, một hôm đã đến bờ sông Khang Lãng ở ngoại kinh thành Lâm Tri. Trời đã tối, cổng thành lại đóng, họ không thể vào được đành phải ở ngoài thành tạm ngủ một đêm, đợi sớm hôm sau vào thành.
Ninh Thích thêm thức ăn cho bò, rồi vào nằm trong căn lều cất tạm, tính chuyện làm thế nào để gặp được vua Tề. Bỗng nghe thấy tiếng người xôn xao, Ninh Thích không biết là đã xảy ra chuyện gì, và ra ngoài lều nghe ngóng. Bỗng thấy từ phía kinh thành Lâm Tri, có một toán người ngựa chạy tới, đèn lồng trên tay, chiếu sáng như ban ngày, chen chúc nhau, khí thế khác thường. Qua dò hỏi, mới biết rằng đó là Tề Hoàn công dẫn Quản Trọng và một số người khác, nửa đêm ra ngoài thành tiếp khách. Ninh Thích chợt nghĩ ra điều gì, bình thản đi đến trước chỗ buộc bò, thấy Tề Hoàn công đến gần, bèn vừa thêm cỏ cho bò, vừa gõ nhịp vào sừng bò mà hát: “Nam Sơn đá lẫn than, đá trắng nát tan, sinh ra không gặp thời Nghiêu Thuấn, vải thô áo cộc lưng ống chân, từ sớm chăn bò tới nửa đêm, đêm dài dằng dặc bao giờ sáng. Nước sông Khang Lãng đá sáng trắng, nuôi cho cá chép dài thước rưỡi, vải thô áo đơn ngang ống chân, sáng sớm chăn bò đến nửa đêm, bê con lên dốc mới đi nghỉ, ta sẽ bỏ người, làm tướng quốc nước Tề. Ra cửa đông hề qua bậc đá, trên có tùng bách xanh che dày, áo vải thô hề lẫn gai, đến giờ chưa gặp vua Nghiêu Thuấn, chúa ơi hãy cố mà ăn cỏ, đại thần tôi ở bên người, ta sẽ cùng người đi nước Sở”… Đại ý bài hát muốn nói rằng: Đừng có thấy ta nghèo, áo quần rách rưới thế đấy, nhưng ta đang đi tìm một bậc quân vương như Nghiêu Thuấn. Nếu nước Tề dùng ta, ta sẽ ở lại phò tá vua nước Tề, tại vì đất nước này thật tốt, nếu không, ta đành phải đi nước khác mà thôi!
Nghe ngụ ý lời ca này có điều gì khác, Tề Hoàn công biết ngay người này nhất định sẽ có học vấn, lệnh cho Quản Trọng hôm sau đi tìm Ninh Thích, hỏi ông có muốn ở lại nước Tề làm quan hay không.
Ngày hôm sau, Quản Trọng vội vã đi tìm Ninh Thích, sau khi hai người xưng tên với nhau, bỗng trở nên rất tâm đầu ý hợp, cuối cùng Quản Trọng hỏi Ninh Thích có muốn ở lại nước Tề làm quan hay không. Ninh Thích nghe xong, chỉ mỉm cười nói mỗi câu: “bạc bạc nước trong” rồi không nói thêm gì nữa? Ngay lúc đó, Quản Trọng chẳng hiểu câu nói ấy của Ninh Thích có hàm ý gì, nhưng cũng không tiện hỏi, đành cáo từ ra về.
Kể đến đây, Điền Thư quay sang hỏi cháu:
– Cháu có hiểu ý câu nói của Ninh Thích không? Ông ta có bằng lòng ở lại nước Tề để làm quan không?
– Rõ ràng Ninh Thích tỏ là muốn ở lại nước Tề làm quan, phò tá Hoàn công, xưng bá chư hầu, Quản Trọng không hiểu được ý đó ạ! – Điền Vũ chẳng cần suy nghĩ, trả lời ngay. Câu trả lời rất quả đoán, không dễ nghi ngờ.
– Cháu làm sao mà biết được? – Điền Thư kinh ngạc hỏi lại.
Điền Vũ nói như giải thích:
– Chả lẽ ông quên rồi sao ạ? Ngày xưa có một bài “bạch thuỷ thi” viết rằng: “Bạc bạc nước trong, cá bơi thoăn thoắt, vua đến với ta, thì ta ở lại, nước chưa yên hàn, yên lòng sao vậy”. Thế chẳng phải tình nguyện xin ở lại, phò tá nước Tề trị vị thiên hạ đó sao?…
Điền Thư nghe xong, ôm chặt cháu vào lòng mà hôn hít, cà chòm râu rậm vào cái má bầu bĩnh của cháu, trong lòng như có lửa ấm, như có mật rót, như ai xông hương, sao mà ngọt ngào, sao mà thơm tho làm vậy?
Một hôm, Điền Thư được rỗi, lại dắt tay Điền Vũ đi chơi núi Ngu Công: Núi Ngu Công nguyên tên là Đỗ sơn ở chỗ hơn hai mươi dặm về phía tây thành Lâm Tri. Đây là một quả núi mồ côi, xé đất mà lên, ngang nhiên đứng một mình, trêu chọc lên trời xanh, chân rộng hàng mấy dặm, cổ thụ ngút lên tận trời, gai góc dây leo chằng chịt, đá lạ lởm chởm như rừng, thú gầm chim hót. Điền Thư vai đeo lương khô, ngang lưng thắt bầu nước, tay trái dắt cháu, tay phải cầm kiếm vạch lá chặt gai, xua rắn giết sói, quanh co khúc khuỷu, nhấp nhô gập ghềnh, tốn hết bao nhiêu công sức chẳng biết, nhưng rốt cục đã lên đến đỉnh núi. Lên cao nhìn được xa, sông dài, biển rộng, đồng gò đồi, phố phường khắp nơi đều nằm gọn trong tầm mắt, không sót thứ gì. Điền Thư đưa tay chỉ từng hình sông thế núi, giảng giải cho đứa cháu lúc nào cũng khát khao hiểu biết của mình về Bột Hải, Hoàng Hà, Tri Thuỷ, Tế Thuỷ, Thời Thuỷ, Nhữ Thuỷ, Lâm Tri, Thiên Thừa, Lạc An, Bác Sơn, Ngưu Sơn, Thiết Sơn… Người nói thì thao thao bất tuyệt, càng nói càng say sưa; người nghe thì chăm chú, như ngây như dại. Đợi lúc ông nội mình nâng bầu lên uống nước, Điền Vũ hỏi:
– Ông ơi, thế Đỗ Sơn làm sau lại đổi thành Ngu Công ạ?
