Lúc Eliza vượt qua con sông là lúc hoàng hôn xuống; và khi chị khuất sau dốc, bức màn sương bàng bạc phủ dòng nước lũ cùng những tảng nước đá bập bềnh trôi đã hợp thành một bức rào ngăn chị với kẻ làm chị điêu đứng. Haley tức tối quay vào quán ăn để nghĩ cách đối phó. Bà chủ quán dẫn hắn vào một căn phòng nhỏ, trải một tấm thảm tồi tàn; trong phòng có một cái bàn phủ tấm vải dầu màu đen, và mấy chiếc ghế gỗ, chỗ tựa cao lênh khênh. Trên mái lò sưởi bày mấy bức tượng thạch cao màu sặc sỡ rất rợ; trong bếp lò một ngọn lửa nhỏ bốc khói; một chiếc ghế dài bằng gỗ tồi tàn đặt trước lò sưởi. Haley ngồi xuống, ngẫm nghĩ về những hi vọng và hạnh phúc mong manh trên thế gian này.
Hắn tự trách mình: "Tại sao mình lại ôm cái thằng oắt con của nợ ấy vào thân để đến nỗi mang tiếng là một thằng ngốc?"
Hắn tự chửi rủa hắn một thôi một hồi, thấy nhẹ nhõm hẳn đi. Mà hắn tự chửi rủa như thế cũng đúng thôi, nhưng chẳng cần kể ra đây làm gì.
Bất thần, hắn giật mình nghe thấy một giọng nói khỏe và thô; rõ ràng là có người xuống ngựa phía ngoài cửa quán. Haley chạy ra cửa sổ, reo lên:
– Mẹ kiếp! Thế này thì đúng là có đức Thượng đế rồi. Chính tông thằng Tom Loker!
Hắn chạy vụt ra ngoài và thấy một người khỏe mạnh, bắp thịt cuồn cuộn, to lớn, mặc một cái áo choàng bằng da trâu đang đứng bên quầy hàng. Từ giọng nói đến nét mặt của tên này đủ thấy đó là một kẻ bạo ngược, hung hăng. Nó giống như một con chó mõm lớn, rất dữ. Đi cùng với nó là một gã, hình thù lại trái ngược hẳn với nó: nhỏ bé, mảnh khảnh, cái nhìn nham hiểm, đôi mắt đen sáng quắc. Cái mũi nó dài và nhọn như muốn xoi mói khắp nơi khắp chỗ. Thằng to lớn rót một nửa cốc rượu trắng nguyên chất, nốc cạn một hơi; thằng kia, đứng kiễng lên, ngoẹo đầu bên này, bên kia, ra vẻ đánh hơi những chai rượu bày sau quầy hàng; cuối cùng nó gọi một cốc nước ngọt pha bạc hà; giọng nó nhỏ nhẻ, run rẩy, có vẻ thận trọng. Khi nước ngọt đã rót, nó ngắm cốc nước ra vẻ thích thú, như kẻ đã làm đúng việc phải làm. Rồi nó thận trọng hớp từng hớp nhỏ.
Haley tiến đến gần, tay đưa ra phía thằng cha to lớn, la lên:
– Trời, may mắn biết chừng nào! Thế nào, Loker?
– Ma quỷ nào dẫn mày tới đây?
Gã loắt choắt, tên là Marks, đặt cốc rượu xuống; nó nhô đầu ra, xem xét anh chàng mới tới, như thể con mèo nhìn một chiếc lá khô rung rinh trước gió, hay bất cứ miếng mồi nào khác.
Haley nhắc lại:
– Tom ơi, gặp mày đây, vận đỏ quá chừng. Tao đang bị một vố đen quá, mày phải giúp tao một tay mới được.
Loker làu bàu:
– Chà chà! Tao ngờ lắm. Hễ mày vồ vập ai là y như rằng mày cần người ta giúp mày một tay. Có việc gì thế?
