Tôn Tử Truyện

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 46 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Xiv Tôn Vũ Luyện Rèn – Ngũ Viên Bắt Chước
Chương Xiv Tôn Vũ Luyện Rèn – Ngũ Viên Bắt Chước

❊ ❊ ❊

Để được ngắm trăng, nghe sóng Tôn Vũ đã nghỉ lại một đêm ở đảo Tây Sơn. Đêm ấy trời trong sáng, hồ lặng hoa thơm, lẽ ra Tôn Vũ phải vui vẻ trong lòng mới phải. Cớ sao lại âm thầm lặng lẽ đến mức phải rơi nước mắt? Thì ra mọi sự vật trên đời, cái gì cũng có hai mặt của nó, buồn với vui cũng là hai cảnh hay đi liền nhau, như một đôi anh chị em dựa vào nhau giúp đỡ nhau. Ánh trăng cũng không ngoại lệ, đến ngày thì tròn, tròn thì sáng hơn, nhất là vào tiết Trung Thu. Trời cao mây lành, bầu trời trong như lọc, một vầng trăng lớn như chiếc ô lửng lơ treo ở trên đầu. Ánh trăng dịu dàng, như dòng nước chảy, dội xuống nhân gian, giữa trời đất là một khoảng không trong sáng và tinh khiết. Con người được ánh trăng bao phủ, nào là ngẩng mặt lên mà ngắm nghía, nào là chắp tay khẩn cầu, nào viết phú làm thơ, nào tế trời lễ đất… Ai cũng thấy lòng thanh thản và khoan khoái, bởi vì bầu trời xanh này, mảnh trăng tròn kia và ánh sáng nhạt nhoà ấy, lại có mối tương quan rất chặt chẽ với xã hội, với gia đình, với con người và vận mệnh với niềm ước mong và sở nguyện của con người… Nó là biểu hiện của sự bình yên, trong sạch và sáng sủa, là tượng trưng cho sự sum họp, là niềm trông cậy ở tương lai. Tuy nhiên, vào giữa lúc trăng tròn hoa nở thế này, những người biết nhìn xa thấy rộng thường có riêng một nỗi cảm hoài, bởi trăng tròn rồi sẽ khuyết, hoa nở đây, nhưng liệu thắm được mấy ngày? Người ta cứ mong sao cho trăng tròn mãi, hoa cũng nở mãi không tàn, nhưng đó chỉ là những nghĩ viển vông khờ khạo trái qui luật tự nhiên. Khi điều mong muốn ấy không thành, có không biết bao nhiêu người đã vì thế mà oán giận cuộc đời ganh ghét với thế tục, oán trời không công, trách đất không bằng, trách phận mình hẩm hiu, sự đời sao há chẳng được như vầng trăng kia giữa bầu trời, tròn như thế, sáng trong như thế? Tôn Vũ lúc này cũng thế. Nước Tề với nước Ngô đất đai phong cảnh không giống nhau, tập tục con người cũng khác, nhưng vầng trăng trên trời kia hẳn là phải giống nhau. Giờ này đây, mặt trăng ở quê hương chắc cũng to như thế, cũng tròn như thế và cũng sáng như thế, còn gia đình thì như thế nào? Ông nội nhân từ và cởi mở, cha ta bướng bỉnh ngang ngạnh, mẹ ta yếu đuối hiền lành… lúc này đây hẳn là cũng đang ngẩng đầu ngắm trăng, lòng nhớ đến người ruột thịt đang ở nơi đất khách quê người? Trận sóng gió về chính trị ấy của nước Tề đã yên ắng hẳn chưa? Tính mạng và kết cục của cha ta sẽ như thế nào? Cả nhà liệu có bị tru di hay không? Một mình ta thoát ra khỏi luồng xoáy, xa hẳn cái nơi đầy chuyện thị phi, vợ hiền từ con chăm chỉ, cuộc sống khá yên lành, có thể nói đã tròn vẹn như vầng trăng kia ở trên trời? Nhưng nghĩ tới những người thân đang ở giữa một dòng chảy đục ngầu, tự nhiên Tôn Vũ bỗng thấy nhói đau trong lòng, nỗi đau này từ sau khi cất bước xa nhà, chưa từng nguôi ngoai bao giờ. Sở dĩ Tôn Vũ không yên tâm với cuộc sống ẩn dật ở Khung Long khuất nẻo, thay họ đổi tên, thay hình đổi dạng, cải trang chu du khắp nơi trên đất Ngô, một mặt với mục đích là để sửa chữa mười ba bài “binh pháp”, nhưng mặt khác cũng không ngoài mục đích nữa là giũ bỏ niềm đau đó trong tâm linh. Ông nội chinh chiến suốt đời trên lưng ngựa đến nay tuổi tác đã cao quay về nghỉ ngơi, người rất cần con trai ở bên, cần có cháu vào ra vui vầy, vậy mà, giữa lúc ông nội mình cũng như mọi người già khác kinh sợ sự cô đơn nhất thì mình lại ở một nơi xa lắc xa lơ thế này. Nếu như có điều gì bất trắc xảy ra với cha mình, thì nỗi đớn đau này mình sẽ làm sao gánh chịu cho nổi đây? Ông nội yêu quí mình như thế, chăm lo cho sự trưởng thành của mình có thể nói người đã phải lao tâm khổ tứ nghĩ hết trăm phương nghìn kế, thế nhưng thử hỏi mình đã làm gì được cho người? Đã tận hiếu chưa? Đã phụng dưỡng được những gì? An ủi cho người được những gì?… Hoàn toàn chưa! Có chăng chỉ là chỉ mang lại cho người sự cô đơn và nỗi nhớ cồn cào. Tuy rằng khi còn nhỏ mình sống không hợp với cha cho lắm, không tán thành lối sống lúc nào cũng cho mình là hơn cả và ít chịu nói cười cởi mở, và ngay lúc này đây Tôn Vũ vẫn còn trách ông là lắm chuyện, là không nên tham gia vào những hoạt động phản loạn của Cao Chiêu Tử. Tuy nhiên việc đã thành sự thực mất rồi, trách móc lắm cũng bằng thừa, mình dù sao cũng là một phần xương thịt của cha. Với mình, cha con nặng tình dưỡng dục và có ơn đã dạ dỗ bấy nay, giờ đây cha lâm vòng tù tội, xác thịt chịu khổ cực trăm bề, phận làm con sao há chẳng vì thế mà tan lòng nát ruột? Và người khiến cho Tôn Vũ buồn lòng nhất là mẹ của mình. Mẹ là người ôn thuần, hiền lành, luôn có tấm lòng thuần phác hiếu kính với bề trên, nhân từ yêu mến kẻ dưới. Là một ngôi sao sáng ngời của nữ quyến trong tướng phủ, thế nhưng vì khi sinh đẻ mình gặp khó khăn nên phải suốt đời mang bệnh, thân thể yếu đuối, luôn ho mệt, ăn uống kém sút, chân tay mệt mỏi. Khi còn bé, bởi mình còn ít tuổi lại nghịch ngợm, không chịu học hành nên nhiều khi để mẹ phải đau lòng. Mẹ vừa phải chăm lo việc ăn ở cho mình, lại phải lo dạy dỗ cho mình, vất vả nửa đời người, vì mình mà đã bào mòn cả tâm huyết. Mình càng lớn lên bao nhiêu thì thể chất hình hài của mẹ ngày càng sa sút bấy nhiêu. Ngay cả những lúc vừa đau đớn vừa vất vả vừa phải phụng dưỡng bố chồng tuổi cao sức yếu vừa phải ngày đêm lo lắng cho sự không may của chồng, rồi lại thắc thỏm nhớ nhung con cháu ở nơi xa, tình cảnh ấy nào ai có hiểu? Tôn Vũ hối hận nghĩ rằng nhẽ ra lúc đầu chẳng nên phải đi xa thế này làm gì, để phải xa cửa xa nhà, bôn ba nơi đất khách quê người cho dù có phải cùng chết cả nhà cũng còn hơn là phải chịu nỗi khổ dai dẳng như dao cùn cứa thịt như thế này. Càng nghĩ, Tôn Vũ càng thấy buồn, càng thấy đau lòng, bất giác nước mắt tuôn trào, nghẹn ngào nức nở khiến người theo hầu phải hết lời khuyên can không nổi, đành chịu bó tay…