Đó là đặc điểm của Điền Vũ, gặp việc gì cậu cũng hỏi đến kỳ cùng, chưa làm cho hai năm rõ mười, thì cậu chưa chịu thôi.
Theo yêu cầu của cháu mình, Điền Thư lại kể cho cháu mình nghe chuyện đổi tên của Đỗ Sơn.
Tề Hoàn công lên ngôi không lâu, cũng vào một ngày thu trong sáng thế này, để luyện quân, ông đã thân chinh mang một đội người ngựa ra cửa tây kinh thành Lâm Tri, đến Đỗ sơn để bao vây săn bắn. Hoàn công một mình một ngựa đi đầu chỉ huy quân lính, đã bắn được rất nhiều chồn, beo, cáo, thỏ vv… Đang lúc định thu quân về thành, bông thấy một con hươu sao cuống lên không biết đường, chạy ngay đến trước mặt Tề Hoàn công, binh sĩ thấy vậy hò reo vây chặt lại đang định giương cung lên bắn. Thấy con hươu sao có vẻ đáng yêu, Tề Hoàn công không nỡ để cho quân lính bắn chết nó. Ông định tìm cách bắt sống, bèn lớn tiếng hô lên: “Không được bắn!”, nói xong liền giật dây cương, hai đùi ép mạnh vào bụng ngựa, quay lại vung roi quất mạnh vào mông ngựa một roi, con ngựa chiến hiểu ý, sải dài bốn vó, tế lên như bay lao về phía con hươu. Tuy thân hình nhỏ nhắn, nhưng con hươu sao lại tỏ ra hết sức nhạy bén linh hoạt, thấy có người đến, liền co giò chạy. Các binh sĩ không dám bắn tên, cũng không chặn lại nổi, để mặc cho con hươu sao phá được vòng vây. Hoàn công cao hứng, thúc ngựa đuổi sát lên, con hươu sao ở phía trước cố sống cố chết mà chạy, Hoàn công ở phía sau, gắng hết sức đuổi gấp. Con hươu sao còn cách đầu ngựa không xa nữa, nhưng Hoàn công vẫn không sao bắt nổi. Cứ như thế, một trước một sau, xem chừng con hươu sao sắp chạy xuống khe núi mất. Ngựa Tề Hoàn công đang cưỡi là một con ngựa quý, lại thúc hăng như thế nên như được chắp thêm cánh bay lên, ngựa của quân lính đuổi làm sao kịp, chỉ trong nháy mắt, khoảng cách đã bị dãn xa đến mức không nhìn thấy nhau nữa.
Tề Hoàn công một mình một ngựa, đuổi theo con hươu sao, chạy một mạch theo vào mãi khe núi sâu, con hươu lách bên phải, lại luồn trên trái giữa các khe đá, mình nó nhỏ gọn lại nhanh nhẹn, nên chẳng có chỗ nào mà không qua nổi. Ngựa của Hoàn công thì không thế, đừng nghĩ rằng trên đồng bằng nó tung vó chạy như bay, mà lên núi cũng nhanh được như thế, nên đến chỗ những suối cùng khe này, đúng là anh hùng không có đất múa võ, lách trái lách phải, cuống lên hoá ra chạy quanh. Hoàn công tung mình xuống ngựa, một mình đi vào khe núi để tìm kiếm. Tìm hết chỗ này đến chỗ khác, quay đi quay lại mấy vòng rẽ mấy khúc đường cong, không thấy bóng con hươu sao đâu nữa, bản thân ông cũng lạc mất đường, đến phương hướng còn không nhận được ra.
Tề Hoàn công đã thực sự mệt mỏi quá đỗi thấy trời lại sắp tối, hơn nữa không thích đuổi hươu sao thêm, mà chỉ muốn quay về. Đang giữa lúc bối rối, thấy có một con đường nhỏ, bèn cứ theo đường ấy mà đi, thế nhưng càng đi càng vào sâu, càng vào sâu rừng càng dày, càng đi càng tối thêm. Tiếng vượn hú beo gầm lẫn tiếng sư tử rống, tiếng sói gào vang động vách núi. Cây rừng, đá núi và quái vật như đều muốn. vồ lấy khiến ông thấy sởn cả gai ốc. Giữa lúc đó, nghe gần đó có tiếng bước chân người, lần theo bước chân, thấy từ trong khe núi sâu bước ra một cụ già., tuổi tác có dễ đến ngoài tám mươi, tay chống gậy, tóc bạc trắng, nhưng thân thể lại rất quắc thước. Tề Hoàn công thấy vậy, rất lấy làm mừng rỡ, vội lên trước đón đường cụ già vái dài một cái, hỏi:
– Xin hỏi lão trượng, đây là nơi nào ạ?
Cụ già nghe hỏi ngẩng đầu lên, nhìn Hoàn công một lượt từ chân lên đến đầu, nghĩ ngợi một lát, rồi đưa tay lên vuốt râu, tủm tỉm cười đáp:
– Đây là khe núi Ngu Công!
Hoàn công bất giác ngớ người ra, mình thường đến chân núi này săn bắn, chưa bao giờ nghe nói có khe núi Ngu Công, bèn lấy làm lạ hỏi:
– Cái tên nghe lạ quá, phải chăng có lai lịch gì đây.
Cụ già chợt lạnh mặt, thở dài nói:
– Thực chẳng giấu làm gì, người gọi là Ngu Công, chính là lão đây!
