Đang giữa lúc Tôn Vũ cùng đường nghẽn lối, loay hoay không biết tính sao, thì đàn chim đêm vươn cổ gọi bầy bay về phương nam, đã gợi lên cho chàng một ý tưởng, và ngay sau đó, Tôn Vũ đã dứt khoát quyết định sang nước Ngô. Đi khảo sát những chiến trường thời xưa, chàng đã có dịp đến vùng Thái Hồ. Bờ đông Thái Hồ có núi Khung Long đồ sộ, rừng thẳm non cao, cách biệt hẳn với thế giới bên ngoài, lại thêm có Thái Hồ mênh mông cách trở, nên càng khiến nó trở nên miền đất thánh cho người ở ẩn. Tôn Vũ nghĩ rằng sống ẩn dật vào vùng núi sâu Khung Long, rồi sẽ làm như thầy Vương Hử ngày nào, trồng lấy lúa ngô, chăm bón rau màu, chăn nuôi gia súc, săn bắn muông thú, tìm hái cây thuốc, tự làm lấy mà ăn, không bon chen với đời, khi nhàn tản vô tư, thì sửa chữa mười ba bài “binh pháp”, mong sao cho nó được hoàn thiện hơn, mỹ mãn hơn. Xác định như thế rồi, Tôn Vũ thấy lòng nhẹ nhàng thoải mái hơn nhiều, những âu lo phiền muộn mấy tháng nay, như những áng mây che đầy trời, tan bay đi theo gió và chăm chú vào một việc là đi đường – Đương nhiên, những khi lòng lắng xuống, chàng vẫn thấy tim mình đôi lúc lại đau nhói từng cơn, bởi vì ở kinh thành Lâm Tri là nơi còn có cha mẹ chàng, ông nội của chàng với bao người thân đang ở đó, họ sẽ phải đứng trước biết bao nhiêu kết cục bi thảm và những hậu quả đớn đau đáng sợ…
Kỳ thực thì kẻ dưới người trên, rặt chỉ là anh ngố lo sợ hão, Yến Anh chẳng những không hề trị tội Tôn Bằng, mà cũng chẳng truy cứu gì thêm đối với Cao Chiêu Tử, đúng như người ta thường nói lòng dạ tể tướng rộng như lòng sông! Ngược lại, việc Tôn Vũ ra đi còn làm cho Yến Anh cảm thấy đau lòng xót ruột, từng thương tâm nhỏ lệ bởi nước Tề mất đi một nhân tài cỡ rường cột quốc gia…
Vùng hạ lưu của Trường Giang là đất thuộc nước Ngô nước Sở, không hề u tĩnh, an nhàn, tươi đẹp như Tôn Vũ đã từng tưởng tượng, mà cũng giống như ở Trung Nguyên, gió thổi tanh nồng, máu dội như mưa thấm đất, khắp nơi là âm mưu, tội ác, là tàn sát lẫn nhau.
Đang giữa lúc hai nước Tần, Tấn bên đánh đi, bên đánh lại, không lúc nào ngưng nghỉ, nước Sở ở phía nam dần dần trở nên hùng mạnh, quyết chí giành ngôi bá chủ với các nước trung nguyên.
Bắt đầu từ thời Thành Vương, nước Sở đã là nước lớn ở phía Nam. Vì muốn cướp ngôi vua, con trai cả của Thành Vương là Thương Thần, đã sai người tâm phúc của mình giết Thành Vương đi, tự lập nên vương triều, xưng là Sở Mục Vương. Sở Mục Vương đã thôn tính mấy nước nhỏ khác, cương vực của nước Sở nhờ đó lại rộng thêm chút nữa. Năm 613 trước CN, Sở Mục Vương ốm chết, con trai ông ta nối ngôi, đó là Sở Trang Vương, một trong “ngũ bá”. Khi mới lên ngôi, Sở Trang Vương ham mê tửu sắc, ba năm không màng đến triều chính, sau này qua sự khuyên ngăn của các đại phu Thân Nguyên Vị và Tô Tòng, mới bắt đầu tu tỉnh lại, kính nể người hiền và quan tâm đến kẻ sĩ, biết nhìn người giao việc, trừng trị quân gian nịnh, chế định ra pháp lệnh, chấn chỉnh lại binh mã, trên dưới một lòng, vua tôi hoà hợp, tình thế đất nước nhanh chóng trở nên hùng mạnh. Năm 608 trước CN, đem quân đi đánh thắng nước Tống. Năm 606 trước CN, lại đánh thắng tộc người Nhung ở Lục Hồn;[1] năm 589 trước CN, đấy quân đánh nước Trần, Trần phải hàng Sở; năm 597 trước CN, nước Sở, nước Tấn đánh nhau to ở đất Tất,[2] quân Tấn thất bại thảm hại. Ngựa của Sở Trang Vương uống nước Hoàng Hà, quân Sở đóng một bên bờ sông cầm cự với quân Tấn, bá chiếm một phương, lăm le ngôi báu, nhòm ngó trung nguyên. Sau Trang Vương là Cộng Vương, Khang Vương, Linh Vương. Sở Linh Vương cũng là một hôn quân đắm đuối trong tửu sắc, suốt ngày chỉ biết hưởng lạc mua vui, không bao giờ hỏi han đến sự hưng thịnh hay suy tàn của nước Sở. Thấy lưng ong của đám vũ nữ ưa nhìn, muốn được vui mắt, nhà vua đã lệnh cho tất cả mọi người bất kể là đàn ông hay đàn bà, đều phải thắt lưng ong. Con gái mà lưng không như lưng ong không được ra vào hậu cung; đàn ông lưng không thon, không được vào chầu. Linh Vương chẳng những làm bậy làm bạ ở trong cung, còn đi đó đi đây chơi bời thăm thú, quân văn quan võ từng bầy, cùng nữ nàng hầu cả lũ, ríu ra ríu rít đi đến đâu, gà chó cũng chẳng được yên. Công tử Khí Tật, thấy bộ dạng tồi tệ đó của Linh Công, bỗng thấy dịp hay, bèn nhân khi Linh Công đi chơi ở Bàn Khê[3] liền lên thay thế, đó là Sở Bình Vương.
Khí Tật vốn cũng là hạng ăn uống chơi bời thoán vị cướp quyền, cho nên vừa mới lên ngôi một cái là lập tức làm bậy làm bạ, chẳng những sống xa hoa phí phạm, mà còn không biết phân biệt kẻ nịnh người trung, làm cho trăm quan văn võ trong triều, khổ không kể xiết, nước Sở từ đó ngày càng suy sụp không sao ngóc đầu lên được nữa.
Năm Sở Bình Vương thứ sáu, Mễ Kiến được lập làm Thái tử, đưa Ngũ Xa là con của Ngũ Cử và là cha của Ngũ Viên sau này lên làm thái phó, Phí Vô Cực làm thiếu phó. Thái tử Kiến không ưa Phí Vô Cực, ngược lại Phí Vô Cực cũng căm giận Thái tử Kiến đến tận xương tuỷ, tìm đủ mọi cách để đẩy Kiến vào chỗ chết.