Tôn Vũ rất thích câu cá, dần dần thành một thú mê say, thường đem theo người hầu ra chỗ này buông câu. Và để thuận tiện trong cuộc sống, Tôn Vũ đã mua một chiếc thuyền nhỏ, tự mình chèo lái, qua lại hàng ngày. Từ đấy, Tôn Vũ có khi sớm đi tối về, có khi lấy thuyền làm nhà, ở luôn trên đảo mấy ngày liền. Câu cá là hoạt động có thể làm cho lòng khuây khoả, lại có thể tu dưỡng được tâm tính con người, khiến lòng người thanh thản và bớt nghĩ ngợi. Bởi thế mà giảm được buồn phiền, hơn nữa lại có lợi cho việc hình thành những phẩm chất tốt như bình tĩnh, nhẫn nại, không nôn nóng, vv… Và đó cũng có thể là nguyên nhân chính khiến Tôn Vũ trở nên thích câu cá. Qua xuân sang hạ, mưa liên miên không mấy ngày thấy bóng mặt trời. Mưa mãi cũng chẳng cản được thứ vui thích buông câu của Tôn Vũ. Hàng ngày vẫn con thuyền ấy, Tôn Vũ chèo ra mặt hồ đi vào giữa màn mưa mông lung để tìm đến chỗ quen thuộc. Ở vùng vịnh ấy. Đầu đội nón tre, lưng khoác áo tơi, Tôn Vũ ngồi trên tảng đá, lim dim đôi mắt để mặc cho gió thổi mưa rơi. Không thấy trời xanh cũng chẳng thấy non cao, mặt gương hồ vỡ ra làm muôn mảnh, thuyền đánh cá kéo nhau về cảng, lũ chim trời cũng về tổ từ lâu, hương hoa theo gió bay tản tác, trước mắt chỉ là một màn mưa bạc mênh mang. Gió đã nổi, từng cơn cuồng phong đuổi nhau trên hồ, gầm thét trên những hòn. đảo, điên cuồng và hung dữ, sóng ngầu đục xô lên không, điên cuồng chồm lên chân đảo, như muốn nuốt chửng người buông câu ngồi như đúc trên tảng đá kia. Bỗng nhiên, bỗng có tiếng gọi vang lên từ phía ngược chiều gió thổi, tiếng gọi mỗi ngày mỗi gần, từ chỗ thoang thoảng dần dần, rõ ra từng lời. Một lúc sau, trên mặt hồ mông lung hiện ra một con thuyền nhỏ, chòng chành trên đầu sóng lướt tới bờ bên này rồi nhanh chóng cập mạn. Có người gọi tên Tôn Vũ và nhảy ra khỏi thuyền, chạy tới ôm lấy Tôn Vũ khóc rống lên. Tôn Vũ bất giác thấy vô cùng kinh hãi tựa hồ như gặp ma quỉ giữa ban ngày. Người chạy tới gục vào lòng Tôn Vũ rõ ràng là Diêm Cương, người gia thần ở phủ Lâm Tri, năm nay tuổi đã năm mươi, tai to mặt lớn, lưng hổ eo gấu, hai mắt lúc nào cũng ánh lên những tia sắc lạnh. Ông ta vô cùng trung thành với ông nội Tôn Vũ, ông nội cũng coi người này như con mình đẻ ra, đôi bên gần gũi như một và vô cùng tâm đắc với nhau. Ngày nay xa cách muôn trùng sông núi, Diêm Cương tại sao đột nhiên lại đến bên mình, mà lại vào giữa lúc mưa to gió lớn thế này. Hay đúng là thời vận đã đến lúc hẩm hiu nên giữa ban ngày mà gặp quỷ. Tôn Vũ nghĩ thế, bất giác đưa tay đẩy Diêm Cương ra khỏi lòng mình rồi nhìn trừng trừng vào ông ta. Bị nhìn như thế, Diêm Cương đâm ra lúng túng, giương to đôi mắt kinh ngạc lên hỏi:

– Thế nào, mới vài năm không gặp, cậu cả không nhận ra Diêm Cương này nữa ư?

– Anh! Có thật anh là Diêm tổng tể, người anh em Diêm Cương đó ư… – Tôn Vũ nhìn một lượt từ đầu đến chân người đứng trước mặt mình như ngây như dại.

Nhìn dáng vẻ ấy, lại thấy cách biểu hiện như vậy, Diêm Cương bỗng sinh áy náy, trong lúc thời tiết quỉ quái như ma hờn quỉ ám này, cậu cả lại bỏ vợ bỏ con, vượt qua nguy hiểm chết người, phiêu dạt qua hồ, đến chịu tội ở nơi gió dãi mưa dầu này, không có lẽ lúc nào tâm thần đã… Không đợi cho Diêm Cương nghĩ tiếp, Tôn Vũ vội nhảy chồm tới, ngả vào lòng Diêm Cương, khóc nức nở như một đứa trẻ, nước mắt nước mũi chứa chan. Tôn Vũ đang nghĩ, từ xa xôi ngàn dặm mà Diêm Cương đã phải lặn lội tới đây thế này, vừa mới gặp mặt đã nước mắt ngắn nước mắt dài như thế, hẳn là ở nhà đã gặp chuyện chẳng lành, không phải là ông qui tiên, thì cũng là cha đang mắc nạn, hoặc là mẹ đã ốm đau qua đời, bởi thế mà đau lòng như muốn chết, nước mắt như mưa thế!