Tề Hoàn công cười vang, nói:
– Nghe lão trượng nói năng trôi chảy, cử chỉ lại đàng hoàng thế sao có thể gọi là Ngu Công được ạ?
– Chuyện dài lắm, nói một câu khó hết… – Cụ già lại thở dài và kể lại cho Hoàn công nghe những chuyện không may đã đến với mình.
Tổ tiên nhà lão vốn sống ở khe núi này, cuộc sống cũng có thể gọi là an nhàn. Mấy năm gần đây, trong nhà có nuôi được con bò cái, cuối năm nó sinh được một con bê, lão ra công săn sóc, con bê lớn rất mau và khoẻ. Một hôm, lão mang con bê xuống chợ bán, mua về một con ngựa con, trên đường về, đột nhiên bị một gã to khoẻ chặn ngang đường, hắn hằm hằm hỏi lão, con bò cái và con ngựa này ở đâu ra, lão nói rằng: “Bò cái và ngựa con đều là của tôi!”. Thằng cha ấy trợn mắt, lên bảo: “Nói láo, bò cái làm sao đẻ được ra ngựa con! Con ngựa này rõ ràng là ngươi ăn trộm của nhà ta!”. Không để lão nói gì thêm, hắn giật lấy con ngựa con và đi mất. Chuyện đồn đại đi, xóm giềng đều cười lão là lão ngu, lan truyền đi mãi, mọi người bèn gọi lão là Ngu Công – là ông ngu; lại do lão sống ở khe núi này lâu rồi, nên người ta cũng gọi khe núi này là khe Ngu Công và quả núi này là núi Ngu Công.
Cụ già kể xong câu chuyện bỗng dưng rơi nước mắt. Thấy cụ già có vẻ đáng thương, Tề Hoàn công cũng không hỏi gì thêm nữa, bèn hỏi cụ đường ra khỏi đó. Cụ già đã chỉ vào một con đường nhỏ cạnh đó, còn mình lại vẫn đi theo đường cũ.
Theo đường cụ già chỉ, Hoàn công đi một quãng chưa xa lắm, liền nghe thấy tiếng người hô ngựa hý, thì ra binh sĩ của mình đang tìm đến, lại thấy chiến mã ở gần nơi đó. Thấy trời đã sắp tối, Tề Hoàn công bay lên mình ngựa, mang theo vật săn, trở về kinh đô Lâm Tri.
Vào buổi chầu sáng hôm sau, trước mặt các đại thần văn võ, Tề Hoàn công đã kề lại việc lạc đường ở Đỗ Sơn và gặp Ngu công cho mọi người nghe như một câu chuyện vui. Các vị đại thần cười ngả cười nghiêng, mồm năm miệng mười bàn tán xôn xao, nói ông già đó quả. thực là ngu. Riêng tướng quốc Quản Trọng nghe xong câu chuyện, liền quỳ đánh “thụp” xuống đất, nói: “Thưa chúa công! Tội thần thật đáng chết ngàn lần ạ!”.
Điền Thư không kể tiếp nữa, mà quay sang hỏi Điền Vũ:
– Điền Vũ! Cháu có thể nói ra được rằng Quản Trọng đã mắc tội gì không?
Điền Vũ chớp chớp mắt rồi hơi chau mày ra chiều suy nghĩ, sau đó nói:
– Cháu nghĩ thời Nghiêu Thuấn, đất nước yên hàn, trăm họ an cư lạc nghiệp vì có Cao Du làm đại lý,[2] nhà nước có những chính lệnh nghiêm khắc, cho nên kẻ mạnh dám cướp ngựa của ông già, Quản Trọng là một vị tướng quốc đương nhiên là phải chịu trách nhiệm và mang tội!…
Đây đâu còn là lời lẽ của một đứa trẻ nữa, rõ ràng đây là đầu óc và sự nhìn nhận của một chính trị gia.
Hai ông cháu chơi ở núi Ngu Công mãi cho đến lúc mặt trời gác non tây, mà Điền Vũ vẫn còn chưa muốn về, cho đến khi ông nội hứa với cậu sắp tới đây sẽ đưa cậu đi thăm Dịch Sơn, lên Thái Sơn nữa, lúc bấy giờ Điền Vũ mới lưu luyến bịn rịn theo ông xuống núi.
Dịch Sơn hùng vĩ đứng ở phía sau kinh đô của nước Trâu, cũng có nghĩa là kinh đô của nước Trâu đã nằm tựa vào lòng Dịch Sơn. Vì trong núi có nhiều tảng đá kỳ lạ nằm kề nối bên nhau kéo dài một dãy, liên dịch nhau, lấy chữ cùng âm nên gọi là Dịch Sơn, còn có tên nữa gọi là Đông Sơn. Tương truyền ở thời viễn cổ, Nữ Oa luyện đá thành viên, mang sức thần đi vá trời, vá kín trời rồi đi, bỏ lại hàng đống đá lổng chổng, nguy hại cho trần gian. Sau khi Ngọc hoàng Thượng đế nghe tin, đã sai sáu vị thần tiên, mang hàng trăm hàng ngàn những viên đá đó dồn vào một chỗ, xếp lên thành Dịch Sơn. Bởi vậy ở đây đá tảng đá hòn xếp quanh trùng điệp chất chồng, xưa nay vẫn mang tiếng là “kỳ quan của núi Đại”.
Dịch Sơn, cao 555 mét so với mặt nước biển, chu vi khoảng mười cây số.