Haley đưa con mắt nghi ngờ nhìn về phía Marks, hỏi:
– Một ông bạn cộng tác của mày đấy à?
– Chính thế. Kìa, Marks! Một ông bạn cộng tác trước kia, khi tao còn ở Natchez.
Marks chìa ra một bàn tay khẳng khiu như chân con quạ, nói khẽ:
Rất sung sướng được làm quen với ông anh. Ông Haley, nếu tôi không nhầm?
– Chính hắn đấy, thưa ông. Chúng ta có dịp may gặp nhau hôm nay; xin được thết ông món gì...
Haley quay về phía ông chủ quán, gọi thức ăn:
– Cho nước sôi, đường, xì-gà với cái món gì ngon nhất trong nhà ấy nhé.
Khi nến đã thắp, ngọn lửa đã bốc to trong lò sưởi, ba gã buôn nô lệ ngồi quanh cái bàn, bày biện đủ thứ để làm cho tình bạn thêm đậm đà.
Haley lấy giọng bi ai bắt đầu kể câu chuyện rủi ro của mình; Loker yên lặng ngồi nghe ra vẻ chăm chú nhưng cáu kỉnh; Marks bận pha một cốc rượu hợp với ý thích của hắn; thỉnh thoảng hắn hếch cái mũi nhọn lên, chĩa sát tận mặt Haley, vì hắn thích thú câu chuyện ấy lắm. Đặc biệt, đoạn kết luận làm hắn rất khoái; hắn rung người lên mà cười lặng lẽ, môi mím chặt để khỏi bật thành tiếng. Sau cùng, hắn cười khích khích hỏi:
– Thành thử ông bị một vố chết điếng chứ gì?
Haley than phiền:
– Ấy, trong cái nghề buôn chúng tôi, cứ động đến bọn oắt con, là cuối cùng thế nào cũng rầy rà to.
Haley nói:
– Không tài nào hiểu nổi. Bọn oắt con chỉ tổ làm phiền nhiễu người ta; cứ tưởng người mẹ nào tống khứ được cái của ấy đi thì sung sướng lắm mới phải. Nhưng, không; trái lại, thằng oắt càng gây phiền gây não, thì mẹ nó càng thương yêu.
Marks hỏi:
– Ông Haley, ông vui lòng cho tôi xin chút nước nóng chứ. Điều ông nói hoàn toàn hợp với ý tôi nghĩ, thưa ông. Ngày tôi còn buôn bán, một lần tôi mua được một con mẹ thật ra trò, mạnh khỏe, khéo chân khéo tay, lại thông minh nữa. Nó có một đứa con có tật, có một cái bướu, hay cái gì đại loại như thế. Tôi đem đứa bé cho không một người muốn nuôi nó. Không bao giờ tôi tưởng tượng nổi con mẹ ấy sao lại gây ra lắm chuyện rầy rà thế! Ông có nhìn tận mắt những cảnh ấy mới biết! Nó khóc lóc, nó đau khổ như thể mất một người bạn tốt nhất trần gian; tôi chẳng kể dài dòng làm gì. Hình như chính vì đứa bé ốm o, oặt ẹo và không lúc nào là không quấy mẹ nó như vậy, mà mẹ nó lại càng quý hóa. Chắc ông cũng đồng ý, đàn bà là cái giống rồ dại không sao tả xiết.
Haley lại kể:
– Tôi cũng gặp một trường hợp tương tự. Hè năm ngoái, bên phía trên dòng sông Đỏ, tôi mua được một con mẹ nô lệ có một đứa con xinh lắm, mắt sáng như mắt ông này này; nhưng sau tôi mới biết là thằng bé thong manh, tôi nghĩ tốt hơn hết là bán thằng bé cho một đứa nào khác. Chẳng nói chẳng rằng, tôi đánh đổi lấy một thùng rượu Whiskey. Nhưng lúc người kia đến lấy lại thằng bé, thì con mẹ kia chống lại, như hệt một con hổ cái. Việc xảy ra trước khi tàu nhổ neo, mà tôi lại chưa xích bọn nô lệ. Thế là, nó nhảy lên một kiện bông nhanh như một con mèo, rồi nó cướp lấy một con dao trong tay một thủy thủ, nó làm mọi người phát hoảng lên một lúc lâu. Nhưng, thấy cũng sẽ chẳng ăn thua gì, nó liền quay lại, ôm lấy con, đâm đầu xuống sông chìm nghỉm!