Tình cảm con người thường có sự truyền dẫn sang nhau, thấy Tôn Vũ thương xót trong lòng, đầm đìa nước mắt như thế, Diêm Cương cho rằng chắc hẳn là. sau khi xa nhà, đi đến đâu cũng bị chèn ép bắt nạt, bị nhiều phen uất ức, rồi nhớ nhung người thân nên mới không làm chủ được mình, ngay nga ngây ngô không biết mình đã làm những gì. Nghĩ tới năm nào đây là con người thông minh lanh lẹ biết bao nhiêu, đến giờ đây lại hoá ra một con người thế này, như vậy làm sao chẳng khiến người ta xót xa trong lòng từ đó mà tuôn trào nước mắt, ôm chặt lấy nhau, đau khổ không sao kể xiết…

Không, biết họ khóc như thế bao nhiêu lâu, người hầu đi theo đã khuyên nhủ cả hai người. Kỳ thực thì cả hai người đều khóc hão một phen, chẳng đâu vào đâu. Tôn Vũ mang theo gia đình trốn chạy ra khỏi nhà hai năm trời nay không biết tăm hơi ở đâu, cả nhà đều không yên tâm, nên sai gia thần Diêm Cương đến đây dò hỏi. Diêm Cương nói với Tôn Vũ, ông nội Tôn Thư tuy tuổi đã tám mươi, nhưng chân tay còn khoẻ mạnh, tinh thần cũng rất tỉnh táo, đang yên tâm di dưỡng tuổi già. Còn người cha, Tôn Bằng, tuy có tham dự vào vụ phản loạn của Cao Chiêu Tử, nhưng nhờ lượng khoan hồng của Yến Thái tể, không hề chấp nê gì nên rất cảm động và thấm thía, tích cực phối hợp với Yến Anh chỉnh đốn lại kỷ cương triều đinh, ông được phân công hoạt động đối ngoại; nên đang phát huy đầy đủ được sự thông minh và tài trí của mình. Bà mẹ, Phạm Ngọc Lan do đám mây đen bao phủ trên gia đình đã tan biến mất, trong lòng thanh thản, sức khoẻ đang dần dần được hồi phục, có phần còn thấy như trở lại tuổi xuân. Tâm tư chung của cả nhà lúc này là luôn tưởng nhớ tới con tới cháu đang phải đi xa, đêm ngày mong nhớ, ăn không ngon, ngủ không yên…

Nghe Diêm Cương kể lặn một hồi như vậy, Tôn Vũ mừng không để đâu hết, hòn đá vẫn đè nặng trong lòng như được vất bỏ đi, và không hiểu sao nước mắt lại trào lên khoé mắt. Thế nhưng lần này không phải là những giọt nước mắt đau khổ, những giọt nước mắt bi thương, mà là những giọt lệ mừng vui, những giọt lệ xúc động.

Tôn Vũ bá lấy hai vai Diêm Cương mà quay vòng dưới trời mưa, quay bên trái mấy vòng, rồi lại quay sang bên phải mấy vòng. Sau khi mừng rỡ quay vòng như thế, Tôn Vũ sai ngươi hầu thu dọn đồ lề, lập tức quay về ngay, cho dù mưa gió có điên cuồng, có phải gửi thân vào bụng cá cũng chẳng sợ. Mấy người mừng rỡ về đến nhà, Tôn Vũ dặn vợ mổ gà mổ vịt, bày tiệc uống vui để tẩy trần cho Diêm Cương sau một chặng đường đất gió bụi, và hơn thế nữa là mừng cho cả nhà họ Tôn đã tai qua nạn khỏi. Từ ngày xa nhà đến nay, tuy Tôn Vũ cũng nhiều khi mượn rượu giải sầu nhưng chưa bao giờ như hôm nay, uống đến mức say lảo đảo, mê man không biết gì. Người vợ ở bên cạnh thấy chồng uống vui như thế, không khuyên ngăn, cũng chẳng trách móc, bởi hôm nay quả thực là Tôn Vũ mừng vui thực sự.

Ba hôm sau, cả nhà bàn chuyện trở về quê cũ. Lòng người về tựa mũi tên bay, ai cũng chỉ ước ao sao có thể nhổ neo mà đi ngay để sớm được về sum họp gia đình. Diêm Cương cũng mang tới cả sự phân tích của Tôn Thư với tình thế nước Tề lúc đó, ông cho rằng, tình thế nước Tề lúc này là ổn định, chính nghĩa đã chiến thắng gian tà, nhưng đó là hiện tượng tạm thời. Yến Anh tuổi tác đã cao, sẽ không còn sống lâu được ở trên đời, đợi Yến Anh qui tiên, thế lực chính trị các phe phái tất sẽ phải qua một cuộc tranh đấu và hỗn chiến, thắng bại rất khó lường. Nói cách khác, nước Tề đang ở trên miệng núi lửa, bất kể lúc nào cũng có thể xảy ra nguy cơ động đất hay núi lửa bùng nổ. Ông đã bảo Diêm Cương nhắn với Tôn Vũ rằng: đã rời xa được mảnh đất thị phi này rồi, thì hãy tạm đừng quay về vội để tránh một cuộc biến động sắp xảy ra mình lại bị cuốn vào đó. Tôn Vũ xưa nay vốn sùng bái ông nội của mình như một vị thần minh, nay qua sự phân tích tình thế nước Tề của ông nội, Tôn Vũ cảm thấy rất sát với tình hình thực tế. Hơn nữa, ông nội đã có lệnh như thế, nên Tôn Vũ đã bỏ ý định đi cùng với Diêm Cương về nước ngay, thay vào đó là viết một bức thư dài, kể tường tận mọi điều từ sau khi xa nhà, để cho Diêm Cương mang về. Diêm Cương ở lại mấy ngày, thăm chơi hết mọi phong cảnh của đất Giang Nam, sau đó mới lên đường quay về.

Từ đó, Tôn Vũ thôi không say mê với việc buông câu, mà chuyên tâm vào việc tu sửa mười ba bài “binh pháp”.

Lần sửa chữa này, Tôn Vũ đã nêu bật thêm tư tưởng chỉ đạo và đặc điểm nội dung của “binh pháp”, cụ thể được thể hiện ở mấy mặt sau đây:

Cố gắng phản ánh qui luật phổ biến của chiến tranh, bàn về những nhân tố có thể đưa chiến tranh tới thắng lợi, nhấn mạnh tầm quan trọng của “miếu toán” (quyết sách quân sự cao nhất trước khi chiến đấu).

Nhấn mạnh quan hệ giữa chiến tranh với nhiều nhân tố tổng hợp như chính trị, kinh tế, ngoại giao; khí tượng, địa lý… Đánh thận trọng là nguyên tắc cơ bản để người đứng đầu một nước, người làm tướng soái bầy mưu tiến công hay trấn giữ – Phát động chiến tranh, tổ chức chỉ đạo chiến tranh phải lường thời lựa thế, liệu địch mà nêu quyết sách, tuyệt đối không thể dùng binh một cách dễ dãi hớ hênh.

Dùng mưu lược để giành lấy thắng lợi là linh hồn của “binh pháp”, cần thứ quân “không đánh mà khuất phục được người khác” để “giành lấy toàn thiên hạ”, tổng hợp lợi dụng các thủ đoạn chiến tranh như chính trị ngoại giao, kinh tế, khoa kỹ tránh dùng cái dũng của kẻ sất phu.

Phải thể hiện được mưu trí dùng binh “tuỳ thế mà dẫn dắt”, về chiến lược cũng như chiến thuật, phải cố làm sao “lôi kéo được địch mà địch không lôi kéo được mình đi”, cố gắng nắm được quyền chủ động trong chiến tranh.

Nhấn mạnh khía cạnh “cái khéo trong vận dụng là ở chỗ nhất tâm”, tức là căn cứ vào những mặt khác nhau của tình hình địch, tình hình ta, của địa hình và các điều kiện khác mà dùng binh cho linh hoạt.