Điền Thư cùng với cháu ven theo những bậc đá quanh co mà lên, tất cả có tới bốn mươi ba vòng ước chừng độ tám dặm. Bắt đầu leo từ hòn Tử Tôn, rồi đến hòn Kiều Mạch, hòn Da Báo, hòn Tả Quy, hòn Cái Giành… nối nhau đứng sừng sững. Qua đỉnh Hồi Mã, cầu Tụ Tiên đến Nam Thiên môn, bên cạnh đó có một vách đứng cao đến mấy trượng, trên có viết hai dòng tám chữ lớn “Linh thông Thái Đại”, “Diễn Đại chung linh” nét chữ đậm đà, sức bút mạnh mẽ. Bệ đá, bàn thờ đá, bia đá xây dựng lên khắp nơi ven triền núi nhìn xuống xa muôn dặm. Phía đông Nam Thiên môn có thuyền đá phía tây có sạn đạo, xuống dưới sát vực sâu, bên trên áp vào vách đứng.
Qua Nam Thiên môn rồi lại đi thẳng lên, lại là một cảnh trí khác hẳn, mỏm treo, vách đứng, đá nhô rạ, kiểu gì cũng có, cây lá chen dày cảnh sắc, mê người. Hòn Thử kiếm xé đất mà lên, cao hơn một trượng, rộng và dày không quá ba thước, mà cũng có một vết nứt ở giữa hình như là bị kiếm chém, trông rất thú vị. Hòn Bát Phong là do tám hòn đá lớn quay nhau lại một vòng, tương truyền đây là nơi Phục Hy bày bát quái. Đá hòn, đá cuội xếp kề hòn nọ với hòn kia như đấu nhau, như tránh nhau, nhấp nhô một dải. Dưới lớp đá hòn đá tảng, hình thành vô vàn hang động tự nhiên, hang này nối với động kia, thành lỗ, thành vòm, nên gọi là “Dịch Khổng”. Trong núi có tới ba mươi ba hang động có tiếng, khi gặp gió đông bắc thổi, nước ở các hang động cùng dâng lên, đúng là một kỳ quan trong thiên hạ…
Theo những bậc đá đường vòng tiếp tục đi lên là đến động Bạch Vân. Hai ông cháu đứng trước cửa động, trông tựa như người bay trên mây và trong người có một cảm giác lâng lâng. Mây trắng ở trong động ra, bện ngoài thì mây trắng phủ, trong ngoài đều là mây trắng, không biết là sâu đến đâu. Trong động có suối, có giếng, có đầm; tục truyền là nơi này thông với biển Đông, cho nên còn gọi là “mắt biển”, bởi vậy có ngàn người uống cũng không cạn. Chui ra khỏi động, nhìn về phía bắc là hòn Tư Thân, là suối Chầu trời là đài Phi Thăng, đài Xá thân, những nghe cũng đủ ghê người… Đứng sừng sững ở trước cửa động, ngẩng mắt lên nhìn tột đỉnh của Dịch Sơn, có năm tảng đá như kề vai nhau, hình như một đóa phù dung, lại giống như nàng tiên vừa đi tắm ở “ao trời” về, cho nên mới gọi là đỉnh “ngũ hoa”, vượt lên trăng gió,.chĩa thẳng lên trời xanh.
Trên đỉnh Ngũ Hoa, lởm chởm đủ thứ đá, nhô lên như người đẽo, mà đường leo lên thường lại nằm dưới nhưng hòn đá tảng đá cuội, ngoắt ngoéo hàng trăm chỗ, người phải cúi lưng co ro mà bước, lúc sáng lúc tối như vào mê cung. Lên đến đỉnh. của đỉnh Ngũ Hoa, chân dẫm lên “bàn cờ tiên”, đầu đội trời xanh, tay với vào mây trắng, bỗng thấy lòng mình thảnh thơi như vừa trút được gánh nặng.
Quanh đỉnh Ngũ Hoa có động Cư Long, có đá đai xe, có hòn Thăm Biển và một loạt các di tích nổi tiếng và đẹp đẽ. Hòn Thăm Biển trên nhọn dưới dày như người nghển cổ trông ra biển, phía dưới sát với vực thẳm, đối lập với tấm bình phong cao hàng chục trượng, thế của nó rất hiểm, khiến người ta mới nhìn đã thấy hồn bay phách lạc. Những ngày trời trong, đứng ở hòn đá này, có thể thấp thoáng nhìn thấy biển.
Đường leo lên núi, những cảnh đẹp, những thắng tích nhìn mỏi mắt không xuể, đường xuống núi, đâu đâu cung là cổ tích danh lam. Từ đỉnh Ngữ Hoa đi về phía đông đến hẻm Lô Châu, dọc đường là một loạt danh thắng như vách núi Trường Lang, như hòn Đeo Dây, như hòn Cái Mũ, như Lán Tiên, như hang Trống Đá, Đầm Sen, ao Cá Vàng, động Tiên ẩn, vv…
Điền Thư dẫn cháu leo lên đỉnh cao, không phải chỉ có ngắm non ngắm nước, mà mục đích chính là để mở rộng tầm nhìn, hun đúc tính tình, bồi dưỡng chí hướng, xem xét tài bố trí, rèn luyện ý chí, tăng thêm hiểu biết và tài cán cho cháu mình. Con người là một đứa con được chiều chuộng và hay uốn éo của thiên nhiên, chỉ có sà vào lòng thiên nhiên, hoà mình vào sông núi của thiên nhiên, con người mới trở nên trong sạch, thánh thiện, không nhuốm bụi trần, trở lại với linh hồn thánh thiện của con người trong thiên nhiên. Ông cháu Điền Thư leo núi, theo cách nói của ông là đi chơi, nhưng thực ra phải nói đây là một hoạt động học tập lấy núi thẳm non cao làm lớp học, dùng cảnh quan tự nhiên để giảng bài, thắng cảnh danh lam làm giáo cụ, hình tượng thật là sinh động, ý nghĩa thật dồi dào.
Vì mục đích đã rõ ràng như thế, cho nên lúc thăm xem đều có trọng điểm trọng tâm, hoặc bằng cách chỉ vẽ hoặc bằng cách giảng giải, hoặc là nêu ra câu hỏi, đều nhằm có sự gợi mở cho Điền Vũ.