Loker nghe tất cả những câu chuyện ấy, vẻ chán ngán ra mặt, nó bảo:
– Chà! Chúng mày không biết cách đấy thôi. Những con nô lệ của tao, đừng hòng chơi xỏ tao như thế, tao cam đoan với chúng mày.
Marks có vẻ bực tức, hỏi:
– Thật không? Mày làm thế nào để ngăn chúng nó chơi xỏ mày?
– Làm thế nào để ngăn ấy à? Khi tao mua một con nào có một thằng oắt, tao giơ quả đấm ra trước mặt nó bảo: "Chỉ một tiếng, một tiếng thôi, là tao đập vỡ mặt! Con mày không phải của mày, nó là của tao. Khi cần, tao bán nó ngay; nếu mày giở trò gì ra, mày sẽ tiếc là đã sinh ra ở trên đời này..." Chúng nó biết là tao nói thật. Nếu có đứa nào la lên, thì này!... - Loker giơ quả đấm giáng xuống bàn, để làm sáng tỏ câu nói bỏ dở.
Marks huých khuỷu tay vào sườn Haley, cười khích khích thán phục, nói:
– Thế mới gọi là hùng biện chứ! Loker quả là một tay kì diệu, tôi cam đoan với ông như vậy! Hì hì hì... Loker ạ, nếu mày không là quỷ, thì mày cũng là anh em sinh đôi với quỷ. Tao nhất định thừa nhận cho mày cái tư cách ấy.
Loker tiếp nhận lời khen ấy một cách khiêm tốn đáng khâm phục và cố lấy cái vẻ dễ thương nhất trên bộ mặt quàu quạu như chó dữ.
Haley đã uống thùng bất chi thình. Hắn ngả người trên lưng ghế, làm lắm điệu bộ hùng hồn rồi nói lớn:
– Cho phép tao nói rằng, về cá nhân tao, trước hết tao nhằm kiếm tiền, như tất cả mọi người. Nhưng buôn bán và tiền, đâu có phải là tất cả, bởi vì chúng ta, tất cả chúng ta sống ở trên đời này, đều có linh hồn. Tao, tao là một tín đồ; một ngày kia, khi đã có của cải vàng bạc rồi, tao phải tính đến chuyện cứu vớt linh hồn tao và tất cả các thứ linh tinh ấy. Làm điều ác khi không cần thiết, hỏi ích lợi gì? Như thế không phải là khôn ngoan, không khôn ngoan một chút nào.
Loker nhắc lại một cách khinh bỉ:
– Tính chuyện cứu vớt linh hồn mày! Mày phải vạch to con mắt ra mới tìm thấy một chút linh hồn trong người mày. Thôi đừng có băn khoăn gì về cái trò ấy, vô ích. Giả thử quỷ sứ có gạn lọc mãi mày, nó cũng cóc thấy linh hồn mày đâu cả.
Haley trách:
– Mày lại cáu rồi. Tao nói là nói có lợi cho mày, đáng lẽ mày phải cám ơn tao mới đúng.
Loker quát to một tiếng cục cằn:
– Thôi, xin đủ những lời phỉnh phờ của mày. Tao không chịu nổi những bài diễn thuyết đạo lí của mày. Mày chỉ tìm cách lừa bịp con quỷ để thoát chết chứ gì. Con quỷ, mày đã kí kết với nó một bản giao ước suốt đời mày rồi. Đến lúc phải thanh toán, mày lại định chuồn chứ gì? Mẹ kiếp!