Nêu bật một nguyên tắc quân sự quan trọng là “biết mình biết người, trăm trận không thua”; cũng tức là thực sự cầu thị, nắm chắc mọi tình huống, mới dứt khoát quyết tâm chiến đấu đánh bại kẻ địch. Nếu không, chủ quan ức đoán, tung quân ra bừa bãi, tất nhiên sẽ dẫn đến thất bại.

Cầm quân phải làm sao ngoài sự lường đoán của địch, biến hoá vô cùng vận dụng khéo léo kỳ chính, hư thực, nhấn mạnh việc tiến công địch với ưu thế hổ dữ vồ cừu non, kết thúc chiến dịch hay một cuộc chiến đấu bằng thủ đoạn nhanh như sét đánh không kịp bịt tai.

Khảo sát mấy tháng ở đất nước phương nam, Tôn Vũ nhận ra sự nguỵ hại và tác dụng của sông ngòi, đầm hồ trong quân sự, nhất là trong khi hành quân; lần này sửa chữa “binh pháp” những điều đó đã được bù đắp vào thật đầy đủ, chẳng hạn như trong “quân tranh biên” đã viết: “Người nào không biết hình hình núi rừng, sự hiểm trở, hình thế đầm hồ ra sao, không thể hành quân được”. Trong “Cửu địa biên” thì nói:”Trong phép đùng binh có nói đến “đất bỏ đi”, “đi đến vùng rừng núi, hiểm trở, đầm hồ… phàm gặp những con đường khó đi, đều thuộc vào “đất bỏ đi” – “đầm hồ” nêu lên trong hai trường hợp vừa rồi, đều là những nội dung mới được bổ sung thêm. Trong “hành quân biên”, còn bổ sung rất tỉ mỉ về nguyên tắc xử trí trong tác chiến ở vùng sông nước hay vùng đầm lầy ngập mặn là: “Vượt sông ngòi, phải đóng quân ở nơi cách dòng sông đó khá xa; Nếu quân địch vượt sông sang tấn công, thì không nên đón đánh trên sông, mà phải thừa lúc chúng đã vượt sang được một ít, một nửa còn chưa sang mà đánh chúng, như thế sẽ tương đối có lợi hơn; nếu muốn giao chiến với địch, thì không nên đón đánh chúng ở nơi gần sông, đóng quân ở vùng sông nước, cũng nên ở chỗ cao mà thoáng, chớ có đóng quân hay bầy thế trận ở vùng hạ lưu so với nơi địch đóng quân. Những cái đó đều là nhưng nguyên tắc xử trí khi hành quân hay tác chiến ở vùng sông nước. Đi qua vùng sình lầy ngập mặn, nên nhanh chóng rời xa, không nên đừng lại. Nếu như gặp địch ở vùng sình lầy ngập mặn, thì phải tìm cách chiếm lĩnh nơi có cỏ nước mọc và ở gần rừng cây. Những cái đó là nguyên tắc xử trí khi hành quân tác chiến ở vùng sình lầy ngập mặn. Ở vùng thượng du của một dòng sông có mưa bão, nhìn bọt nước trôi xuống, phải chờ cho thế nước bình ổn rồi mới có thể vượt sông được, để đề phòng nước lũ ập tới, vv…

Trong lần sửa chữa này, về mặt chữ nghĩa, Tôn Vũ cũng bỏ ra khá nhiều công sức, mong sao hành văn phải chuẩn xác, tránh lập lờ tối nghĩa khiến cho người ta hiểu sai hoặc sinh điều dị nghị; hành văn phải sinh động giàu hình tượng chứ không khô khan nhàm chán, nhạt như nước ốc ao bèo; văn phải thông tục bình dị mà không trúc trắc khó hiểu; đồng thời sâu sắc nhưng dễ hiểu, vừa nói rõ được những lý lẽ sâu xa về quân sự, những lại vừa làm cho ai ai cũng đọc được rõ ràng, cho dù đó là các sĩ quan cấp dưới hay binh lính nói chung cũng vậy, và đọc tất có ích lợi ngay.

Sửa chữa tác phẩm, từ một ý nghĩa nào đó mà nói, còn khó khăn vất vả hơn là bài viết mới, nó đòi hỏi phải bổ sung nâng cao, tìm tòi gọt dũa, cô đọng nhào luyện, để nó được tròn trịa, kín kẽ, thuần chất như lửa xanh trong lò. Từ khi bắt tay vào tu sửa “binh pháp”, chẳng những Tôn Vũ bỏ hẳn thú buông câu mà còn từ bỏ nhiều thú vui ham thích khác, ngày ngày cặm cụi miệt mài trên án thư, đúng như một pho tượng gỗ; cơm canh đưa đến cũng chẳng thiết gì ăn; đêm đã khuya cũng chẳng nghĩ đến chuyện đi ngủ; trời lạnh, không biết mặc thêm áo; nổi cơn sốt, khắp mình mồ hôi ướt đầm, cũng chẳng nghĩ đến chuyện mời thầy, uống thuốc… Thi thoảng bước ra khỏi cửa, Tôn Vũ cũng không phân biệt được phong cảnh núi sông ở quanh mình, không nhận ra những người bạn cùng buông câu hái thuốc với mình, không biết được mình đang ở ngoài thành Cô Tô, ở bên bờ Thái Hồ, ở nơi rừng sâu Khung Long, không về nổi nhà mình… Trong tình hình này, nếu như không có sự chăm lo săn sóc ân cần của người vợ thân yêu Điền Thục Hiền, đừng nói thành tựu một sự nghiệp lớn lao mà ngay tính mạng, ngay thân xác của Tôn Vũ, e rằng cũng khó mà tồn tại trên đời này. Bởi vậy, nên hiểu rằng, ở đằng sau mỗi một người đàn ông thành đạt bao giờ cũng có một người đàn bà kiên cường đang ủng hộ và dõi trông.

Lại nói đến Ngũ Tử Tư giúp Cơ Quang mưu sát được Vương Liêu, cướp được chính quyền; lại tiến cử Thạch Yếu Ly, trừ khử Khánh Ky, củng cố được chính quyền. Hạp Lư lúc này, quyền lớn đã nắm trong tay, giang sơn vững vàng, hể hả trong dạ, mừng như mở cờ trong bụng, đang sống trong cảnh ba ngày một tiệc nhỏ, năm ngày một việc lớn, vua tôi chúc mừng nhau, vui vầy hưởng lạc. Một hôm, giữa buổi tiệc tưng bừng đèn sáng rượu ngon, mâm cao cỗ đầy do Ngô vương bày ra thết đãi. Mâm trên cùng, Ngô vương ngồi xuống trước, các quan văn võ còn lại không cần phải khiêm nhường, bè đảng thì theo tuổi tác, mà triều đình thì theo chức tước, bất kể là lão thần hay một viên quan vừa mới sang hàng, đều theo thứ bậc thân phận cao thấp lần lượt vào ngồi. Đang giữa lúc trong sảnh đường hương thơm ngào ngạt, nhã nhạc tưng bừng, quần thần vừa nâng cốc, chén bát chạm nhau… thì Ngữ Tử Tư bước vào phòng tiệc. Vì việc công nên ông đã đến trễ một bước. Thấy Ngũ Tử Tư bước vào, Hạp Lư vội vời ông tới ngồi bên cạnh mình. Ngũ Tử Tư không nghe, đáp lại rằng:

– Ngũ Viên tôi vốn con nhà võ, nhưng cũng đã được học hành và biết điều lễ nghi, đâu dám lại chơi trèo như thế ạ! – ông khăng khăng không chịu ngồi vào chỗ đó.