Hòn Hổ Gầm như một đàn mãnh hổ, hùng cứ ở hang sâu rừng thẳm, chiếm núi làm vua, xưng bá với đời, ngửa mặt lên trời mà gầm, lay động núi rừng, cành rơi lá rụng. Điền Thư đã chỉ cho cháu mình thật cặn kẽ, để ngay từ bé nó đã hình thành ý nghĩ cao cả và nuôi chí lớn, mai sau sẽ có oai, có thế như hổ, hùng cứ trong thiên hạ.
Một con cừu non trắng muốt nằm phục ở lối đi, ngẩng đầu giương mắt để chờ mẹ cho bú, đó là hòn Cừu Sữa. Đất đá còn biết hiếu, con người sao có thể không kính trọng cha mẹ.
Một dòng khe sâu ở dưới chân, lạnh lẽo, âm u, khiến người ta mới nhìn đã sợ. Tương truyền xưa kia Phục Hy và Nữ Oa đã xuống tắm ở đây rồi sinh ra loài người nên dòng khe này mới gọi là khe Cha Mẹ. Phục Hy và Nữ Oa là anh em ruột, anh em lấy nhau luân lý vốn không cho phép, vậy mà Phục Hy và Nữ Oa lại được muôn ngàn đời sau kính nể, vì nếu không có sự loạn luân đó của họ, thì đã chẳng có xã hội loài người bây giờ, họ là thuỷ tổ của loài người. Từ đó mà thấy rằng phải hay trái, thẳng hay cong đều phải lấy sự có lợi cho loài người làm chuẩn mực.
Núi Bạch Hạc sóng nước lăn tăn, muôn ngàn đời nay đều ngọt ngào. Gặp lúc nắng bỏng mới hay nước suối là quý, xách một thùng nước tưới vào vùng nóng cháy. Việc trên đời, lấy điều mưu phúc lợi cho dân là quý.
Cây tùng đón khách mọc trên vách núi, nhô thân ra như vẫy gọi, xanh mượt xanh mà, mừng đón du khách từ muôn nơi rồi lại đưa tay bạn bè khắp chốn, nên tuy mình ở chốn rừng sâu, nhưng bên tai luôn luôn hoà theo tiếng cười. Thêm một người bạn, bớt đi một ít trống vắng; tăng một chút cảm tình, bớt đi một chút lạnh nhạt, thêm lên một trái tim yêu, bớt đi một kẻ gây oán, mở thêm ra được một con đường. Kết bạn rộng rãi trong thiên hạ, coi bốn biển đều là anh em, thì con đường ấy sẽ thông khắp mọi nơi, đời sống sẽ mọi điều như ý.
Đỉnh Đài Sen, như từ đất vọt lên, hình dáng như một đoá phù dung lên mặt nước, núi tạo thành đầm trời cho nước, đài hoa đứng thẳng đường hoàng, mãi giữ vẻ thanh tao chính khí. “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”, đó là đặc chất của hoa sen, nó là mẫu mực để làm người.
Trên đỉnh Dịch Sơn có một ao nước trong, gọi là mắt của Dịch Sơn, nước trong như lọc, mây trắng trời xanh như thu vào đáy mắt, in bóng lên mặt ao. Thế là núi cao bao nhiêu nước cao bấy nhiêu, không sợ núi cao, không e dè đá cứng.
Dưới trời xanh, trên đá cứng, một cây thông già cắm rễ sâu vào sỏi cằn và đá cứng, vẫn ngạo nghễ vươn lên, thẫm xanh biêng biếc. Không có đất màu, không ai tưới, không ai bón phân, có chăng chỉ là khô hạn, là nắng cháy là lạnh giá và sương sa là băng tuyết, thế nhưng nó vẫn kiêu hãnh vươn mình, vượt lên tất cả đó là điều chí cốt và phẩm cách gì vậy?
Thời thượng cổ, Đế Tuấn dung túng cho con làm việc ác, mười mặt trời cùng mọc ra, đốt lửa lên mặt đất, lúa mạ cháy, cây cỏ khô, trăm họ như nung như nấu. Hậu Nghệ anh hùng đã dũng cảm bước ra, không sợ dâm úy của Đế Tuấn, giương cung lắp tên; bắn rơi chín mặt trời, trong đó có một mặt trời rơi xuống Dịch Sơn hình thành nên hòn Mặt Trời. Điền Thư dạy cháu nên coi Hậu Nghệ là tấm gương sáng, không sợ cường bạo, trừ hại cho dân, cứu dân ra khỏi vòng đau khổ.
Trong hang mẹ con, có hòn Mẹ con; hòn Mẹ hiền, hòn Con thơ tập đi, hòn Côn Trọng, hòn Hoa thạch chị em, hòn Vợ chồng, vv… đều là những tài liệu rất tốt để Điền Thư giáo dục về luân thường cho cháu mình: Mẹ con tình sâu, bạn của anh thì em phải kính, chị em cùng một cành, vợ chồng yêu thương nhau, vv… Một gia đình hạnh phúc đầy đủ là một tấm gương phản ánh bộ mặt của cả một xã hội, bởi gia đình là một tế bào trong xã hội, là một xã hội thu nhỏ lại. Chẳng những thế, gia đình còn là nơi sống của mỗi thành viên trong xã hội, là cái nôi vỗ về cho anh hùng hào kiệt lớn lên. Bởi vậy cần có sự cố gắng chung của toàn xã hội, chớ có lơ đễnh hoặc coi nhẹ.
Cầu Tiên là ba tảng đá lớn xếp gần với nhau ghép chặt lấy nhau, bao bọc lấy nhau thành hình một cây cầu, phía dưới giáp với khe núi sâu vạn trượng, mây mờ bao che, âm u đáng sợ, khiến người ta chỉ nhìn qua đã chờn, không gan dạ không ai dám bước lên phía trước. Vậy mà Điền Thư với tuổi đã gần cổ lai hy lại có thể dắt cháu đi đi lại lại trên cầu để bồi dưỡng cho cháu tinh thần dũng cảm không biết sợ. Sự thực tất nhiên không giống như thần thoại, bước qua cầu bỗng trở nên quỳnh giao tươi đẹp. Tuy nhiên, việc đời không phải người gan dạ và ý chí kiên cường thì không thể đến được bờ bên kia của lý tưởng.