Sở Bình Vương đã hỏi cưới Mạnh Doanh em gái của Tần Ai công sau này là mẹ đẻ của Chiêu vương cho Thái tử làm vợ và lệnh cho Phí Vô Cực đi đón về. Thấy Doanh thị là người có nhan sắc, lại muốn lấy lòng Bình vương, Phí Vô Cực liền khéo léo dùng mưu đánh tráo, đem cô gái theo hầu đưa về làm vợ Thái tử, còn Doanh thị, thì dâng lên Bình vương làm phi. Thấy Doanh thị xinh đẹp tuyệt trần,. đứng đầu về sắc đẹp trong lục cung, Sở Bình vương mừng rỡ như điên như dại, hai người bỗng quấn quýt nhau như keo sơn, Phí Vô Cực cũng nhờ đó mà càng được thêm ân sủng.
Phí Vô Cực lại đề nghị xây Thành Phụ ở phía Bắc[4] để khống chế con đường huyết mạch thông lên phía bắc, tranh giành chư hầu trung nguyên với nước Tấn, và từ đó để cướp lấy Lục Hồn, khống chế nước Trịnh. Tháng 8 năm 525 trước CN, Tuần Ngô nước Tấn diệt người Nhung ở Lục Hồn, Thái tử ở Lục Hồn chạy sang nước Ngô, thế lực của nước Tấn đã vươn đến vùng Lục Hồn, trực tiếp đe doạ đến an toàn ở phía bắc của nước Sở. Phí Vô Cực lại đề nghị lệnh cho Thái tử Kiến đến đóng giữ Thành Phụ để giữ mạn bắc. Tất cả mọi chuyện đó Bình vương ngu độn đều bảo sao nghe vậy.
Mạnh Doanh sang nước Sở đến năm thứ ba thì sinh được một con trai tên là Thẩm. Mẹ sang thì con quý, để lấy lòng Doanh thị, Bình vương đã phế trưởng lập thứ, trong triều từ cao đến thấp, ai ai cũng căm phẫn hậm hực, Thái tử Kiến hơn ai hết đã từ ghen tức chuyển sang thù địch.
Kế ly gián Sở Bình vương với Thái tử Kiến do Phí Vô Cực bầy đặt ra luôn luôn được chấp nhận, Thái tử lại ở xa kinh đô, thế là mùa xuân năm 522 trước CN, lại có lời can gián Sở Bình vương:
– Thái tử Kiến và Ngũ Xa, định mưu phản ở ngoài Phương Thành, xây dựng riêng một đất nước, sánh vai với nước Tống, nước Trịnh; mà nước Tề với nước Tấn lại sống dựa vào nhau, như vậy sẽ hại cho nước Sở, việc này sắp xảy ra đến nơi rồi!
Do phế trưởng lập thứ, nên giữa Sở Bình vương với Thái tử Kiến đã sẵn có mối hiềm khích. Trong tình hình này Mễ Kiến muốn làm phản, thực là điều có thể xảy ra, cho nên ông ta tin ngay. Học trò mưu phản, tội ở ông thầy, Sở Bình vương hạ chiếu; lệnh Ngũ Xa về kinh, nhận tội theo pháp luật. Nếu Ngã Xa có thể quay trở lại Thành Phụ, ám hại Thái tử, coi như đã lập công chuộc tội mà lại không mất đi sự giàu sang sung sướng hiện nay đang có lúc bấy giờ.
Ngũ Xa vốn là bậc chính nhân quân tử, đời nào có thể đi theo sự vinh hoa mà huỷ hoại luân thường như thế. Trước hết, ông đã hết lời khuyên giải, nào là giảng giải bằng đạo nghĩa, nào là khuyên nhủ bằng tình thân huyết lệ, sau đó lại dùng lời lẽ nghiêm khắc để quở trách, mắng hắn là con người không biết đâu là nước là nhà, không biết tình cha con là đạo luân thường. Sở Bình vương bị tránh mắng, giận quá hoá cùn, tống giam Ngũ Xa vào lưu tử tù.
Sở Bình vương lại lệnh cho Tư mã Thành Phụ là Phấn Dương giết Thái tử Kiến. Thái tử Kiến chạy sang Tống (rồi đi nước Tấn, nước Trịnh và bị người Trịnh giết chết).
Ngũ Xa ở trong triều đã trách mắng Sở Bình vương vuốt mặt không kịp, vậy tại sao không bị lập tức đưa ra trước Ngọ môn để chém đầu; mà lại chỉ đưa vào giam ở lao tử tù thôi nhỉ? Đây lại là một kế gian của Phí Vô Cực. Ngũ Xa có hai người con trai, con cả tên là Thượng, được mang tên là danh sĩ đương thời; con thứ tên Viên, tự là Tử Tư, có tên gọi là cái thế anh hùng. Cả hai người này đều rất có hiếu nếu như đem giết Ngũ Xa đi, anh em họ mà biết tin, thì đời nào chịu để yên! Và như thế trừ đi được một kẻ đối đầu, lại nảy sinh ra hai kẻ thù địch, như thế gọi là cắt cỏ không nhổ rễ, hậu hoạ sẽ vô cùng. Để trừ khử được Thái tử Mễ Kiến, thì trước hết hãy cứ giam Ngũ Xa lại cái đã. Sau khi Mễ Kiến trốn đi rồi, theo sự sắp đặt của Phí Vô Cực, Sở Bình vương đã xét hỏi Ngũ Xa:
– Trước đây ngươi đã bày cho Thái tử làm phản, lẽ ra phải chém đầu, nhưng nghĩ tới tổ tiên của ngươi có công với nước Tề, này tha cho ngươi về quê quán. Ngươi hãy viết thư gọi hai con về Sính đô, phong lại quan chức.
Ngã Xa bụng đầy sách vở, lại từng trải việc đời dâu bể, đương nhiên là đã biết tỏng âm mưu quỷ kế của Phí Vô Cực ngay từ đầu. Phong lại quan chức quái gì đây rõ ràng là lừa cho hai con mình đến đây để rồi cùng chém đầu. Dụng ý của hắn mới độc ác làm sao! Tuy nhiên, đã là thánh chỉ của nhà vua, lại có dũng sĩ cầm dao hằm hằm đứng trước mặt, ông không thể không biết, đành phải nén giận trong lòng, cố cầm nước mắt run rẩy viết lên tấm lụa mấy dòng cho hai con:
“Mấy dòng báo với hai con Thượng, Viên: Cha vì can ngăn ngược ý thánh chỉ, có tội phải trói buộc tù đầy. Nhà vua nghĩ đến công lao tổ tiên ta, tha tội chết cho cha, để cho Phí thiếu phó và mọi người bình công chuộc tội, phong lại quan chức cho các con. Nay theo lệnh nhà vua, anh em các con phải kíp đi ngày đi đêm sao đó để đến kinh đô. Nếu trái lệnh hay chậm trễ, tất sẽ phải chịu tội. Nhận được thư phải mau mau đi ngay.”