Hạp Lư nói:

– Nói thế là sai! Nếu như không có ái khanh phò tá cả nhà quả nhân đâu có hôm nay? – nói xong và cố tình ép Ngũ Tử Tư ngồi xuống bên mình.

Văn võ bá quan người nọ nhìn người kia, chẳng ai là không gửi trong ánh mắt của mình một niềm hâm mộ và nỗi thèm muốn khát khao, không ít người còn ghé tai nói vụng với nhau điều gì nhưng xem ra không hề có ác ý. Mặc dù vậy, Ngũ Tử Tư vẫn cứ thấy bứt rứt trong lòng, chẳng ăn gì, cũng chẳng uống chút nào, khéo léo từ chối mọi lời chúc tụng và kính nhường của các quan cùng triều. Hạp Lư thừa biết rằng nơi lòng của Ngũ Tử Tư lúc này đang rất nặng nề, ông mấy lần nêu ra việc dấy binh đánh nước Sở, để trả thù cho cha anh và hơn ba trăm oan hồn khác của nhà mình, nhưng ta lại cứ kiếm cớ khất lần, đó chính là nguyên nhân khiến ông ta không vui và lúc nào cũng u uất trong lòng. Tuy nhiên, Hạp Lư vẫn cố làm như không biết, làm ra bộ hết sức quan tâm gần gũi hỏi:

– Ngày lễ chúc mừng, cớ sao ái khanh mặt ủ mày chau, không ăn, không uống, hay là trong người không được khỏe?

Ngũ Tử Tư vốn là con người rất thẳng thắn, xưa nay chưa từng che giấu quan điểm của mình, liền nói toạc móng heo ra:

– Khánh Ky đã trừ khử rồi, minh công ngày nay đã xong việc lớn, không còn gì lo ngại mai sau nữa, nhưng không biết bao giờ mới đem quân đi đánh Sở?

Hạp Lư chống chế ngay:

– Thôi! Ngũ tướng quân! Hôm nay hãy cứ uống rượu đi đã, việc ấy mai sẽ bàn!

Ngũ Tử Tư vẫn đứng trân trân ra đấy, nghĩ bụng, thế cũng phải thôi, hôm nay uống rượu mừng công, không phải lúc nói chuyện khác, một lúc lâu mới gượng gạo ngồi xuống.

Ngũ Tử Tư vừa ngồi xuống, Bá Bỉ liền đứng phắt dậy. Ông ta đã từng mời rượu Ngô vương, còn đứng dậy làm gì vậy? Thì ra, trong vấn đề đánh nước Sở để báo thù, ông đã tự vạch ra cho mình một qui định thế này: Ngũ Tử Tư mà nói ra, ta cũng nói thêm vào mấy câu. Vừa rồi Ngũ Tử Tư có nói với Ngô vương việc đem quân đi báo thù, nên lúc này Bá Bỉ cũng ung dung bước tới trước mặt Ngô vương, vái dài một vái, nói:

– Mối thù hận cả nhà cả cửa của thần lúc nào cũng canh cánh bên lòng, ngày đêm chẳng yên, dám xin chúa công hãy sớm ra quân.

Bá Bỉ nói thế khiến Ngô vương cụt hứng, tỏ ra khó chịu đáp:

– Biết rồi! Thì đã bảo để mai bàn mà lại…

Bá Bỉ chẳng qua cũng làm ra bộ như thế, nói xong rồi cũng thôi, quay trở lại chỗ ngồi, ăn uống vội vàng, như hùm đổ đó.

Rượu cạn tiệc tàn, Ngô vương trở lại hậu cung nghỉ ngơi, các quan văn vũ cũng lần lượt cáo lui, đề người khác vào thu dọn cơm thừa canh cặn.

Buổi chầu sớm hôm sau, Ngô vương lên điện, các quan văn võ cùng tham dự. Ngũ Tử Tư bước tới vái chào vấn an:

– Ngũ Viên có lời vấn an chúa thượng!

– Tướng quân miễn lễ! Hãy ngồi đi! – Ngô vương nghiêng mình nói.

Nội thị đưa vào một chiếc ghế bố, đặt vào góc trên cùng. Ngũ Tử Tư nhổm dạy, lạy một lạy nói:

– Tối hôm qua đội ơn minh công đã hứa, hôm nay sẽ bàn việc ra quân, nhưng chẳng hay ngay nào mới cất quân?

– Đây là việc lớn, phải để cân nhắc đã – Ngô vương lại diễn lại tích cũ, cố ý lần khân.

Trong đám đình thần, Bá Bỉ lại đứng hẳn lên. Hễ nói đến chuyện này, có Ngũ Tử Tư thì thế nào cũng có ông này, cứ một trước một sau như thế. Bá Bỉ quỳ hồi lâu xuống đất, khẩn khoản rằng:

– Mối thù lớn của gia đình chúng thần, mong chúa thượng hãy gia ơn…

– Quả nhân nhất định sẽ trả thù cho các khanh – Ngô vương ngắt ngang lời Bá Bỉ – Có điều nếu như cất quân, thì ai là người sẻ làm chủ tướng dẫn quân đây?

Ngũ Tử Tư vừa nghe liền ngớ ra:

– Chuyện ấy… xin cứ nghe theo minh công giao phó ạ! – Ngũ Tử Tư thầm nghĩ: Vả lại chuyện quả như thế thật, nếu như cất quân, sẽ đưa ai lên làm chủ tướng?

Đây hoàn toàn không phải việc bạ ai cũng có thể gánh vác được, tướng tài có thể thống lĩnh toàn quân của nước Ngô, quả thực củng không phải dễ kiếm. Khó tìm thì khó tìm, không có nghĩa là không có ai. Ngũ Tử Tư này cũng là một trong số đó, thế nhưng, điều này làm sao có thể tự mình dày mặt ra mà lớn tiếng nói ra cho được? Đành phải đáp “nghe theo minh công giao phó” thôi chứ biết làm sao được?

Hạp Lư cũng thừa biết tâm tư của Ngũ Tử Tư lúc này, chính nhà ngươi đã chẳng nói được ra ai có thể làm tướng, thế thì ta đã có thể chống chế được rồi:

– Thế cho nên chuyện lớn này phải được cân nhắc kỹ. Thôi nhé, để đến tối hãy bàn!

Đến tối, Ngũ Tử Tư một mình vào cung, thăm dò xem rốt cuộc lúc nào thì Ngô vương cho cất quân. Cũng loanh quanh mấy câu ấy, Ngô vương nói đến cất quân là nhắc đến chuyện lấy ai làm chủ tướng. Nói đến chuyện chọn ai làm tướng là lại bảo hãy để cân nhắc thêm đã. Cuối cùng là “Buổi chầu sáng mai sẽ bàn”. Cứ như thế, sáng thì bảo để đến tối, rồi tối lại đến sáng, lùi đi lùi lại khá lâu, gót giày của Ngũ Tử Tư dễ muốn mòn vẹt đi mất.