Hai tảng đá to đối đầu nhau giống như hai con dế đang rung cánh giãn giò gầm ghè nhau muốn quyết một phen sống mái. Đừng trách con dế có tính hiếu chiến, vạn vật trên đời trong đó có cả con người, không giờ khắc nào là không đang tranh đấu, kẻ thắng thì còn kẻ bại thì mất, đó là lẽ muôn đời. Cây cỏ chim muông đã như thế, huống chi là con người vốn đứng đầu mọi sinh linh? Một con người, một dân tộc, một giai cấp, một quốc gia, không chuẩn bị tốt cho một cuộc vật lộn, thì chờ đợi họ chỉ là sự diệt vong.
Hòn Miệng hổ, hai tai dỏng lên, cái miệng há ra. nuốt mây nhả sương, oai nhất trên đời. Điền Thư đã dắt cháu xông vào miệng hổ, nhổ răng hổ, khoái chí không gì bằng.
Thang trời, tự trên cao dóng xuống, sương mây vờn quanh, theo gió vờn bay, càng thêm vẻ anh hùng ngạo mạn, kẻ yếu hèn sẽ chùn bước, nhưng ông cháu Điền Thư một già một trẻ, bám đu mà lên, qua bao hiểm trở, cuối cùng đã lên đến đỉnh.
Tất cả những cái đó, đều nhằm bồi dưỡng cho Điền Vũ tinh thần không run sợ, không chùn bước, xây dựng ý chí, hun đúc lòng kiên nhẫn rèn luyện sức chịu đựng, mài sắc thêm quyết tâm.
Hòn Trụ chống trời, không sợ trời sập, trời sập đã có cột đỡ. Hòn Anh hùng độc lập, không sợ gì sấm chớp, ngàn cân lôi đình cũng hiên ngang vững vàng, không hề lay động. Hòn Cá kình nuốt mặt trời, nuốt cả trời đất mà vẫn thấy như bụng rỗng không… Đó chính là đòi hỏi của ông nội với Điền Vũ, và cũng là mẫu mực để Điền Vũ nhào nặn mình.
Leo lên Dịch Sơn, đã bồi dưỡng cho Điền Vũ hứng thú leo núi rất nồng đậm, cậu cảm thấy như ở đó mỗi một đỉnh non tảng đá, mỗi lá cỏ nhành cây, mỗi một hang một động… đều có một tình cảm sâu nồng, nó đã khêu gợi cho con người, nêu ra cho con người những triết lý nó là thầy, là bạn của con người. Cậu nóng nảy như có lửa đốt, nằng nặc đòi ông cho đi thăm Thái Sơn.
Thái Sơn, với cái thế xé đất chọc trời, sừng sững đứng ở phía đông vùng Hoa Hạ, với cái tên đẹp là độc tôn trong ngũ nhạc mà nổi tiếng xưa nay. Nó nằm ở mé đông vùng trung nguyên, ở giữa nước Tề và nước Lỗ, đông giáp Hoàng Hải, tây có Hoàng Hà hùng vĩ tráng lệ, khí thế bao la, phong cảnh tuyệt vời, là núi thần của Hoa Hạ, là tổ tông của thiên hạ, “cao, lớn, đặc biệt, tráng lệ, hiển hách, nể sợ, huyền hoặc”… là đặc sắc của nó.
Mặt chính của Thái Sơn, có ba hẻm núi là ở giữa, bên đông và bên tây, hình thành con đường tự nhiên để leo núi. Con đường ở hẻm núi giữa, là đường chính để lên núi từ phía đông. Điền Thư dắt cháu đi theo đường ấy bậc đá xoáy hình trôn ốc, đường hẹp âm u, gặp đỉnh núi đá lại phải đổi hướng, khe sâu suối dài, phong cảnh trong sáng tươi đẹp, văn vật cổ tích cũng nhiều. Mới leo núi, đường đĩ còn rộng với đặc sắc là cảnh quan do con người tạo nên. Từ Trung thiên môn trở lên, hẻm núi hẹp lại, thế núi cheo leo với cảnh quan tự nhiên là chính.
Suối Bạch hạc, từng đàn hạc trắng lượn quanh rồi đậu xuống, nước suối phun ào ào tuôn chảy đi ngàn dặm. Trong động Người tiên có người tiên ở, mang hạnh phúc và may mắn cho đời, ở đây gió mát và không khí thoáng đãng. Hồi mã lĩnh là nơi xuống ngựa dừng cương, rời yên ngựa mà leo lên núi. Cầu lên trời, phía dưới tới gần vực thẳm. Khu chim ưng, tảng đá to trông tựa chim ưng. Dạ ngọc tuyền là suối có nước uống chữa khỏi bá bệnh. Hòn Giao long vân đá như rồng. Trảm vân kiếm, như lưỡi kiếm chém mây làm mưa. Cầu Vân bộ, thế núi hiểm trở, thác gieo như bay, mây mờ bao phủ kín, người đi trên cầu, như bước vào cảnh tiên. Động Nghênh dương, trong động sương đọng như hạt châu treo, nếu lấy vật gì mà hứng được thì gọi là “thạch nhũ” vừa trong vừa ngọt, có thể giải khát và chống đói; phía bắc động Nghênh dương, hai đỉnh núi đối diện nhau, hàng vạn cây thông mọc đối nhau cho nên mới gọi là núi “Đối tùng”. Ở đây thông già trùng trùng điệp điệp bóng che mặt trời, thông reo vi vu bên tai không dứt. Gió núi vừa thổi, thông reo lên như tiếng sóng, như tiếng nước vỗ bờ. Nam thiên môn thì như lầu các trên trời, giữa các đỉnh núi là mây mờ bảng lảng, Nam thiên môn thấp thoáng ẩn hiện trong sương mờ, thác mây như ngân hà tuôn xuống, thiên nhiên tạo thành những bậc thang, dõi bước lên trời đầy những tình thơ ý hoạ! Leo thang