Marks nói chen vào:
– Thôi các ngài, tôi xin các ngài. Ông Haley là một người ngoan đạo, tôi không dám nghi ngờ, ông ấy có một lương tâm. Như mày, Tom ạ, mày cũng có lương tâm của mày. Cãi vã nhau vì vấn đề này có ích lợi gì. Nói chuyện công việc có phải hơn không, ông Haley? Ông muốn chúng tôi làm gì để bắt con mụ đàn bà ấy của ông?
– Con mụ ấy không phải của tôi, nó là của lão Shelby. Tôi chỉ mua thằng bé thôi, thế mới ngốc chứ!
Loker quát:
– Thì từ xưa tới nay bao giờ mày chả là một thằng ngốc.
Marks can:
– Kìa, Loker, đừng thế nữa. Tao nghĩ ông Haley muốn giao cho chúng mình một việc hay hay đây; để tao làm, tao chuyên môn giải quyết những việc như thế này. Ông Haley, con mụ ấy thế nào?
– Gần như da trắng, xinh, có giáo dục. Giá tôi trả lão Shelby tám trăm hay một nghìn đô la, tôi còn có thể có lãi nữa kia. Nhưng lão Shelby không muốn bán.
Marks, mắt sáng ngời, dằn từng tiếng:
– Trắng, xinh, có giáo dục! Khả quan đấy. Loker này, nghe tao, chúng mình có thể thực hiện một việc: nhận đi bắt chúng nó; cố nhiên, sẽ hoàn lại cho ông Haley thằng oắt. Còn con mụ kia, ta sẽ đưa về New Orleans. Tính toán cừ đấy chứ, hả?
Loker rất khoái chí. Nó bặm miệng lại y như một con chó lấy răng cắn vào miếng thịt. Hình như nó đang thong thả nghiền ngẫm cái kế hoạch ấy... Marks vừa khuấy cốc rượu, vừa bảo Haley:
– Ông phải biết, chúng tôi quen biết các vị quan tòa hầu với chúng tôi, suốt dọc sông này. Loker nhận nhiệm vụ nện và hò hét. Sau đó, mới đến lượt tôi. Tôi diện rõ bảnh, giày bóng như gương và tôi tuyên thệ! Khi thì tôi là ngài Twickem ở New Orleans; hôm sau tôi rời đồn điền của tôi, trên sông Châu Giang, là chủ của bảy trăm tên nô lệ da đen; lần khác, tôi lại là người bà con xa xôi của ngài thượng nghị sĩ Henry Clay, hay của một vị tai to mặt lớn nào khác của bang Kentucky. Mỗi vai, một tài riêng, ông hiểu không. Loker có một cái mõm tướng, nó mà nện thì khỏe nhất trần đời; nhưng về môn lừa dối thì lại là một thằng vô tích sự. Khi cần phỉnh phờ, cần lấy linh hồn với lương tâm ra để thề thốt thì tôi, tôi có biệt tài. Mà nếu các vị quan tòa làm khó dễ, tôi tin là tôi có thể xoay xỏa được. Có khi tôi còn mong như thế nữa, thế mới buồn cười chứ!
Ta đã thấy, Loker không tháo vát lắm. Thế nhưng, lần này, nó đập mạnh tay xuống bàn làm cốc tách rung lên, để ngắt lời Marks. Nó hạ lệnh:
– Haley! Công việc thu xếp như thế, mày bằng lòng chứ!
Marks nhận xét:
– Cái ấy có phải là một lí do để đập vỡ ấm chén đâu. Mày phải để dành sức đến khi cần thiết chứ.
Haley phản đối:
– Thưa các ngài, thế tôi không được chia một phần lãi nào ư?
Loker nổi cáu:
– Lấy lại cho mày thằng nhái, thế không đủ à? Mày còn muốn gì nữa?
– Mình đã giao phó cho các ông công việc, thế là đáng của rồi, chẳng thế là gì? Cứ mười phần trăm số lãi, không kể chi phí.