Ngũ Xa viết xong vừa đặt bút xuống, phí Vô Cực đưa tay giật lấy vuông lụa, đọc qua một lượt, lấy bút xoá mấy chữ “để Phí thiếu phó và mọi người” và “nay theo lệnh nhà vua” đi, bảo Ngũ Xa chép lại. Phí Vô Cực thực ra chẳng phải tay vừa, hắn xoá đi hai chỗ đó hết sức hệ trọng. Nếu hai chỗ đó còn, hai con ông nhìn vào là thấy ra ngay rằng đây là âm mưu của Phí Vô Cực và Bình vương bày ra, tin rằng nhà vua ngu độn đã ép cha mình phải viết ra, thì họ sẽ không bao giờ chịu mắc lừa. Thế nhưng, Phí Vô Cực thông minh lại bị sai lầm bởi thông minh, không chú ý đến hai chữ “mau mau” ở cuối thư.
Đọc thư cha mình gửi, Ngũ Thượng lòng dạ rối bời trăm thứ tình cảm, vừa mừng nhưng cũng rất lo buồn. Cha bị trói buộc tù đầy, lòng bị nhục, thân chịu khổ, cứ nghĩ đến đây lại như dao cắt ruột đến đấy, không biết đã âm thầm chảy ra bao nhiêu nước mắt. Nay thấy cha được tha tội chết, đọc xong đã hý hửng mừng ra mặt, ấy là chưa nói đến lại còn được về kinh để phong lại quan chức. Sau khi sắp xếp mọi thứ cho người đưa thư, Ngũ Thượng vội vội vàng vàng vào nhà sau bàn bạc với em trai là Ngũ Viên về việc lên kinh đô gặp cha và nhận chức mới.
Ngũ Viên và Ngũ Thượng tuy là hai anh em cùng một mẹ sinh ra, nhưng tính tình lại mỗi người mỗi khác. Ngũ Thượng ở với cha thời gian dài, nên chịu ảnh hưởng tư tưởng trung quân khá sâu và tính tình cũng tương đối nhu mì. Ngũ Viên tính tình rắn rỏi, từ bé đã trau dồi binh thư, tập tành kiếm thuật, coi điều ác như kẻ thù, chơi bời giao du nhiều với đám võ sĩ nghĩa hiệp và can đảm ít chịu ảnh hưởng của tư tưởng hiếu trung mù quáng. Thấy anh mình kể lại gót đầu, rồi lại đọc thư của cha mình vừa gửi, Ngũ Viên nghĩ ngợi một lát nói:
– Anh chớ có cả tin như thế! Cha có được thoát chết, cũng chỉ là điều may mắn, anh em ta nào có công gì mà sao lại được phong lại quan chức? Đó rõ ràng chỉ là thứ mồi câu, lừa chúng ta mắc phải lưỡi câu, rồi cùng trừ khử đi, cắt cỏ và nhổ cả gốc…
Ngũ Thượng thấy khó hiểu, cứ chìa bức thư lụa ở trong tay mình ra, nói:
– Thư chính do tay cha viết ra còn đây? Làm sao có thể là của giả.
Ngũ Viên phân tích:
– Cha đã bị giam cầm, như chim bị nhốt trong lồng, như ba ba trong vại, bị người ta ép buộc, theo sự sắp đặt của họ, viết hay không, viết như thế nào, đâu há phải là việc mình có thể chủ trương được. Thư tự tay viết ra làm sao có thể tin được.
Nghĩ đi nghĩ lại mãi, Ngũ Thượng thấy lời nói của em mình rất có lý, thở dài một tiếng, nói:
– Tuy nhiên như vậy, nhưng việc gọi anh em ta về kinh đô để gia phong quan chức, là lệnh của nhà vua. Cha tự tay viết thư, cũng là lệnh cha. Kẻ làm bề tôi, lẽ nào có thể không theo lệnh vua? Người làm con sao có thể không nghe lời cha. Không theo lệnh vua, là bất trung, không nghe lời cha, là bất hiếu. Nếu nói như em, chuyến này mà đi, là tự chui đầu vào rọ, nhưng cũng không thể mang cái tên bất hiếu bất trung, nên đúng ra là cứ phải nên đi!
Ngũ Viên nghe nói thế, lửa nóng bốc lên đầu, bực dọc nói:
– Trung với vua, có lợi cho nước; hiếu với cha có ích cho nhà, thế mà nay thừa biết lệnh vua là giả, mà lại theo phỏng có lợi gì cho nước? Thừa biết lệnh cha là không có thật, cũng nghe, phỏng có lợi gì cho nhà?…
Hai anh em tranh cãi với nhau một lúc lâu, Ngũ Thượng tuy biết rằng em mình nói có lý, nhưng cũng không thể thay đổi quan niệm về trung với hiếu, cuối cùng mỗi người đi một ngả, Ngũ Thượng về Sính đô, cùng chịu chết với cha để tận chữ hiếu; Ngũ Viên bỏ trốn, đi tìm chỗ nương tựa, chờ cơ hội để trả thù cho anh, cho cha.
Anh em khóc mà chia tay nhau, đúng là cảnh sinh ly tử biệt, Ngũ Viên cúi đầu chào anh, rồi ngẩng dậy quay đầu bước đi, không hề do dự.
Người đưa thư đưa Ngũ Thượng về kinh, giao cho Sở Bình vương, và tâu rằng Ngũ Viên đã bỏ trốn rồi. Phí Vô Cực cho giam Ngũ Thượng vào một chỗ với cha mình. Thấy một mình con cả về kinh, đó là chuyện ông đã dự đoán, nên vừa đau lòng, nhưng cũng thấy vui lòng. Ngũ Thượng nói với cha mình rằng em trai đã trốn đi, đón đợi thời cơ để rửa hận nước, trả thù nhà, còn bản thân chàng đến đây cùng chết với cha để tận hiếu đạo của một người con. Nói xong, cha con ôm nhau mà khóc…
Nghe nói Ngũ Viên đã bỏ trốn, đúng là một tên ngỗ ngược bất trung, bất hiếu, Sở Bình vương tức đến nổ gan nổ ruột, lập tức hạ lệnh chém đầu cha con Ngũ Xa. Phí Vô Cực bước ra ngăn lại:
– Xin chúa công hãy tạm dẹp lôi đình. Ngũ Viên đã không về kinh, này lại nghe tin cả cha lẫn anh bị giết tất sẽ trốn hẳn sang nước khác. Ngũ Thượng là một nho sinh nhút nhát, nó đến hay không, chẳng có gì là quan trọng, duy có Ngũ Viên, vốn thực sự có tài an bang định quốc, nếu để hắn trốn đi, sau này tất thành hậu hoạ. Theo ý hạ thần, trước hết hãy cứ giam cha con Ngũ Xa lại một chỗ, chờ bắt được Ngũ Viên, sẽ cùng chém một thể. Chắc là Ngũ Viên trốn chạy cũng chưa xa, xin chúa công hãy lập tức ban ngay chỉ dụ, một mặt sai người mang quân đi đuổi bắt, mặt khác hạ lệnh cho các cửa khẩu nghiêm cấm ra vào, và cho dán yết thị ở khắp nơi, vẽ hình hắn ra treo thưởng để bắt hắn…
Trên cổng thành nước Sở lập tức xuất hiện một tờ yết thị: “Ngũ Viên phạm tội lừa dối nhà vua, nay vẽ hình của hắn treo thưởng để bắt. Ai bắt được Ngũ Viên đem nộp, thưởng cho năm vạn thạch lương thực, phong cho làm đại phu. Ai biết hắn ở đâu đến báo, thưởng cho ngàn lạng vàng. Ai chứa chấp Ngũ Viên hoặc biết tin mà không báo, nếu được làm rõ, sẽ chém cả nhà.” Cạnh thờ yết thị là hình của Ngũ Tử Tư. Người xem đông như kiến, có người thì thào bàn tán:
– Bốn cổng thành đều dán yết thị, từ đêm hôm qua nghe nói đã chốt chặt các cửa khẩu, không cho phép tự do đi lại.
