Sông Mississipi! Cây đũa thần nào đã thay đổi cảnh tượng con sông Mississipi, từ ngày nhà văn Chateaubriand[6] ca ngợi con sông dũng mãnh ấy trong lời văn trữ tình. Con sông lúc đó chảy qua những vùng hoang vu xanh ngắt một màu, chỉ có độc loài dã thú.
Hình như chỉ trong khoảnh khắc, cảnh thần tiên ấy biến thành một sự thật cũng không kém diệu kì mấy chút. Có con sông nào khác tải ra biển cả biết bao của cải vô cùng phong phú của những xứ sở ở giữa miền nhiệt đới và hai cực của trái đất như thế không? Dòng nước cuồn cuộn kia đúng là hình ảnh tượng trưng cho nền thương mại của một giống người có nghị lực, ít thấy ở thế giới cũ. Trời! Tại sao những lớp sóng ấy cũng phải mang theo nó một thứ hàng hóa vô cùng kinh khủng: nước mắt của kẻ bị đàn áp, tiếng thở dài của những người cùng cực, tiếng cầu khẩn của những người dốt nát, tuyệt vọng?
Những tia nắng chênh chếch buổi chiều tà chiếu sáng dòng sông rộng như cái eo biển; những cây sậy rung rinh, những cây trắc bá cao và đen ngòm, phủ đầy rêu như phủ khăn tang, bây giờ vàng chói lên trong nắng chiều; con tàu nặng trĩu vẫn mải miết chạy.
Từ xa nhìn con tàu, nó giống như một đống lù lù màu xám vì nó chở trên boong không biết bao nhiêu kiện bông. Ở tít cao trên boong thượng, bác Tom đã thu dọn được một chỗ trú, giữa những kiện hàng vừa bốc từ các đồn điền ven sông ấy xuống.
Một mặt, nhờ những lời căn dặn của ông Shelby, một mặt khác, nhờ tính tình điềm đạm và chín chắn của bác, bác Tom dần dần chiếm được lòng tin cậy của Haley, vốn là kẻ rất đa nghi.
Thoạt tiên, ban ngày thằng buôn người còn giám sát bác rất ngặt, đến đêm, nó không bao giờ cho bác ngủ mà không bắt đeo xiềng. Nhưng nhờ lòng nhẫn nại và tính tình ngay thẳng của bác, về sau bác không bị xích nữa... Và gần đây, bác Tom được phép đi lại tự do trên tàu, như thể bác là một người chỉ bị cầm tù trên lời giao ước.
Vốn là người hay đỡ đần kẻ khác, lúc nào bác Tom cũng sẵn sàng giúp mọi người trong hầm tàu, nên tất cả thủy thủ đều mến bác. Khi bác thấy mình không giúp được ai việc gì, bác vào nằm trú trong cái xó giữa những kiện bông.
Bây giờ đây, bác đã ở cách New Orleans khoảng một trăm dặm về phía nam. Mực nước sông cao hơn vùng nông thôn ven sông, dòng nước cuồn cuộn chảy giữa hai con đê lù lù, cao tới sáu thước. Đứng trên boong tàu, như đứng trên ngọn một cái chòi bập bềnh trôi, khách ngắm nhìn cả miền nông thôn, rộng bát ngát hàng ngàn dặm. Bác Tom thấy những đồn điền cứ lần lượt lướt qua, và giống như cái bản đồ cuộc đời bác sau này.
Xa xa, bác thấy những người nô lệ đang làm việc; bác thấy những túp lều chạy từng dãy dài, ở cách xa những căn nhà lộng lẫy của chủ, xây giữa những vườn hoa. Tàu càng đi xa, tấm lòng tội nghiệp và ngây thơ của bác càng hướng về trại ông Shelby núp dưới bóng những cây sồi già. Bác thấy lại căn nhà ông chủ có những gian phòng rộng, tươi mát, và ngay sát đấy túp lều của bác, phủ đầy hoa và lá cây tử vi. Bác tưởng như trông thấy những khuôn mặt quen thuộc của bạn bè, cùng được nuôi nấng với bác từ ngày còn nhỏ. Bác thấy vợ bác đang bận rộn làm bữa ăn chiều, bác nghe thấy tiếng các con bác cười nói vui vẻ, tiếng líu lo của con bé ngồi trên đùi bác. Rồi, bỗng nhiên, tất cả những cảnh ấy biến mất; trước mặt bác, chỉ còn thấy mía và trắc bá trong đồn điền mọc như bức rèm. Bác chỉ còn nghe thấy tiếng máy chạy như nhạo báng bác, và nói rõ ràng với bác rằng tất cả những cái đó đã biến đi vĩnh viễn trong cuộc đời bác.