Loker chửi một tiếng dễ sợ, rồi, đập nắm tay xuống bàn, nó hét:
– Haley! Tao thừa biết con người mày đấy nhé! Nhưng đừng hòng chơi được tao. Mày tưởng thằng Marks với tao chuyên môn đi làm cái nghề này chỉ là để phục vụ những ông lớn kiểu như mày, mà không hưởng mảy may quyền lợi đấy phỏng? Có hẳn đi chứ; lại nhiều nữa là khác. Con mụ ấy là của chúng tao; còn mày, mày chỉ việc câm miệng đi, hoặc là cả hai đều của chúng tao. Đứa nào ngăn cấm được chúng tao? Mày đã chẳng làm thế là gì? Chúng tao tự do muốn làm gì thì làm, cũng như mày thôi, có phải không? Còn nếu mày hay lão Shelby có muốn săn đuổi chúng tao, thì đáy biển mò kim. Đừng hòng rờ được.
Haley thấy lo ngại, đành chịu:
– Thôi được! Nội trong tám ngày nữa, lôi thằng nhãi về cho tao, hẹn ở đâu tùy mày, tao chỉ muốn có thế.
Loker không chịu:
– Nhưng tao, tao lại muốn hơn thế. Không phải bỗng không tao cộng tác với mày ở Natchez, chẳng được đồng xu nào. Tao đã được một bài học: khi nắm được con chạch, phải nắm cho chắc. Tòi năm mươi đô la ra đây ngay tức khắc, không thì đừng hòng tao động đậy. Tao biết mày lắm.
– Loker, mày chẳng biết điều tí nào; mày nghĩ mà xem: trong việc này, mày sẽ vớ bở một nghìn hay một nghìn rưởi đô la.
– Việc này ấy à, bỏ rẻ ra, phải mất năm tuần lễ, thật quá sức. Giả dụ chúng tớ phải gác mọi việc lại, để lang thang đi tìm thằng oắt con cho mày, mà lại không bắt được con mụ kia - cái tụi gái bợm, đôi khi khó bắt lắm lúc ấy sẽ thế nào? Mày không trả tao một xu chứ gì? Tao còn lạ gì thứ mày! Không, ông bạn ơi, năm mươi đô la! Việc thành, tao sẽ hoàn lại cho mày; bằng không, thì để đền bù lại những thua thiệt chúng tao sẽ phải chịu chứ. Như thế là công bằng, phải không, Marks?
Marks vội vã đồng tình:
– Tất nhiên, tất nhiên. Đặt cọc tí chút như thế thôi. Kể tôi cũng hơi ăn chắc đấy. Thôi, chúng ta hãy bình tĩnh. Loker xách thằng oắt con về cho ông, ở đâu tùy ý ông, phải không, Loker?
Loker hứa:
– Nếu tớ tìm thấy thằng oắt con, tớ sẽ đưa nó về Cincinnati, gửi nó tại nhà bà cụ Belcher, ở bến tàu.
Marks rút ở túi áo ra một cái ví nhớp nhúa những mỡ. Nó rút ra một tờ giấy dài, khẽ đọc:
– Barnes hạt Shelby. Một thằng tên gọi Jim. Ba trăm đô la, sống hoặc chết. Edwards - Dick và Lucy, hai vợ chồng sáu trăm đô la. Con mụ Polly và hai con, sáu trăm đô la, sống hoặc chết...
Nó giải thích cho Haley:
– Tôi đang xét xem bọn tôi có thì giờ làm việc này không. Loker này, mình thấy phải giao việc này cho thằng Adams và thằng Springer; ưu tiên cho khách hàng của chúng ta.
Loker phản đối:
– Thằng Adams và thằng Springer đòi giá đắt quá. Marks quyết định:
– Để tao liệu thu xếp. Chúng nó mới vào nghề; chúng nó sẽ phải nhận với giá rẻ.