Có người nói:
– Thế này thì dân đen lại thiệt to rồi! Không cho ai ra ai vào, thì mua bán lương thực làm sao? Rồi lấy gì mà ăn.
Lại có một người khác nói:
– Ngũ Tử Tư ba đời trung lương, tại sao lại bị bắt?
Một ông già len lén dùng vai mình hích vào người kia một cái, anh ta đành câm tịt nửa chừng không dám nói tiếp nữa.
Mệnh lệnh của Sở Bình vương ban ra, kinh đô nước Sở bỗng sùng sục lên như một nồi nước sôi, người thì đi loan báo cho các nơi, kẻ thì đi dán yết thị. Phí Vô Cực tuân lệnh của Bình vương, cử đại tướng Vũ Thành Hắc đem theo hai trăm quân tinh nhuệ đi bắt Ngũ Tử Tư.
Ngũ Tử Tư rời nhà đi được nửa ngày đường, Vũ Thành Hắc mang quân đến vây chặt phủ đệ của Tử Tư rồi lùng sục hồi lâu. Không thấy tăm hơi Ngũ Tử Tư đâu, lúc bấy giờ mới hô quân tung ra bốn phía truy tìm.
Ngũ Tử Tư khoác hành lý trên lưng, vai đeo cung nỏ, tay cầm bảo kiếm, đi đường suốt đêm. Bỗng có một hôm, đang lúc đi đường chợt nghe thấy từ phía sau tiếng ngựa hý người hô, đoán chắc là quân triều đình đuổi theo đã tới. Lúc ấy ông tránh cũng không nổi, trốn cũng không thoát, đành bỏ đồ đạc xuống, giương cung lắp tên. Sau một tiếng “phựt” tên xà ích đánh xe cho Vũ Thành Hắc lăn nhào xuống đất, toi mạng. Vũ Thành Hắc còn đang định giương cung, thấy thế ôm đầu lủi mất. Ngũ Tử Tư gọi lớn:
– Ta định bắn một phát cho toi cái mạng chó của ngươi đi, nhưng muốn để cho ngươi về báo tin cho cái tên hôn quân kia, bảo với nó rằng, dám to gan giết chết cha và anh ta, Ngũ Viên này quyết sẽ huỷ hoại tông miếu, đào mồ cuốc mả, rồi tự tay chém đầu tên hôn quân, để tạ trời tạ đất, để tế các vong linh.
Vũ Thành Hắc lủi về Sính đô, không dám nói lại lời của Ngũ Tử Tư, mà chỉ nói rằng Ngũ Viên đã trốn đi xa rồi. Sở Bình vương nghe nói thế, nổi giận đùng đùng, lệnh cho Phí Vô Cực lập tức đưa cha con Ngũ Xa và hơn ba trăm người trong gia đình họ ra chém đầu. Lúc sắp bị hành hình, Ngũ Thượng mắng nhiếc Phí Vô Cực:
– Nhà họ Ngũ ta ba đời nay trung lương, dốc lòng vì nước Sở, thế mà hôm nay lại đến nỗi đầy nhà là cảnh bắt bớ chém giết thế này, ngay cả người già con trẻ cũng chẳng được buông tha, các người có thể nhẫn tâm được thế hay sao… Phí Vô Cực! Còn ngươi là tên gian tặc, tên hôn quân lấy được vợ thì ruồng rẫy con mình, rồi chém giết người trung lương… tất cả những việc đó đều do những lời sàm tấu chó má của ngươi xúi giục! Xuống cửu tuyền, ngươi còn mặt mũi nào mà trông thấy tổ tiên của mình nữa? Ngày sau em Viên của ta nhất định sẽ tóm cổ ngươi, tên gian tặc hại nước hại dân để vằm ra trăm mảnh, để tiếng thối tha của ngươi lưu lại muôn đời…
Ngũ Xa hết sức điềm tĩnh nói:
– Mắng nhiếc nó phỏng có ích gì, ai hay ai dở, đời sau sẽ có người phán xét. Điều ta lo ngại lúc này, là mai sau con ta là Ngũ Viên có về trả thù cho ta thì tất sẽ liên luỵ đến trăm họ của nhưng Sở và mọi người sẽ phải khổ lây!…
Phí Vô Cực ra lệnh một tiếng, hàng loạt đao phủ vung dao lên, chỉ trong chớp mắt, hơn ba trăm con người toi mạng, xác chết ngổn ngang, máu tuôn như suối. Dân chúng đứng quanh, không ai dám mở mắt ra nhìn, người nào người nấy cúi gằm mặt xuống, rồi hoặc thở dài, hoặc nức nở, hoặc khóc rống lên thành tiếng, nước mắt như mưa… hầu như ông trời cũng không nỡ thấy thảm trạng này, cho nên chỉ loáng một cái, mây đen kéo đến, trời đất tối sầm lại, cuồng phong gào rít, như nức nở nghẹn ngào…
Gió thảm mây sầu trời hết sáng
Ba triều trung duệ bỗng lìa đời
Nước Sở từ đây nhiều xiểm nịnh
Quân Ngô sẽ chiếm Sính Thành thôi!
Sau khi Sở Bình Vương chém hết cả nhà Ngũ Xa rồi, lại lệnh Phí Vô Cực báo cho các cửa khẩu, khám xét kẻ ra người vào thật nghiêm ngặt, nhằm không để cho Ngũ Tử Tư trốn thoát.
Sở Bình vương đang sắp đặt tướng soái tăng cường kiểm tra kẻ qua người lại, một toán khác đuổi theo Tử Tư quay về báo: Họ thấy quần áo và giầy của Ngũ Tử Tự bỏ lại ở một chỗ bờ sông, còn người đi đâu thì không biết.
Nguyên là khi Ngũ Tử Tư đi đến bờ sông, thấy quân lính đuổi theo sắp tới, bèn cởi tấm áo bào trắng của mình ra treo lên một cây liễu ở bền sông, cởi đôi giày đang đi để lại bên bờ sông, rồi thay bằng đôi giày cỏ, theo dòng sông đi về phía dưới. Bọn người đuổi theo đến đây, tận mắt nhìn thấy áo và giày của Ngũ Tử Tư ở đó, đều nói ông đã đến chỗ cùng đường nghẽn lối nhảy xuống sông tự tử mất rồi, thế là mang áo mang giày của ông về kinh làm chứng cớ để tâu trình. Lợi dụng quãng thời gian đó, Ngũ Tử Tư lại chạy thêm được một chặng nữa.