Trong trường hợp như thế, bạn sẽ viết thư cho vợ, bạn sẽ bảo vợ hôn giùm bạn mấy đứa con, nhưng bác Tom không biết viết. Đối với bác, chẳng hề có con đường thư từ và cũng chẳng một bức thư tâm tình nào có thể giúp bác vượt qua các vực thẳm của sự phân li.
Như vậy, thử hỏi có gì là lạ lùng, khi thấy những giọt nước mắt nhỏ trên trang sách kinh Thánh? Bác kiên trì lấy ngón tay chỉ vào từng chữ, và tìm kiếm những lời hứa hẹn. Cũng như tất cả những người học tập quá chậm, bác đọc chậm rãi. Ta hãy nghe bác đọc khe khẽ:
"Con... chớ... để... lòng... con... bối... rối. nhà... của... cha... ta... có... nhiêu... chỗ... ở... soạn... cho... con... một chỗ"
Trong đám hành khách trên tàu, có một người đàn ông trẻ tuổi, giàu có, sang trọng, ở bang New Orleans tên là Saint Clare. Cùng đi với anh có cô con gái lên sáu tuổi, và một người bà con, dáng chừng để trông nom riêng con bé.
Con bé ấy, bác Tom thường thấy nó luôn, bởi vì không sao giữ nổi nó ở một nơi nào nhất định được. Nó có tất cả vẻ dễ thương của tuổi thơ, tuy rằng khuôn mặt nó chẳng được tròn trĩnh và nó có những cử chỉ vụng về của tuổi nhỏ. Trông con bé, thấy cái gì cũng dịu dàng dễ thương, mềm mại... Đầu nó ngẩng lên, có vẻ gì cao sang; mái tóc óng vàng tỏa xuống vai; dưới đôi mày dài màu sẫm, hai con mắt xanh có cái nhìn trang nghiêm, khiến khách trên tàu đi qua phải quay lại nhìn. Thế nhưng nó không phải là một cô bé rầu rĩ hoặc mơ mộng. Trái lại, lúc nào nó cũng hoạt động; nó vừa hát vừa chạy, như trong một giấc mơ sung sướng. Bố nó và người đàn bà trông nom nó, phải tìm nó ở khắp xó xỉnh. Vừa thấy nó, nó đã lẩn mất, nó biến đi như một đám mây mùa hè; chẳng ai dám trách mắng nó một lời nên nó cứ tha hồ mà chạy đây chạy đó. Nó như một cái bóng bận đồ trắng toát, thật là tài tình, chẳng hề giây một vết bẩn dầu mỡ trên tàu, mặc dù không ở một xó tối như mực nào, mà không thấy lấp lánh đôi khuyên của nó.
Hai con mắt màu xanh sâu thẳm ấy, người thợ đốt than mồ hôi nhễ nhại, vừa thấy lấp lánh trong ánh sáng lờ mờ của lò than rầm rầm tiếng động, một lát sau, người hoa tiêu đã thấy cô bé vụt thoáng qua bên cạnh phòng mình. Những anh chàng lao lực vất vả ấy mỉm cười với cô bé, và mỗi khi nó chạy gần đến chỗ nguy hiểm thì những bàn tay đen sì mồ hóng giơ ra, như để cứu nó khỏi tai nạn và cho nó dễ chạy nhảy hơn.
Cũng như tất cả mọi người da đen khác, bác Tom rất thương yêu trẻ em, và càng ngày bác càng thích nhìn cô bé ấy hơn. Khi bác thấy cái đầu bé nhỏ có ánh hào quang vàng óng ấy cúi xuống nhìn bác, ở phía sau cái bình phong bằng bông màu xám, bác tưởng như một thiên thần đã từ cuốn kinh Thánh bay ra thăm bác.