Rồi nó nói tiếp:
– Tao thấy có ba trường hợp ít rắc rối, bởi vì chỉ việc bắn chết, hoặc thể là chúng nó đã bị hạ. Những trường hợp ấy, chẳng ăn thua gì lắm. Còn những trường hợp khác, thì đợi đã. Ông Haley, bây giờ đi vào chi tiết nhé? Ông trông thấy con mụ sang đến tận bờ bên kia chứ?
– Trông thấy rõ ràng như thấy các ông bây giờ đây.
Loker hỏi thêm:
– Và có một người đỡ nó trèo lên dốc?
– Đúng thế.
Marks nói:
– Chắc chắn là con mụ được đón về một nơi nào đó. Nhưng về đâu, đó là vấn đề. Loker, mày nghĩ thế nào?
– Đêm nay phải vượt sông ngay, nhất định thế.
– Bằng cách nào? Không có đò, mà băng thì rất nguy hiểm.
Loker nhất quyết:
– Bằng cách nào thì tao không biết; nhưng nhất định phải qua sông.
Marks nóng ruột:
– Trời ơi, tối như hũ nút, và...
Loker nói tiếp luôn:
– Mày hoảng chứ gì! Ông bạn ơi, không làm khác được. Chỉ cần đợi một hai ngày, bọn hoạt động bí mật đã đưa con mụ tới biên giới, đến Sandusky hay một nơi khác rồi. Lúc ấy, hỏi mày giở trò gì?
– Không phải tao sợ, nhưng phải có một cái đò.
– Theo bà chủ quán, một người định sang sông đêm nay; bất cứ bằng cách nào mình cũng phải cùng sang với hắn.
Haley hỏi:
– Các ông có chó tốt không?
Marks khoe:
Tốt bậc nhất. Nhưng để làm gì? Tụi chó phải ngửi thấy một vật gì của con mụ ấy kia chứ, ông thì chẳng có vật gì cho chúng nó đánh hơi cả.
– Có, có! Trong lúc hấp tấp, con mụ để quên cái khăn quàng trên giường, còn cái mũ nữa.
Loker vui vẻ:
– May ơi là may! Ông bạn ơi, đưa đây.
Haley băn khoăn hỏi:
– Nhưng nếu các ông chợt gặp con mụ ấy, đàn chó có thể cắn chết nó.
Marks nói:
– Có khi rủi ro như vậy. Ở Mobile, đàn chó cắn nát một thằng nô lệ, không ngăn kịp.
Haley nhận xét:
– Khi món hàng có một nhan sắc quý giá, thì chẳng cần đến chó.
Marks nói tiếp:
– Vả lại, con mụ này đã tìm được nơi ẩn trốn, có chó cũng không làm gì. Ở những bang người ta giúp đỡ nô lệ chạy trốn, không bao giờ tìm được dấu vết. Chỉ ở nơi đồn điền, bọn da đen không có ai giúp đỡ lúc chúng bỏ trốn, thì chó mới được việc.
Loker đã đi ra bên ngoài một lát để hỏi tin tức. Nó trở lại, bảo:
– Người kia đã đến rồi, có cả thuyền nữa. Đi chứ, Marks?
Anh chàng dũng cảm Marks tiếc rẻ nhìn căn phòng ấm áp, nó sắp phải bỏ đi; nhưng rồi nó cũng đứng dậy. Sau khi đã thanh toán mấy món lặt vặt, Haley miễn cưỡng đưa cho Loker năm mươi đô la; cái bộ ba đáng kính trọng ấy chia tay nhau.
* * *
Trong khi ở quán rượu xảy ra những cảnh tượng trên, bác Sam và Andy vui vẻ trở về nhà. Nhất là bác Sam thích quá, cứ hét lên những tiếng kêu vô nghĩa, người vặn vẹo tứ phía trên lưng ngựa; bác nhảy múa trên lưng ngựa như kẻ điên. Mặc dù vậy, bác vẫn cho ngựa phi nước đại. Lúc về tới trại mới mười, mười một giờ. Bà Shelby vẫn đợi họ về; bà vội chạy ra ban công:
– Bác Sam đấy à? Hai người kia đâu?