Một hôm, Ngũ Tử Tư từ trong cung trở về, thở ngắn than dài một mình ở thư phòng. Không ngờ đâu Hạp Lư lại là một con người như thế, mình đã giúp ông ta nêu ra ý định, rồi tiến cử bạn bè, trước sau đã bỏ mạng mất mấy vị anh hùng, vất vả lắm mới giành được ngôi báu về cho ông, rồi củng cố cả chính quyền, đến bây giờ ông ta lại không lo gì đến việc của mình, lùi hết lần này lần khác, không chịu cất quân. Sớm mà biết như ngày hôm nay, thì ngay từ đầu, ta đã chẳng để mất toi đi quãng tháng ngày hơn chục năm trời… Ngũ Tử Tư thầm nghĩ một mình như thế, khác nào như có hàng loạt mũi tên đâm loạn xạ vào tim mình, lo lắng bồn chồn đi đi lại lại quanh quẩn trong phòng, tựa hồ như kiến bò trong chảo nóng. Bỗng nhiên Ngũ Tử Tư thấy trước mắt mình rạng sáng như người từ trong hầm tối bước ra nơi chói loà ánh sáng, mối nghi hoặc trong lòng bỗng dưng tiêu tan hết. Tuy mình trí dũng song toàn, thừa sức làm một vị tướng – Ngũ Tử Tư nghĩ ra – nhưng Hạp Lư vẫn khăng khăng không dùng. Bởi vì mình chỉ luôn nói đến trả thù rửa hận cho cả nhà mình, mà chưa bao giờ bày tỏ rằng nguyện ở lại nước Ngô làm quan, Hạp Lư sợ mình sau khi đã trả thù được rồi, sẵn binh quyền trong tay, không trở lại nước Ngô nữa, thậm chí còn trở thành đối thủ của nhà Ngô, như thế thì ông ta sẽ bị người đời phỉ nhổ, đời sau cũng không ai đếm xỉa nữa…

Từ đó, khi gặp Ngô vương, Ngũ Tử Tư thôi không nhắc đến chuyện cất quân đi đánh Sở nữa. Một hôm, Ngô vương và quần thần đi dạo chơi bên bờ Thái Hồ, nhìn mặt hồ bao la bát ngát, chỉ thấy một con chim ưng sải cánh bay vòng mãi tít trên cao, chim trĩ thỏ rừng bàn nhau lẩn trốn, chim oanh chim sẻ lặng hót ẩn mình, Hạp Lư nhìn thấy vậy tức cảnh sinh tình, bất giác nhìn lên cao thở dài mấy lần như vậy. Quần thần theo hầu không hiểu nguyên nhân khiến đại vương xúc động, người nào người ấy ngó ngược ngó xuôi, nhìn nhau không nói, Ngũ Tử Tư bước lên trước tâu rằng:

– Chúa công đang băn khoăn thấy nước Sở quân nhiều tướng lắm, nước Ngô không ai làm tướng soái nên mới thở dài chứ gì ạ?

Ngô vương thành thật đáp:

– Biết lòng ta, không ai bằng ái khanh thật!

Ngũ Tử Tư mừng thầm trong bụng, nói:

– Thần xin tiến cử một người, có thể làm thống soái, đánh nước Sở có thể bảo đảm toàn thắng!

Hạp Lư nghe nói thế, mừng như mở cờ trong bụng. Kỳ thực, ngay lúc giành lấy ngôi báu, Ngô vương đã có ý nhòm ngó giang sơn tươi đẹp của nước Sở. Phía tây ra oai với nước Sở hùng mạnh, phía nam thôn tính nước Việt yếu đuối, tung quân chinh phạt mạn bắc, tranh bá với chư hầu trung nguyên. Đánh nước Sở, là nền tảng để tranh quyền bá chủ chư hầu, không phải chỉ riêng có trả thù rửa hận cho một mình Ngũ Tử Tư, vì Hạp Lư là một ông vua có chí lớn, một ông vua có thể làm nên và có triển vọng. Bây giờ đã có người đem quân đi đánh nước Sở, đương nhiên Hạp Lư không mong muốn gì hơn, nói:

– Tướng quân không phải vì nôn nóng muốn báo thù, nước Ngô đã có người tài làm tướng soái, quả nhân làm gì chẳng biết!

Ngũ Tử Tư cười hì hì nói:

– Sông núi nước Ngô hun đúc nên vẻ đẹp; nhân kiệt địa linh, người tài giỏi đời nọ nối đời kia, sao lại có thể không có người tài làm tướng soái?

– Nói như thế, hẳn là ái khanh lại mới kết thân được một bậc anh tài trong thiên hạ – Hạp Lư sốt sắng hỏi – nhưng không biết người ấy có khoẻ được bằng Chuyên Chư, có mưu trí được bằng Yếu Ly?

Ngũ Tử Tư lại cười hì hì, nói:

– Tâu đại vương, người em kết nghĩa Chuyên Chư, ông bạn mới Yếu Ly của thần, tuy đưa được người ta đến chỗ chết, nhưng cuối cùng phải bỏ mạng mình, có gì mà đáng nói ạ!…

Hạp Lư khẽ gật đầu. Thật vậy, nói cho cùng, hai người chẳng qua chỉ là tên thích khách, liều thân mình, để đổi lấy mạng người khác, người như thế khó có thể gánh vác được việc lớn, càng không đủ để xưng là anh tài…

– Anh tài mà tướng quân định tiến cử tên họ là gì, người ở đâu ta? – Hạp Lư hỏi.

– Họ Tôn tên Vũ, ẩn dật ở vùng sâu Khung Long – Ngữ Tử Tư đáp.

– Người ấy rốt cuộc có tài cán gì? – Hạp Lư hỏi dồn.

Ngũ Tử Tư chậm rãi trả lời:

– Nếu nói về văn, văn có thể an bang; bàn về võ, võ có thể định quốc; rất xứng đáng làm rường cột. Nếu minh công có được người này, chẳng khác gì Chu Vũ vương có được Khương Thượng, Thương Thang được Y Doãn, Tề Hoàn Công có Quản Trọng, đừng nói chỉ có đánh nước Sở để xưng bá, ngay như muốn mở mang xuống Cửu Châu, thôn tính các nước, cũng chẳng phải là việc khó.

– Ái chà chà! – Hạp Lư mừng ra nét mặt – vậy xin hỏi ái khanh vị anh tài chọc trời khuấy nước ấy, phải chăng là người nước Ngô ta.

– Dạ chính là người nước Ngô – Để Ngô vương khỏi sinh nghi kỵ, Ngũ Tử Tư đã cố ý bảo Tôn Vũ là người nước Ngô.

– Nước Ngô đã có được một bậc đại tài như thế, tại sao quả nhân lại không hề biết nhỉ? – Hạp Lư vừa nghi ngờ vừa nuối tiếc hỏi vậy.

Câu hỏi của Ngô vương rất chi là có lý – Tôn Vũ đến nước Ngô, ở ẩn tại một vùng rất sâu, người đời không hề biết.

Ngũ Tử Tư giải thích rằng:

– Tôn Vũ vốn rất lạnh nhạt với danh lợi, ở ẩn sâu trong rừng núi, ít lộ mặt ra, lấy “binh pháp” là nghiệp, đại vương làm sao mà thấy được.

Nhắc đến hai chữ “binh pháp”, Hạp Lư bỗng phấn chấn tinh thần, giương tròn hai mắt lên hỏi:

– “Binh pháp”? Cái gì là “binh pháp”?