Ngũ Tử Tư một lòng muốn theo nước Ngô, ông cứ men theo Trường Giang mà đi, hết chặng này sang chặng khác, đột nhiên chùn chân lại, bởi sang nước Ngô đường sá rất xa xôi, mà dọc đường lính canh giữ nghiêm ngặt kín mít như trong thùng, nơi hiểm yếu nào cũng có quân canh giữ, làm sao có thể đi qua đó được?
Tử Tư lúc này đã đang ở đất Tống, chi bằng hãy qua nước Tống tạm lánh ở đó ít ngày cho qua cơn sóng gió, rồi sang nước Ngô mượn quân, cứu cha và anh, trừ gian tặc, giết hôn quân. Chủ ý đã định, Ngũ Tử Tư quay trở lại, đi theo hướng Tuy Dương. Đang đi bỗng ngẩng mặt lên, thấy phía trước có một đoàn người ngựa, Ngũ Tử Tư bất giác toát mồ hôi hột, đoán chắc rằng đó chính là Sở vương đã sai quân xuống phía nam chặn đường, bèn vội vàng rẽ ngang vào rừng liễu bên đường tạm núp để nghe ngóng động tĩnh ra sao. Một lúc sau mới nhìn rõ được ra đó chính là Thân Bao Tư, người bạn từng kết nghĩa anh em với mình, bèn vội vàng ra đón. Thân Bao Tư hỏi:
– Hiền đệ làm sao có vẻ vội vàng, mà bộ dạng thảm hại thế này, chẳng hay định đi đâu vậy?
Thấy hỏi nhau như vậy, Ngũ Tử Tư chan hoà nước mắt, sụt sùi kể qua về nỗi cha, anh lâm nạn, hôn quân đuổi bắt mình, cuối cùng nghiến rằng nghiến lợi nói:
– Mối thù giết cha, thề không đội trời chung, tôi đi mượn quân về bắt sống tên hôn quân và thằng gian tặc kia, ăn thịt nó, lột da nó, mới hả mối thù này.
Thân Bao Tư phụng mạng đi sứ mới về, còn chưa đến Sính đô, nên những biến cố xảy ra trong nước, không hề hay biết gì, nghe những lời tố cáo đầy máu và nước mắt của Ngũ Tử Tư, bất giác cũng rơi nước mắt. Nhưng với tấm lòng trung quân, ông khuyên Ngũ Tử Tư hãy nén giận, chớ có làm điều xằng bậy mà phạm thượng, để tiếng xấu muôn đời. Ngũ Tử Tư đời nào có thể tiếp nhận sự nhìn nhận cổ hủ đó của Thân Bao Tư, khẳng khái giãi bày:
–Thế là anh sai rồi! Xưa nay người làm vua cũng đã nhiều, nhưng có người hiền kẻ ngu khác nhau. Thánh minh như Nghiêu Thuấn, tài xứng đáng là chúa trong thiên hạ, được muôn dân ủng hộ; bạo ngược như Kiệt Trụ, chỉ biết ngang ngược tàn nhẫn, phải chết trong tay bề tôi là đáng đời. Nay Sở vương lấy vợ mới, ruồng rẫy con cả đang nối ngôi, tin lời sàm nịnh, giết hại trung thần, táng tận luân thường, vô đạo đến cùng cực! Em đi mượn quân về đánh nước Sở vừa để trả thù cho cha anh, cũng là để diệt phường gian nịnh cho nước Sở, lập một vị minh quân khác, thi hành nhân chính rộng rãi trong thiên hạ, chấn hưng cơ nghiệp tiên vương đã xây dựng nên. Nếu không thể giết tên bạo chúa kia để trả thù cho cha anh em thề sẽ không đứng giữa đất trời này nữa.
Thấy Ngũ Tử Tư đã nói hết, Thân Bao Tư thấy có nói nữa cũng chỉ đến thế, đành lắc đầu thở dài, nói:
– Nỗi lòng của em thế nào, anh đây đã hiểu cả, nhưng nếu anh bảo em đi trả mối thù nhà này, thì sẽ bất trung với nước Sở, còn như không bảo em làm thế thì lại khiến cho em trở thành bất hiếu với cha anh. Thôi thì, từ nay mà đi, anh em ta ai đi đường nấy, em thì tận hiếu, còn anh thì tận trung. Sau này, nếu như em là cho nước Sở nghiêng ngả, thì anh đây sẽ phải làm cho nước Sở yên định lại; nếu như em tiêu diệt mất nước Sở, thì anh đây phải khôi phục lại nó. Hiền đệ đi đường hãy giữ gìn sức khoẻ, tự lo lấy cho mình…
Nói xong, anh em cúi chào nhau trong ngấn lệ rồi chia tay nhau ai đi đường nấy.
Ngũ Tử Tư vừa đến nước Tống, thì từ nước Sở truyền tới tin sét đánh, chẳng những cha, anh bị giết, mà cả nhà đã bị lùng bắt và giết hết, có tới ba trăm người đã cùng lâm nạn. Nghe tin báo mà như sét đánh bên tai, Ngũ Tử Tư gào lên thảm thiết, nước mắt đầm đìa, ngoảnh mặt về phía tây, quỳ xuống thề với trời cao “Viên này nhất định sẽ mượn quân về đánh Sở, ăn sống nuốt tươi Sở vương, xé xác tên Phí Vô Cực, trả thù rửa hận cho cả nhà ta!”.
Ở nước Tống, Ngũ Tử Tư đã bái kiến Thái tử Kiến, kể lể với nhau nỗi niềm riêng của từng người, rồi ôm nhau khác than thảm thiết, tiếng thở than vang đến tận mây xanh.
Lúc này nước Tống cũng đang có nội loạn, có một nhóm người sang nước Sở mượn quân, rõ ràng, nước Tống là nơi không thể nấn ná lâu thêm được, sau khi hai người bàn bạc với nhau, quyết định sang nước Trịnh ở ngay gần đó để xem tình thế ra sao.
Trịnh là một nước nhỏ, nằm chung chiêng giữa nước Tấn và nước Sở, nên có lúc thì phụ thuộc nước Sở, có lúc lại phụ thuộc nước Tấn. Nước Trịnh thấy Thái tử nước Sở đến nhờ vả, bèn dẫn đến gặp Tấn hầu.
Tấn tuy là nước lớn, nhưng Tấn Khoảnh công lúc này, chỉ như một tên bù nhìn mà thôi. Thế lực trong cả nước, đều tập trung hết trong tay mấy nhà quý tộc họ Hàn, họ Triệu, họ Nguy. Họ muốn nhân lúc này diệt luôn nước Trịnh, nên đã bảo Thái tử Kiến ở nước Trịnh để làm nội ứng.
Mễ Kiến về đến nước Trịnh, nói lại với Ngũ Tử Tư về ý định của nước Tấn, Ngũ Tử Tư kiên quyết chống lại. Nhưng Mễ Kiến vẫn cứ cố ý làm một mình, không chịu nghe lời khuyên giải của Ngũ Tử Tư, mang theo hơn hai mươi người ra đi. Về sau, do không giữ kín được câu chuyện, bị Trịnh Định công phát hiện ra, Thái tử Kiến và cả những người mang theo, đều bị giết chết. Ngũ Tử Tư nghe tin, lập tức mang theo Mễ Thắng con của Thái tử Kiến trốn khỏi nước Trịnh.