mây, việc khó khi leo lên Nam thiên môn, đúng như về sau từng có người đã tả: “Ngẩng nhìn Thiên môn, vời vợi như ở hố sâu nhìn trời. Đi thẳng lên bảy dặm, ngán vì lối nhỏ quanh co gọi là hoàn đạo, thường có dây thừng, có thể cầm lấy mà leo lên. Hai bên có người đỡ, người đi trước kéo lên, người sau nhìn thấy đế giày người trước, người trước chỉ thấy đầu người đi sau, như vẽ xanh chồng người vậy. Gọi là đá áp ngực, là nỗi khó để mó tay thấy trời. Mới lên đường này, bước hơn chục bước, nghỉ một dạo. Hơi mệt, môi khô cháy, năm sáu bước nghỉ một dạo. Nhích lên lại dừng, đất không tránh được chỗ ướt chỗ tối, phía trước có chỗ khô ráo, mắt nhìn thấy mà chân không chịu nghe theo…”
Tuy nhiên, sau khi đã leo lên đến Nam thiên môn, mây trắng sẽ lau sạch mồ hôi cho ta, gió núi sẽ làm mát lòng và hết nỗi ưu phiền, mắt ta tràn ngập màu xanh, mệt mỏi sẽ tiêu tán hết. Kỳ quan trên. đỉnh non Thái quả là nhiều, chẳng hạn như đỉnh Vòi voi, đỉnh Phố trời, động Bạch Vân, đỉnh Màn che, đỉnh Đá treo, vách Đầu hổ, đỉnh Đại Quan, đỉnh Trụ trời, đỉnh Nhật quan, đỉnh Nguyệt quan, hòn Thăm biển, vách Xả thân, đỉnh Trượng nhân, vv… nhưng cảnh khiến người ta mê mải là khi mặt trời từ từ nhô lên ở phương đông, khi biển mây lặng xuống như mâm ngọc, khi ráng chiều rực rỡ, khi Hoàng hà ánh lên như chiếc đai vàng và khi mặt trời lọc qua mây ngời lên ánh ngọc.
Hai ông cháu đã ăn ngủ ngoài trời ngay trên đỉnh cao nhất của Thái Sơn. Mờ sáng hôm sau, khí trời trong sáng, đứng trên đỉnh Nhật quang mà đưa mắt nhìn về phương đông, suối khe thu hết trong tầm mắt, núi non lần lượt phơi bày, một giải mây sớm từ màu xám đen biến thành màu vàng nhạt, rồi từ vàng nhạt biến sang màu đỏ cam, tiếp đó trên những giải mây đỏ tía xen nhau, trong nháy mắt đã thay đổi sang màu khác. Những đám mây có chỗ như phượng hoàng sải cánh, có chỗ như chim công xoè đuôi… Rồi chợt thấy những áng mây trên trời hoà với biển mây mênh mông ở chân trời làm một, như một bức vẽ cực lớn từ trên trời giáng xuống. Sương mây và ráng màu phản chiếu vào nhau, lấp lánh lên ánh sáng của sương mai và khí trời buổi sáng. Trên mặt biển ánh phù quang dát vàng, vầng mặt trời đã hé màn mây, kéo tấm rèm với những giải ráng màu, choàng lên mình xiêm áo đủ mọi màu rồi như một chiếc đèn lồng đung đưa, từ từ lên cao, rực rỡ như một chiếc cầu vồng, thấp thoáng vươn lên từ mặt biển, như ngập ngừng muốn lên lại thôi, phảng phất như có hai mặt trời cùng được nâng lên từ mặt biển. Trong chốc lát, ánh vàng toả muôn nơi, tắm nắng lên các đỉnh núi.
Khí hậu trên Thái Sơn chỉ trong nháy mắt mà biến đổi khôn lường, vừa mới là cảnh khí trời mát mẻ, rực rỡ mặt trời, bỗng nhiên một trận cuồng phong ập tới, mây trắng và sương mờ bao phủ khắp các đỉnh cao khe sâu ở phía tây, trong khi ở mé đông, mặt trời lại đang chiếu xuống le lói. Hai ông cháu Điền Thư đã thấm mệt, quay về hướng tây, mong tìm thấy một quán trọ để nghỉ chân hay chỉ là một hốc núi khuất gió và có ánh mặt trời là được. Ông cầm tay cháu vất vả bước từng bước, đang đi, bỗng nghe tiếng người reo lên: “Ôi! Ráng hào quang!”. Ông cháu ngẩng lên nhìn. Ôi! Một vầng ánh sáng năm màu rực rỡ xuất hiện ngay trước mặt, giải màu ở bên lề vầng ánh sáng lớn đó trùm lên đỉnh Sư tử, giải màu hiện lên đủ bảy sắc, đỏ, da cam, vàng, lục, xanh, lam, tím… vô cùng rực rỡ, vành vảy tê tê màu đỏ ở ngoài cùng như một chiếc vòng đeo tai lấp la lấp lánh. Trong cái vòng ánh sáng rất lớn đó có một trẻ một già, dắt tay nhau bước, đó là bóng hình của hai ông cháu Điền Thư. Điền Vũ quên ngay mệt mỏi, xúc động đến mức khoa chân múa tay, hình bóng cậu trong cái quầng sáng kia cũng nhảy múa lên và vẫy tay, mây trắng trôi bồng bềnh, sương dăng mênh mông, vầng sáng lúc ẩn lúc hiện, lúc mờ lúc nhạt, lớn lên rồi lại nhỏ đi, biến đổi liên tục. Điền Vũ say sưa đứng ngắm quầng sáng đó, ánh mắt đưa theo sự di chuyển, biến động của nó. Một lúc, quầng sáng ấy xuất hiện ở phía trên động Bạch Vân trước đỉnh núi Vòi voi những người leo núi tụ tập lại mỗi lúc một đông, ngay cả những du khách vừa chân ướt chân ráo mới leo lên Nam thiên môn, cũng không nghĩ đến nghỉ ngơi, ùa tới như một cơn lũ…