Ngũ Tử Tư đáp:

– Tôn Vũ tự viết ra mười ba bài “binh pháp”, một là “kế biên”, hai là “tác chiến biên”, ba là “mưu công biên”; bốn là “hình biên”; năm là “thế biên”, sáu là “hư thực biên”, bảy là “quân tranh biên”, tám là “cửu biến biên”, chín là “hành quân biên”; mười là “địa hình biên”, mười một là “cửu địa biên”; mười hai là “hoả công biên”; mười ba là “dụng gián biên”… – Ngũ Tử Tư còn giới thiệu cụ thể cốt lõi và tư tưởng trọng tâm, nội dung chính của mỗi bài, và đọc làu làu hàng loạt những nguyên tắc quân sự, chẳng hạn “chiến tranh là việc lớn của đất nước, nó quan hệ đến sống chết mất còn, là thứ không thể không nghiên cứu khảo sát kỹ” hoặc “trăm trận trăm thắng, chưa phải là giỏi trong người giỏi, không đánh mà khiến quân địch khuất phục, mới là giỏi trong những người giỏi” hoặc “biết người biết ta, trăm trận không thua” vv…

Nghe những lời giới thiệu của Ngũ Tử Tư, Hạp Lư hết lời khen ngợi, luôn mồm kêu là tuyệt, chỉ những muốn ngay lập tức được gặp mặt Tôn Vũ, để cùng bàn kế đem quân đánh nước Sở, bèn khẩn khoản:

– Thôi tướng quân hãy chịu khó vất vả một chuyến, thay mặt quả nhân, đến tận Khung Long, mời vị cao hiền ấy ra khỏi núi.

Ngữ Tử Tư nói:

– Người này vốn xem thường quan tước, không phải hạng tầm thường, phải lấy lễ nghi mà mời, mới có thể thuyết phục nổi.

– Cái đó tuỳ khanh, sửa lễ hậu để đón người hiền – Hạp Lư tỏ ra rất khảng khái và phóng khoáng.

Ngũ Tử Tư lại nói:

– Lần này đi, nếu mời được Tôn Vũ, việc đem quân đánh nước Sở sẽ…

– Xin tướng quân hãy yên tâm – Hạp Lư ngắt ngang lời Ngũ Tử Tư – Miễn là cứ đón được bậc cao hiền đó về, quả nhân nhất đinh dùng làm đại tướng, đem quân đi đánh nước Sở, đề báo thủ rửa hận cho tướng quân!

Ngô vương cho người chuẩn bị mang theo mười dật vàng, một đôi bạch bích, ngoài ra còn sửa tám thứ đại lê, viết một lá thư chào, trao cho Ngũ Tử Tư luôn mang theo bên mình. Ngũ Tử Tư dùng xe tứ mã đi đến Khung Long mời Tôn Vũ.

Tôn Vũ đã ẩn dật nơi rừng sâu núi thẳm thế, Ngũ Tử Tư làm sao có thể quen biết được? Đó là chuyện khi Ngũ Tử Tư mới đến Mai Lý kinh đô nước Ngô, vốn định trước hết bái yết Cơ Quang, nhưng vừa hay lúc đó Cơ Quang lại đang đi chơi xa ở phía nam, Ngũ Tử Tư một xu không dính túi, cùng với công tử Thắng không biết dựa vào đâu mà sống, đành phải lang thang khắp phố phường thổi sáo kiếm tiền, không ngờ tiếng tiêu sầu ai oán làm xúc động Ngô vương Liêu. Vương Liêu cho vời gặp, phong làm thượng đại phu, và bày tỏ sẽ giúp Ngũ Tử Tư trả mối thù cả nhà bị giết hại. Cơ Quang từ phía Nam quay về, nghe nói Ngũ Tử Tư đã được Vương Liêu trọng dụng, trong lòng không yên, liền khéo dùng kế ly gián, qua nhiều phen vất vả quanh co, Ngô vương Liêu cuối cùng đã lánh xa Ngũ Tử Tư, không bàn đến chuyện đánh nước Sở nữa. Ngũ Tử Tư là người rất biết điều, từ luôn chức thượng đại phu, cùng với công tử Thắng về cày cấy ở Dương Sơn. Dương Sơn ở phía bắc núi Khung Long, là một quả núi to thứ nhì ở bờ đông Thái Hồ chỉ sau có Khung Long, thế núi rất hiểm trở, mười lăm ngọn cao vút chọc trời, ngọn nào cũng mang đặc điểm của mình, cao nhất là đỉnh Tiễn Khuyết, núi cao rừng rậm, trúc mọc um tùm, là nơi rồng cuốn hổ nằm. Trời cuối thu, một mình Ngũ Tử Tư, gùi bình nước trên lưng với một ít lương khô, đi lang thang khắp nơi, cho khuây khoả bớt niềm khắc khoải trong lòng. Bỗng một hôm đi đến núi Khung Long, ông chém gai góc, xua sói lang, trèo đèo lội suối đi giữa rừng sâu núi thẳm không nhằm một mục đích nào hết, tiếng gà gáy chó sủa đã đưa ông đến một vùng vách đá bao quanh ở tận xó rừng, đến một gia đình sống riêng rẽ một mình ở đó, chính là hàn xá của Tôn Vũ đang ở ẩn. Lúc ấy, Tôn Vũ đang đọc “binh pháp” làm công việc chuẩn bị trước khi đi vào sửa chữa, đầu giường cuối giường, đâu cũng thấy đầy dẫy những thẻ tre ghi chép. Bỗng thấy có người lạ bước vào, Tôn Vũ định thu dọn lại và trốn đi, song không kịp nữa. Ngũ Tử Tư với Tôn Vũ, tuy mới gặp nhau lần đầu, nhưng hai người đã mến mộ nhau từ lâu, vừa gặp nhau, họ cứ như rơm khô gặp lửa, quấn quít lấy nhau chuyện dứt không ra. Ba ngày đêm liền, họ bàn bạc đến việc lớn trong thiên hạ, bàn về binh thư về sách lược chiến đấu, kể lể về cảnh ngộ của mỗi người. Khi Ngũ Tử Tư kể đến chuyện hơn ba trăm con người trong nhà mình bị tên hôn quân chém sạch giết hết, Tôn Vũ cũng buồn lây và nước mắt chảy mãi không thôi, đồng thời cũng bày tỏ sẽ giúp Ngũ Tử Tư trả thù rửa hận. Một đôi anh hùng hào kiệt, tuy không cùng sinh một ngày, lớn không cùng một nơi, không uống chung một dòng nước, nhưng vừa gặp nhau đã như quen biết từ lâu, dần thành tình bạn chân thành, chuyện trò với nhau hết sức tâm đắc, phối hợp nhau rất nhịp nhàng, tôn trọng lẫn nhau, thông cảm với nhau. Mười ba bài “binh pháp” của Tôn Vũ, chính đã được Ngũ Tử Tư đọc trong dịp ấy và đã nhớ mãi trong lòng.