Ngũ Tử Tư mang công tử Thắng ngày trốn đêm đi chịu đủ trăm cay ngàn đắng, vất vả lắm mới đến được nước Trần. Trần cũng là một nước nhỏ, lúc này đã là một nước phụ thuộc của nước Sở, Ngũ Tử Tư không dám lên tiếng, mà vẫn cứ ngày nghỉ đêm đi, hốt ha hốt hoảng nhân đêm tối mà đi đường. Họ muốn sang nước Ngô, mà Chiêu Quan là con đường duy nhất.
Chiêu Quan là con đường thông ra cửa khẩu gian nan hiểm trở nhất,nó nằm ở phía tây Tiểu Hiện sơn.[5] Hai đỉnh núi đựng đứng thẳng tắp như người gọt, xông thẳng lên mây. Chiêu Quan chính là cửa khẩu nằm giữa hai đỉnh núi ấy. Quan thành cũng xây giữa hai vách núi nhòm vào nhau, chỉ cần cửa thành đóng lại, thì dẫu một con chim sẻ cũng khó lòng bay qua. Ra khỏi quan khẩu đi về phía trước, không xa lắm lại có sông lớn chắn ngang, sau khi qua sông mới có đường phẳng sang nước Ngô.
Chỗ Chiêu Quan này bình thường đã vẫn có người canh giữ, gần đây, do đuổi bắt Ngũ Tử Tư, nên còn đặc biệt cử thêm quan hữu tư mã Vĩ Việt đem quân đến đóng ở Quan Thành, khám xét cực kỳ nghiêm ngặt. Trên cửa của Quan Thành treo tấm hình Ngũ Tử Tư, kẻ qua người lại không được ra vào tự do, dân chúng trong ngoài thành và những người qua lại, ai cũng thấy vô cùng bất tiện, suốt ngày kêu khổ luôn mồm.
Ngũ Tử Tư mang theo công tử Thắng đến mốt nơi cách Chiêu Quân không xa, mới biết rằng ở đó đã canh gác và giữ kín như bưng, muốn vượt trộm qua chốn ấy, còn khó hơn là lên trời! Ông với công tử Thắng bèn lánh vào một khu rừng rậm bên đường, vắt óc ra suy nghĩ để tìm cách vượt qua Quan khẩu. Nghĩ đã nát cả óc, vẫn chưa có cách gì, nên cuống lên đến nỗi lồng lộn đi quanh rừng. Giữa lúc ông sốt ruột bồn chồn như kiến bò chảo nóng, từ trong rừng chợt hiện ra một cụ già, thoáng nhìn qua thấy cụ tóc bạc mà da dẻ lại hồng hào, áo rộng thùng thình, tuổi tác áng chừng bảy mươi có lẻ, trên tay cầm một nắm cỏ dại, giống như một thầy lang đi hái thuốc trong rừng. Ngũ Tử Tư định lánh đi, nhưng không kịp nữa, đành phải bước lên vái chào. Cụ già chăm chú nhìn một lượt từ chân tới đầu người tráng sĩ đứng trước mặt mình, thấy chàng đứng đó mình cao hơn trượng, lưng hổ lườn gấu, mặt lớn tai to, da như ngà ngọc, đôi mày như đôi lưới kiếm vừa to vừa dài nằm trên đôi mắt long lanh như mắt hổ, luôn loé lên những luồng sáng như ánh chớp, mũi thẳng miệng vuông, dưới cằm loáng thoáng râu thưa, đầu đội chiếc khăn võ sĩ bằng vải hoa trắng trên nền lam nhạt, mình cũng mặc chiến bào bằng thứ vải đó, ngang lưng thắt chiếc thắt lưng da, chân đi đôi giày nhà binh mỏng đế, bên hông giắt thanh bảo kiếm thất tinh. Nhìn hình tượng đó, cụ già bỗng thấy rất quen mắt, như đã từng quen biết nhau, nhưng ngay lúc đó lại không nhớ được ra đã từng gặp mặt ở đâu. Cụ già chau mày nhớ lại, như đang hồi tưởng một câu chuyện xưa kia từng đã xảy ra. Đột nhiên, cụ nhướn to đôi mắt, ngạc nhiên, rồi nhìn lại như thẩm tra một lượt tử đầu đến chân, đồng thời hỏi Ngũ Tử Tư:
– Chàng có phải là Ngũ Tử Tư, Ngũ tướng quân đó không?…
Ngũ Tử Tư thấy có người gọi thẳng tên mình, bất giác thảng thốt ngạc nhiên, rùng mình ớn lạnh, ở nơi gần quan ải hiểm yếu này, có người phát hiện ra, lại chẳng hoá là tai vạ sắp giáng xuống đầu hay sao!… Bèn vội vàng tự trấn tĩnh lại, khoanh tay lễ phép đáp lại:
– Dạ thưa cụ, cụ trông lầm người rồi đấy ạ! Tại hạ không phải là họ Ngũ ạ!
Tiếng nói của Tử Tư lúc này đã có chút hơi run.
Cụ già cũng chẳng tranh luận việc có phải nhận nhầm hay không, mà lại thân thiết tự giới thiệu về mình:
– Lão là Đông Cao Công, năm xưa từng học nghề thuốc của Biển Thước, làm thầy lang cả một đời, nay tuổi già tuy không bôn ba đây đó, nhưng sở nguyện chữa bệnh cứu người thì vẫn còn, hơn nữa không có bụng dạ vô cớ giết người. Mấy hôm trước, tướng quân Vĩ Việt trên Quan thành bỗng nhiên bị cảm lạnh, mời ta đến để khám chữa, khi vào thành, ta đã nhìn thấy hình của Ngũ Tử Tư treo trên cổng Quan thành. Bằng đôi mắt cả đời đi khám bệnh của mình, ta không thể nhận nhầm được, chỉ có điều tuổi già hay quên, không nhớ ngay được ra rằng mình đã gặp ở đâu. Nếu không coi là xa lạ, lão còn đang có việc muốn bàn với tướng quân nữa.
Đông Cao Công, Ngũ Tử Tư vốn đã nghe tên này từ lâu chỉ có điều chưa được gặp người bao giờ. Ông không những là một bậc danh y của nước Sở, mà còn chu du thiên hạ, trọng vọng đức cao, gần xa đều nổi tiếng. Thấy bộ mặt nhân từ của ông, nghe giọng nói hiền lành của ông, chắc hẳn là không có gì tà tâm ác ý, với lại chuyện đã đến nước này, không còn cách gì che giấu mãi được nữa, thế là vội vàng cúi mình làm lễ thành khẩn thưa rằng:
– Chẳng hay lão trượng có điều chi dạy bảo ạ?
Đông Cao Công nói:
– Tướng mạo của tướng quân quá đặc sắc, dễ dàng bị người khác nhận ra, nếu liều lĩnh qua Quan khẩu, chẳng khác chi tự đâm đầu vào rọ. Ở đây không phải là nơi nói chuyện, nếu tướng quân tin tưởng ở lão già này, xin mời hãy tới hàn xá để bàn bạc kỹ hơn về kế sách lâu dài. Tệ xá ở ngay phía sau quả núi này.