Thường thường, nó đi qua đàn người nô lệ bị xiềng ấy, vẻ buồn rầu, tư lự. Nó nhìn họ bằng con mắt nghiêm trang, thờ thẫn. Đôi khi, nó lấy đôi tay nhỏ nhắn, thử nhấc những chiếc xiềng lên, rồi nó thở dài, nhẹ nhàng bước ra xa. Nhiều lần, nó làm cho những người nô lệ phải ngạc nhiên, vì nó mang từng nắm kẹo, quả hồ đào, cam, vui vẻ chia cho mọi người, rồi nhanh nhẹn quay trở về.
Trước khi đánh liều làm quen với cô bé, bác Tom nhìn nó rất lâu. Bác rất thạo cách làm thân với trẻ con. Dạo còn ở nhà, bác đã làm biết bao nhiêu cái rổ tí xíu bằng hạt quả anh đào; bác đã lấy vỏ quả hồ đào làm những cái mặt nạ trông đến buồn cười, và biết bao nhiêu cái còi! Bây giờ, túi bác còn nhét đầy những thứ đồ chơi ấy, những thứ đồ chơi đã làm vui lòng các con ông chủ. Lúc này, bác nhẹ nhàng đưa cho cô bé xem. Cô bé tuy có những cử chỉ tự nhiên, nhưng vẫn không dạn. Thoạt đầu, nó đứng xa xa, trên một cái hòm hay một kiện bông, đầu ngả xuống như thể một con chim, nhìn bác Tom đang trổ tài. Rồi, nó nghiêm trang, nhút nhát, nhận một đồ chơi. Sau cùng, nó mới tin. Bác Tom hỏi nó:
– Tên cô bé là gì nhỉ?
Cô bé đáp:
– Evangeline Saint Clare. Nhưng bố cháu với tất cả mọi người gọi cháu là Eva. Thế còn ông, tên ông là gì?
– Là Tom, những trẻ con ở Kentucky đều gọi tôi là bác Tom.
Eva quả quyết:
– Thế cháu, cháu cũng gọi là "bác Tom." Bác Tom ạ, cháu thích bác lắm. Bác đi đâu?
– Cô Eva ạ, tôi chẳng biết tôi đi đâu cả.
– Sao kia? Bác không biết bác đi đâu à?
– Người ta sẽ bán tôi, nhưng không biết sẽ bán cho ai.
Bố cháu có thể mua bác được đấy. - Eva nói to. Bố cháu mà mua bác thì bác sẽ được đối đãi tử tế. Ngay hôm nay, cháu sẽ bảo bố cháu.
– Cảm ơn cô...
Lúc ấy, con tàu cặp bến lấy thêm củi đốt, Eva vội bỏ chạy, nó vừa nghe thấy tiếng bố gọi. Bác Tom đứng dậy, để xin được giúp việc bốc củi.
Lúc con tàu khởi hành, hai bố con Eva đứng ở gần lan can sàn tàu; bánh xe quay hai ba vòng trên mặt nước; nước xoáy và con tàu lắc mạnh một cái, hất con bé xuống dòng sông. Bố nó vừa định nhảy theo, thì một bàn tay khỏe mạnh giữ ông lại. Một người có thể cứu con bé đã lao xuống nước.
Bác Tom đang đứng trên boong tàu dưới. Bác thấy Eva ngã xuống sông, tức khắc bác lao xuống. Con bé vừa nhô lên mặt nước, bác liền ôm lấy nó trong hai cánh tay khỏe mạnh; bác bơi về phía mạn tàu, đưa cô bé cho những cánh tay đang vươn ra đón lấy. Bố nó mang đứa con ướt sũng nước vào phòng khách. Các bà rối rít cố gắng hết sức làm cho cô bé hồi lại.
* * *
Ngày hôm sau, một ngày ngột ngạt, con tàu gần đến New Orleans. Trên boong tàu, mọi người nhốn nháo chuẩn bị, người ta thu xếp đồ đạc để lên bến.