– Thưa bà, ông Haley còn nghỉ ngoài quán, ông ấy mệt lắm ạ.
– Thế còn Eliza?
– Eliza đã qua sông Jordan, có thể nói là chị ấy đang ở xứ sở Canaan.
Bà Shelby nghẹn ngào, thấy choáng váng. Bà hỏi to:
– Thế nghĩa là thế nào, bác Sam?
– Thưa bà chủ, có gì đâu. Chị Eliza đã qua sông, sang được bang Ohio kì diệu như thể đức Chúa đưa chị lên một chiếc xe bằng lửa có hai con ngựa bay kéo đi.
Trước mặt bà chủ, bác Sam thường hay diễn tả lòng sùng đạo của mình bằng những hình ảnh lấy trong kinh Thánh. Ông Shelby đến gần vợ, nói với bác Sam:
– Bác Sam, vào đây!
Rồi ông bảo vợ:
– Kìa em Emily, em rét run lên rồi. Em chớ quá xúc động mà quên chú ý đến sức khỏe.
Bà nói:
– Em không phải là một người vợ, một người mẹ hay sao? Cả hai vợ chồng chúng ta không có trách nhiệm trước Thượng đế về con bé tội nghiệp ấy ư? Cầu Chúa đừng quy tội ấy cho chúng ta.
– Tội nào kia, em Emily? Chúng ta ở hoàn cảnh bị bó buộc phải...
– Em thấy em phạm tội, không một lí lẽ nào có thể thay đổi ý kiến em được.
Bác Sam để cho Andy dắt ngựa vào chuồng. Bác cầm chiếc mũ rơm, bước vào phòng khách. Ông bà chủ đang đợi bác.
– Chính mắt cháu trông thấy Eliza nhảy trên những tảng băng trôi lềnh bềnh để vượt qua sông. Thật là một sự kì diệu. Cháu còn trông thấy một người đỡ chị ấy trèo lên bờ sông bên kia phía Ohio, rồi chị ấy biến mất trong bóng tối buổi chiều.
Ông Shelby nói:
– Tôi khó mà tin được cái gọi là sự kì diệu đó. Nhảy trên những tảng băng trôi lềnh bềnh, mà vượt qua được sông, có phải dễ đâu.
Bác Sam nói to:
– Đâu có dễ! Thế nhưng, đúng là như vậy. Ông Haley, cháu với thằng Andy đang đi đến cái quán bên bờ sông. Cháu đi trước một tí. Thế là kìa, cháu thấy chị ấy ở bên cửa sổ. Cháu đánh rơi mũ, cháu thét lên một tiếng kinh thiên động địa. Tất nhiên, Eliza đã nghe thấy tiếng cháu kêu; chị ấy vội chạy mất. Lúc ông Haley vào cửa bên này, thì chị ấy chạy ra cửa bên kia, rồi lao xuống bờ sông. Ông Haley trông thấy chị, hét lên. cháu với Andy cũng hét lên. Chị ấy chạy đến sát mép nước. Dòng nước rộng đến mười bộ[4], rồi đến những tảng băng chồng chất lên nhau, xô vào nhau. Bọn chúng cháu ở sát ngay sau chị, cháu cứ tưởng ông Haley sắp tóm được chị, nhưng chị thét lên một tiếng ghê gớm quá, cháu chưa từng nghe thấy bao giờ, rồi "hấp" chị đã ở bên kia dòng nước, trên các tảng băng cứ vỡ răng rắc, chị ấy cứ thế nhảy, chẳng khác gì một con nai. Nhảy ghê quá, cháu chưa từng thấy, cháu nói có Trời chứng giám.
Bà Shelby ngồi, lặng nghe câu chuyện, cảm động đến tái xanh cả người. Khi câu chuyện kết thúc, bà bảo:
– Lạy Chúa, thế là con bé không chết. Nhưng bây giờ nó ở đâu, tội nghiệp quá...