Ngũ Tử Tư mang theo công tử Thắng, cùng với Đông Cao Công đi chừng ba bốn dặm đường, thì đến một khu sân vườn không rộng lắm, trong đó có vài nếp nhà tranh, thanh tĩnh và u nhã, giàn dưa luống đậu, xanh mát dễ ưa. Đông Cao Công dẫn họ đi sâu nữa vào trong, vòng quanh một hàng rào tre, lại đi qua một vườn trúc nhỏ, thấy phía sau rừng trúc có một mái nhà nhỏ, trong nhà bầy đủ cả án thư, giường tre, bàn trà, vv… bài trí đơn giản mà gọn gàng. Đông Cao Đông mời khách ngồi vào ghế trên, rồi rót trà và dốc bầu tâm sự, nói hết chuyện. Thấy Đông Cao Công chân thành như thế, Ngũ Tử Tư bỗng thấy băn khoăn áy náy, giải thích và tỏ ý xin lỗi mãi rằng do tình thế bắt buộc, bất đắc dĩ phải làm như thế. Tiếp đó, đến lượt Ngũ Tử Tư kể hết một lượt với Đông Cao Công về nỗi tên hôn quân Sở Bình vương đã lấy vợ đuổi con, bỏ trưởng lập thứ, khiến Thái tử Kiến đến nỗi phải ngậm oan mà chết bỏ xác nơi đất khách quê người thế nào, nghe lời sàm tấu của Phí Vô Cực giết cha anh mình, giết chết hơn ba trăm người trong dòng họ nhà mình như thế nào… Đông Cao Công vừa nghe mà không sao cầm nổi nước mắt, vừa thở dài, vừa lựa lời an ủi, nói:
– Ở đây là nơi rất yên tĩnh, không có ai qua lại, hai vị có thể yên tâm nán lại đây ít hôm, nghỉ ngơi cho khoẻ đã, chờ lão đây nghĩ ra cách gì ổn thoả nhất, rồi sẽ đưa hai vị quan Quan khẩu.
Ngũ Tử Tư luôn miệng cám ơn, xúc động không sao nói hết.
Hàng ngày, Đông Cao Công mang cơm rượu ngon lành ra khoản đãi Ngũ Tử Tư và công tử Thắng. Thoáng một cái, bảy tám ngày trời đã qua đi, Đông Cao Công chẳng hề mảy may nhắc đến chuyện vượt qua Quan khẩu, Ngũ Tử Tư sốt ruột như có lửa đốt trong lòng, trằn trọc như cá nằm trốc thớt. Hôm ấy Đông Cao Công lại bưng cơm rượu tới, nóng hôi hổi, thơm phưng phức, nhưng Ngũ Tử Tư không hề thiết gì ăn uống, nước mắt tràn trề, quỳ hồi lâu dưới đất nức nở khóc không thành tiếng, nói:
– May mắn được lão trượng rủ lòng thương, suốt ngày này sang ngày khác khoản đãi bày rượu ngon thịt béo, tuy nhiên tôi còn mang nặng mối thù chưa trả, ngày không thiết ăn, đêm không muốn ngủ, thấp thỏm sống một ngày bằng cả một năm, dám mong lão trượng hãy sớm tìm ra kế sách giúp chúng tôi qua khỏi Quan khẩu.
Đông Cao Công vội cúi xuống đỡ Tử Tư đứng dậy, an ủi rằng:
– Xin tướng quân chớ quá phiền lòng, lão già này sao há chẳng nóng lòng như lửa đốt, mấy hôm nay mới tìm ra một mẹo hay, nhưng cần phải có một người giúp việc đắc lực giúp cho một tay, lúc ấy lập tức sẽ đưa tướng quân và công tử qua Quan khẩu.
Ngũ Tử Tư không biết lời người già nói ra là lời nói thật, hay là lấy đó để an ủi trái tim nôn nóng này của mình. Thế nhưng trước mắt cũng chưa có cách gì, nên chỉ còn cách là ở đây mà chờ đợi. Chàng chỉ e một điều là chờ đợi ở đây lâu, nhỡ bị lộ ra, bản thân mình khó giữ tròn tính mạng đã đành, cả nhà của Đông Cao Công cũng khó tránh khỏi chịu tội lây, và nếu quả thật như thế, thì thân này dẫu chết cũng chưa hết tội. Thế nhưng, không nán đợi thì phỏng còn có cách gì hơn? Liều lĩnh vượt qua Quan khẩu, thì chẳng khác gì như Đông Cao Công đã nói, là tự chui đầu vào rọ… Ngũ Tử Tư buồn bực mấy đêm liền không sao chợp mắt, trong lòng như có kim châm dao cứt đêm ngày, tựa hồ như có ai lấy lưỡi dao bầu phanh ngực chàng ra, cắt lấy tim gan của chàng, rồi cầm ở nơi tay mà nhay từng nhát khiến tim gan chàng nhỏ máu ròng ròng… Chàng chợt nằm xuống rồi lại chợt đứng lên, ngồi cũng chẳng ngồi yên, đành đứng dậy đi quanh đi quẩn trong phòng, vò tóc bứt tai, lòng đầy phiền muộn, rắm rối trăm bề không khác gì một bát cháo, như một mớ tơ vò. Đêm, mới đen tối làm sao, mới đáng sợ làm sao, mới khó chịu làm sao? Vậy mà đêm nào cũng cứ phải ngồi trông chờ cho thời gian qua đi từng giờ từng khắc, từng chốc từng lát thế này?…
Lại qua mấy ngày nữa, Đông Cao Công đưa về một người bạn. Nhìn thấy Ngũ Tử Tư, ông kinh ngạc đến ngớ cả người ra, mới mấy ngày không gặp mà Ngũ Tử Tư võ vàng cả người đi, râu và tóc bỗng trở nên bạc trắng. Ngũ Tử Tư ghé mặt soi vào chiếc gương đồng, bất giác bỗng ngầm rơi lệ, thở dài mà than:
– Trời ơi! Thù sâu còn chưa trả mà ta đã già đến thế này ư?
Đông Cao Công vốn là một danh y, đã bắt mạch cho Ngũ Tử Tư, rồi khám bệnh và tỏ ra an tâm, nói:
– Tướng quân chẳng có bệnh tật gì cả, cũng phải phải là già nua gì, mà đó là do sự lo buồn đưa đến, không hề hấn gì đến sức khoẻ cả, đúng ra là phải chúc mừng tướng quân.
Ngũ Tử Tư lấy tay day mắt, tỏ ra rất không vui, nói:
– Râu tóc bạc hết cả, còn vui cái nỗi gì, đúng là ông gà bà vịt, chẳng dính dáng gì đến nhau?…
Đông Cao Công nói:
– Tướng mạo của tướng quân ngời ngời như thế, dễ bị người ta nhận ra nhất, nay thay đổi thế này; hoá ra lại có thể che được mắt thế gian, trà trộn vào đó mà qua Quan khẩu, thế chẳng phải là đáng mừng hay sao.