Cảnh đẹp ở Thái Sơn như một trời sao lấp lánh; khiến người xem không chán mắt, những chỗ như Hậu thạch ân, Tây lộ, Đại lệ, vv… cũng đều có những danh lam khiến người ta say mê. Tuy nhiên, mệt mỏi, như một sợi dây trói chặt ông cháu Điền Vũ lại, làm không cựa quậy được nữa, muốn xuống núi lúc này cũng thấy khó khăn; vì ông cháu họ người già thì đã quá già, trẻ thì lại còn quá trẻ. Hai ông cháu đành co ro ở một cái quán trọ xềnh xoàng và nhỏ hẹp ở nơi rừng rú, ngủ một giấc đẫy một ngày. Buổi chiều hôm ấy, mưa một trận rất to, sau đó trời lại trở nên trong sáng. Hai ông cháu không để ý gì những chuyện đó, mãi cho đến lúc gần tối, bụng đói cồn cào, buộc họ phải trở dậy ăn uống một chút. Cơm no rượu đủ rồi, lại thấy tinh thần phấn chấn, toàn thân thấy nhẹ nhàng, bao nhiêu mệt mỏi đều tan biến hết, hai ông cháu lại bạo dạn bước ra bên ngoài quán trọ. Mưa xong, trời cao mây lành, núi non và bầu trời trong vắt như vừa rửa sạch. Mặt trời đã khuất non tây, nhìn về phía đó, những đám mây đùn lên như luỹ như thành, như đỉnh núi cao, những tia sáng xuyên mây, xuyên sương hắt xuống trần gian. Dưới ánh chiều phản chiếu, bên trên những đụn mây đều viền một lớp vàng lấp láy luôn luôn toả ra những ánh quang như trên châu báu. Những đám mây đó hoặc vàng, trắng, đen, lam hoặc hồng, hoặc tía; đúng là đủ cả năm màu, kỳ diệu khôn lường, tay thần nữ cũng khó dệt nên, chỉ giành công riêng cho tạo hoá. Sau một cơn gió núi, biển mây tràn ra mênh mang, những tia sáng đầy trời tất cả đều chiếu lên “biển lớn” đó, cảnh sắc tráng lệ càng khiến con người đắm say. Phóng tầm mắt về đằng tây bắc, nơi ngút ngàn của những đỉnh núi xa, Hoàng Hà như một dải lụa vàng lấp lánh, sóng gợn lăn tăn, ngời lên như vẩy lạc, từ tây nam đến đông. bắc, kéo dài mãi đến tận chân trời. Ánh chiều khuất sau mây, những lưỡi trai viền trên đỉnh các đụn mây cũng tiêu tan hết, ráng chiều chỉ còn là một vầng nây đỏ. Phía chân trời, mây núi như đều đang rực cháy, những suối khe giữa các đỉnh núi cao, cùng với sông hồ cũng ngời lên sắc đỏ, ánh lên những sắc hoàng hôn rực rỡ. Núi sông yêu kiều đến thế. Trời đất càng thêm hoành tráng nguy nga.
Cũng như mọi vấn đề hiểu biết và học vấn, Điền Vũ y như một đứa trẻ tham lam và ương bướng, nên với việc leo núi ngắm cảnh cậu vô cùng thích thú. Cậu ngắm chưa đã cảnh lạ lùng và hùng vĩ khi mặt trời mọc, nên giờ Dần ngày hôm sau, lại nài nỉ ông nội đưa cậu leo lên đỉnh Nhật Quan. Tuy nhiên, hôm nay lại chẳng giống hôm qua, biển mây ùn ùn, biến hoá khôn lường, lúc thì mây trắng cuồn cuộn, như sóng nổi tuyết rơi; lúc thì mây đen vần vụ, như dáng muốn lấp sông cạn biển; lúc thì mây kéo lấp thung khe, như biển mênh mông không bờ bến, mà nhưng đỉnh non kia là những đảo tiên trong đó; lúc thì mây trắng vờn quanh núi, giống như một chiếc đai ngọc thắt ngang lưng những người quyền quý. Đứng trên đỉnh non Thái, cúi nhìn hạ giới, thấy có lúc từng đám mây trắng lại tan biến vào những đám mây đen cuồn cuộn, trở thành biển lớn luôn ỳ ầm réo sôi. Gió nổi mây bay, bồng bềnh lên xuống, có đám thì bay lên, có đám thì bị trôi nổi, có đám tung tăng đây đó; chợt chỉ trong chốc lát, hoặc biến thành những bông sen trắng, hoặc như tuyết dồn thành đống, hoặc như thú dữ vờn nhau, hoặc như hai bên quân giao chiến, hoặc như đàn ngựa phi nhanh…
Tuy chưa nhìn thấy mặt trời lên, nhưng Điền Vũ cũng thấy hể hả trong lòng bởi biển mây đó có một khí thế và một niềm hứng thú đặc biệt, cũng huy hoàng không kém gì cảnh mặt trời lên.
Trên đường về, Điền Vũ đã nói với ông nội những cảm tưởng và điều thu lượm được qua việc đi xem núi mấy hôm nay. Thứ nhất là lên cao mới có thể nhìn xa, người sống trên đời phải không ngừng leo lên những đỉnh cao. Thứ hai là những cảnh tươi đẹp, những kỳ quan trên đời, đều ở những nơi khó khăn hiểm trở, chỉ những ai không sợ gian nan hiểm trở, mới là người được ngắm thoả thê.
Những lời nói mới chuẩn xác làm sao, sâu sắc làm sao! Nghe xong những lời đó, Điền Thư cười rất cởi mở, cười rất thoải mái, cười rất ngọt ngào…
❀ ❀ ❀
[1] Nay ở góc tây nam thôn Hoàn Đài, xã Hoa Quan, cách huyện Quảng Nhiêu hai mươi lăm dặm về phía đông bắc.
[2] Tức là quan tư pháp.