Ngũ Tư Tư đã đến trước sân căn nhà Tôn Vũ đang ở đấy, nhưng hôm ấy Tôn Vũ lại không ở nhà. Điền Thục Hiền biết Ngũ Tử Tư là bạn chí thân của chồng mình nên không dấu giếm gì, đã thổ lộ hết chân tình. Nguyên là qua một thời gian dài đi thăm thú các nơi ở miền Nam, Tôn Vũ đã làm quen được khá nhiều bạn chân thành, ông không thể ở ẩn được nữa, thường ngày luôn có bạn bè đến căn nhà tranh của ông đến gây rối. Đương nhiên,.những người bạn này đều không biết tên thật của Tôn Vũ, lại càng không hiểu thân phận và lai lịch của ông, chỉ biết đấy là một anh chàng ở tận trong rừng sâu chuyên đi hái thuốc, đẵn củi và săn bắn. Đã thường thường có bạn đến chơi, công việc sửa chữa “binh pháp” không sao có thể tiến hành được, một là lo bị quấy rầy, hai là sợ rằng sẽ lộ nguồn gốc của mình ra, thế là sau khi được vợ mình đồng ý, Tôn Vũ mang theo một người hầu, lần vào ở trên một hòn đảo nhỏ giữa hồ Tây Yêm, vừa chăm vườn làm ruộng vừa sửa chữa “binh pháp”. (Người đời sau kỷ niệm nơi Tôn Vũ đã từng ở đảo nay để sửa chữa “binh pháp” nên đã xây ở đây ngôi miếu gọi là miếu Tôn Vũ, bốn mùa hương khói, hòn đảo nhỏ này cũng vì thế mà mang tên Vũ Miếu đôn).

Sau khi chia tay Điền Thục Hiền, Ngũ Tử Tư liền đến hồ Tây Yêm và đi thẳng đến giữa đảo, nghe ngóng bốn bề. Nghe thấy tiếng gọi của Ngũ Tử Tư, Tôn Vũ nâng phên giậu lên đón tiếp, bạn bè thân lâu ngày gặp lại nhau, mừng rờ và nhiệt tình cứ như có lửa đốt. Sau khi hàn huyên với nhau, Tôn Vũ hỏi:

– Hiền đệ bận hàng trăm việc trong triều, nay hạ cố đến hàn xá đây, chẳng hay có chuyện chi dạy bảo.

Ngũ Tử Tư thấy hỏi vậy liền đáp:

– Ngô vương từ lâu đã mộ tiếng tăm của nhân huynh như sét đánh bên tai, ngặt một nỗi việc nước bận rộn mà không có thuật phân thân, nên đành sai Ngũ Viên tôi thay mặt đến đây xin mời huynh ra khỏi đây để giúp đỡ một tay.

Tôn Vũ lắc đầu cười bảo:

– Tôi ở nơi xó rừng Khung Long này lâu rồi, lại dời đến hòn đảo quạnh hiu giữa trời nước này, cách biệt với đời, Ngô vương làm sao mà biết được Tôn Vũ quê mùa này? Chắc lại có hiền đệ tiến cử thôi chứ gì?

Biết Tôn Vũ không ưa quanh co rắc rối, Ngũ Tử Tư bèn nói thẳng ra:

– Đúng là Ngũ Viên này tiến cử, song Ngô vương rất thành tâm mời gọi..

Tôn Vũ lại lắc đầu lần nữa nói:

– Đành rằng thế, nhưng lâu nay tôi đã không thiết gì đến công danh lợi lộc, nên mới đến Khung Long hái thuốc, ra đảo vắng cấy trồng, tuy nhờ hiền đệ có lòng tốt tiến cử, song việc này quả thực là không thể nghe theo được!

– Nhân huynh hà tất quá câu nệ như vậy – Ngũ Tử Tư nói đầy vẻ xúc động – đại trượng phu đã có tài trải đời cứu dân, sao có thể để mai một giữa lau sậy, vẫn cứ mong ông anh đừng để phụ lòng tốt của Ngô vương, hãy ra khỏi đây ngay.

Tình cảm xúc động và hiên ngang đó của Ngũ Tử Tư chẳng lay động được Tôn Vũ chút nào, ông vẫn tỏ ra thản nhiên như không, nói:

– Hiền đệ đã là một ông tướng, hẳn là biết công việc của nhà binh, chẳng chết cũng sầy da sứt thịt, ta đã quen với cuộc sống an nhàn, xa lánh thế gian rồi, vừa chẳng hám gì tiếng tăm, lại cùng không mong gì lợi lộc, càng không muốn dính vào chuyện chinh chiến trên đời… Ngô vương có thể tìm người khác sáng suốt hơn, ta vẫn không thể thuận theo lời được!

Những câu trả lời của Tôn Vũ khác nào như một chậu nước lạnh giội suốt từ đậu đến chân Ngũ Tử Tư, dập tắt hết nhiệt tình trong lòng ông, giội đến nỗi lòng ông lạnh giá đi, ông đã hết lời nài nỉ, không còn một lý do nào tốt hơn để thuyết phục Tôn Vũ nữa đành khẩn khoản một câu:

– Dù thế nào cũng mong nhân huynh hãy ra khỏi đây.

– Ta dứt khoát không thể nào nghe theo được – Tôn Vũ trả lời rất ngắn gọn, tựa hồ như ăn miếng trả miếng, tình bạn ngày nào không còn tồn tại nữa.

“Quả thực không thể nghe theo”, “Vẫn không thể nghe theo”, “dứt khoát không thể nghe theo”, ba câu trả lời như ba trái núi đè cho Ngũ Tử Tư thấy ngạt thở. Làm thế nào bây giờ? Tôn Vũ không ra khỏi núi, Ngô vương sẽ chẳng đem quân đi đánh Sở, mình cũng chẳng trả được mối thù cả nhà hơn ba trăm người bị giết hại, hơn nữa trung thần lương tướng của nước Sở còn tiếp tục phải chết dưới bàn tày gian tặc của hôn quân, trăm họ nước Sở sẽ mãi mãi sống trong cảnh nước sôi lửa bỏng… Ông nghĩ mãi, nghĩ mãi, bất giác nước mắt trào ra tuôn chảy ròng ròng rồi quì thụp ngay xuống bên chân Tôn Vũ khóc rống lên, vừa khóc vừa kể lể, vừa khóc vừa nguyền rủa. Ông khóc thiên hạ sao còn chưa sáng ra, ngày không rạng, trăng u mờ. Ông khóc cha mẹ không có con hiếu, đất nước không có trung thần, muôn dân không có cứu tinh. Ông khóc cuộc đời tối đen, không thấy mặt trời mặt trăng, chẳng nhìn thấy sao sáng, cứ mông lung vô cùng, sông suối vô tình chảy, đời đầy nỗi bất công, chẳng thấy đâu là nhân nghĩa, không tìm đâu ra sự chân thành… Cứ như thế, Ngũ Tử Tư khóc mãi, nguyền rủa mãi, tưởng như khóc cho mây sụp xuống, cho gió thét gào, cho nước sông hồ cũng phải rên xiết mà nổi sóng cao, khóc đến nỗi trái tim của Tôn Vũ như trong lửa cháy dầu sôi, cho gan ruột cũng như tan nát. Cuối cùng Tôn Vũ cúi xuống đỡ Ngũ Tử Tư dậy:

– Hiền đệ hãy đứng lên, để anh em ta sẽ bàn thêm…

Nguyễn Bá Thính
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Tào Nghiêu Đức

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.