Ngũ Tử Tư từ khóc chuyển sang cười, Đông Cao Công nhân lúc ấy giới thiệu người bạn mới đưa về, cũng chính là người mà ông đã kiếm được để giúp Ngũ Tử Tư qua Quan khẩu. Ngũ Tử Tư còn mải âu sầu, có bạn đến, chỉ nhìn mà không gặp, thế chẳng hoá ra thất lễ hay sao. Người bạn đó của Đông Cao Công họ kép là Hoàng Phủ, tên là Nột, năm nay tuổi đã ngoại tứ tuần. Tuy tuổi tác chênh lệch khá xa so với Đông Cao Công, nhưng Hoàng Phủ Nột và Đông Cao Công lại chơi bời với nhau hết sức thân mật, như tình anh em. Đó là một ẩn sĩ trong núi Long Động, khinh ghét chốn quan trường, không muốn ra làm quan, thà lên núi Long Động để cày ruộng, chơi bời non nước, tiêu dao tháng ngày. Tuy là ẩn sĩ, nhưng lại muốn dẹp nỗi bất bình, nghe Đông Cao Công kể chuyện cả nhà Ngũ Tử Tư hơn ba trăm người bị tên hôn quân giết chết một lúc Hoàng Phủ Nột tức muốn nổ ruột, nguyện dù có phải vào nơi nước lửa nguy nan, cũng sẽ giúp Ngũ Tử Tư qua được Quan khẩu. Đông Cao Công giới thiệu Ngũ Tử Tư ra gặp Hoàng Phủ Nột. Là một con người nhanh nhạy, Ngũ Tử Tư thoáng nhìn Hoàng Phủ Nột đang đứng trước mặt, từ tầm vóc, dáng vẻ, mắt mũi và cả biểu hiện tình cảm, tất cả đều giống mình như tờ giấy cắt hình dán lên cửa kính, lập tức cảm nhận được ra mẹo hay của Đông Cao Đông là thế nào, vội vàng quỳ thụp xuống chân Hoàng Phủ Nột:
– Kính xin ân công, hãy nhận của Ngũ này một lễ. Đáng thương thay cho cả nhà tôi, chịu điều oan khuất, đều bị rơi đầu. Mong tiên sinh hãy đem lòng trắc ẩn cứu tôi và công tử đây!…
Nhìn Ngũ Tử Tư ở trước mặt mình, Hoàng Phủ Nột lại nghĩ, người ta là bậc trung lương tới ba đời, cả nhà hàm oan mà bị hại, chỉ còn sót có một mình, quả thật là đáng thương. Đông Cao Công còn trọng nghĩa ra cứu giúp, Hoàng Phủ Nột này lẽ nào lại khoanh tay đứng nhìn hay sao? – Nghĩ thế xong, vội vàng cúi mình xuống nâng Tử Tư đứng dậy và nói tiếp. – Mau mau xin mời đứng dậy, kẻ bất tài này nhất định giúp tướng quân qua Quan khẩu.
– Đa tạ ân công. – Ngũ Tử Tư lại cúi xuống vái lạy nước mắt đầm đìa.
Họ xúm lại bàn nhau kế sách để vượt quan Quan khẩu: Hoàng Phủ Nột sẽ mặc quần áo của Ngũ Tử Tư, đóng bộ như một võ tướng; Ngũ Tử Tư thì cải trang thành một nông dân quê mùa, công tử Thắng là con của ông ta, một đứa trẻ ngớ ngẩn.
Lúc quan Quan khẩu, nhân lúc lính tráng khám xét tranh luận để bắt “Ngũ Tử Tư”, người “nông dân” nhân lúc lộn xộn đó kéo con trai mình lẩn vào trong đám đông.
Ngũ Tử Tư rất lấy làm cảm động, nói:
– Mẹo này thì hay đấy, nhưng sẽ liên luỵ đến ân công, phải chịu khổ, khiến cho Viên tôi thấy không đành…
Đông Cao Công nói:
– Việc đó không sao! Ta đã có cách cứu ông ta!
Bàn bạc xong, vội vàng cải trang ngay. Ngũ Tử Tư cởi bỏ đồ võ tướng và đồ tang trao cho Hoàng Phủ Nột mặc vào. Dùng nước do Đông Cao Công chuẩn bị sẵn rửa mặt, da mặt lập tức sạm đen lại, rồi mặc quần áo của một nông dân trong vùng, trông đúng như một anh chàng quê mùa vùng núi. Công tử Thắng cũng cải trang thành đứa trẻ trong vùng. Cải trang xong, họ đi suốt đêm để đến Chiêu quan. Đi đến nơi, đúng là trời cũng vừa sáng, cửa Quan khẩu cũng bắt đầu mở. Đám lính canh nhìn mặt và khám xét từng người, rồi đối chiếu giấy tờ tuỳ thân, lại còn nhìn mặt từng người để so sánh với tâm hình treo ở quán. Phía trong và ngoài quan khẩu lố nhố khá đông người, chờ khám xét xong để đi qua Quan khẩu, mỗi người một câu, ồn lên như cái chợ. Trong số đó co một người hớt hơ hớt hải, nấp nấp né né, muốn chuồn ra khỏi Quan khẩu. Một người trông dáng như một viên quan cấp thấp trong đám lính canh phát hiện ra kẻ có những hành động khả nghi, lập tức ướm nhìn lên hình người trong tờ tranh treo như một phản xạ có điều kiện, thấy từ vóc người, khuôn mặt, râu tóc và quần áo mặc trên mình, cho rằng người đang nấp né kia chính là Ngũ Tử Tư, một người dấn bước lên, túm lấy người kia lại, la tướng lên:
– Ngũ Tử Tư! Mày định trốn đi đâu!
Nói xong, hắn kéo người ấy đi gặp vị tướng giữ quan khẩu của họ là Vĩ Việt. Trong đám đông có người hô lên:
– Bắt được Ngũ Tử Tư rồi! Ngũ Tử Tư bị bắt rồi!
Nghe thấy tiếng hô, mọi người đã xúm lại để xem cái người bắt được Ngũ Tử Tư mà lâu nay không ai bắt nổi ấy ba đầu sáu tay như thế nào, số đông người khác thì ồn ồn lên, chen lấn nhau đi qua cửa khẩu và bàn tán với nhau rằng từ nay về sau không phải chịu tội như thế này nữa. Đám lính tráng thì hý hửng vì đã bắt được Ngũ Tử Tư thì từ nay họ không phải dậy sớm thức khuya để khám xét nữa. Vị tướng giữ cửa khẩu lập tức ra lệnh:
– Trói Ngũ Tử Tư lại, đem tống giam vào xe tù, áp giải về Sính đô, báo công lĩnh thưởng.
❀ ❀ ❀
[1] Phía bắc huyện Tung, tỉnh Hà Nam ngày nay.
[2] Ở phía đông Trịnh Châu, tỉnh Hà Nam hiện nay.
[3] Huyện Bặc, tỉnh An Huy ngày nay.
[4] Huyện Hiệp, tỉnh Hà Nam hiện nay.
[5] Tây bắc huyện Hàm Sơn, tỉnh An Huy bây giờ.