Ở boong dưới, bác Tom chờ đợi. Hai tay khoanh trước ngực, mắt lo lắng nhìn về hướng một đám đông đứng ở phía bên kia boong. Evangeline xanh xao, hẳn là do cái tai nạn hôm trước. Một người đàn ông trẻ tuổi sang trọng, đứng bên cạnh cô bé, khuỷu tay tì vào một kiện bông; vừa thoáng trông, cũng biết ngay đó là bố cô bé con, mặc dù nét mặt anh khác hẳn nét mặt con. Hai con mắt xanh không có cái vẻ sâu thẳm như mắt cô bé; đôi môi cong hình vòng cung mỉm một nụ cười kiêu hãnh và đôi khi chua chát, cái dáng điệu kẻ cả không làm giảm bớt vẻ quý phái. Anh vừa thích thú vừa khinh bỉ nghe Haley liến thoắng khoe món hàng của hắn. Khi Haley không nói nữa, anh bảo:
– Nói tóm lại là tất cả những cái gì tốt đẹp về con người và đạo Gia-tô được chung đúc lại trong một tấm da cừu đen sì. Thế thì, ông bạn ơi, cứ nói thẳng đi, ông định moi của tôi bao nhiêu để đổi lấy vật kì diệu ấy?
– Phải tới... dạ... tới một ngàn ba trăm đô la, thế mới tạm đủ số vốn tôi phải chi tiêu về hắn.
Người đàn ông trẻ tuổi nói đùa, con mắt xanh lóe lên một ánh sáng ranh mãnh:
– Tội nghiệp nhỉ! Hẳn là vì chiếu cố đến tôi, nên ông mới để cho cái giá phải chăng ấy chứ gì?
– Hình như cô bé quấn quýt hắn ta lắm và cái đó cũng dễ hiểu thôi.
– Tất nhiên rồi, và như vậy, ông lại cần phải rộng lượng. Ông đã nói đến lòng bác ái của đạo Thiên Chúa, thì, để làm vui lòng một con bé cứ thích bám lấy hắn ta, ông hãy bảo cho tôi biết cái giá hạ nhất mà ông có thể để lại cho tôi là bao nhiêu?
Gã lái buôn đáp:
– Nhưng, thưa ngài, ngài cứ nghĩ mà xem. Ngài thử nhìn những bắp thịt kia, cái vóc người kia, hắn ta khỏe như voi! Ngài hãy nhìn cái đầu hắn, cái trán cao kia chứng tỏ một thằng da đen thông minh, làm việc gì cũng được. Ngay giả dụ nó ngu đần chăng nữa, thì cái sức lực vật chất của hắn cũng đáng giá lắm rồi; nhưng hắn lại thông minh, nên giá càng đắt. Ngài có biết một mình hắn ta trông nom cả cái trại của ông chủ không? Hắn có năng khiếu phi thường về việc kinh doanh.
Người đàn ông trẻ tuổi mỉm một nụ cười chế giễu:
– Xấu, cái đó thì rất xấu. Trong cuộc đời, cái đó chẳng đi đến đâu; những người da đen quá thông minh thường bỏ trốn, ăn cắp ngựa, nghĩ ra trăm nghìn trò quỷ quái. Tôi nghĩ rằng chính vì cái thông minh ấy mà ông phải hạ bớt đi mấy trăm đô la.
– Đó chỉ là một lí lẽ. Nhưng tôi có thể đưa ngài xem những chứng từ của ông chủ hắn ta, bảo đảm hắn ta là một người ngoan đạo, giản dị hết sức, lại còn quá khiêm nhường nữa kia. Người ta gọi hắn ta là một nhà truyền đạo.
Người đàn ông trẻ tuổi hay châm biếm vẫn điềm nhiên như không:
– Thế thì tôi có thể mang về làm linh mục cho tôi được nhỉ. Đó là một ý kiến. Gia đình tôi lại chẳng ngoan đạo lắm.
– Thưa ngài, ngài nói đùa đấy ạ?
– Sao ông biết được? Ông bảo hắn ta là một nhà truyền đạo. Thế hắn đã qua kì thi nào trước hội nghị tôn giáo, hay một hội đồng nào chưa? Nào, ông đưa giấy tờ tôi xem.
Nếu cái gã con buôn ấy không biết chắc chắn, tất cả những lời bông đùa ấy, cuối cùng sẽ đưa đến việc mua người nô lệ nhờ ánh mắt ranh mãnh của gã, thì gã đã không đủ kiên nhẫn. Trong lúc hắn đặt cái cặp đầy dầu mỡ lên đống kiện bông rồi xem xét một số giấy tờ thì người đàn ông trẻ tuổi nhìn hắn bằng cặp mắt tinh ranh. Eva leo lên cái hòm nó đang ngồi, quàng tay bá cổ bố, thì thầm:
– Bố ơi, con xin bố, bố mua bác ấy đi! Bao nhiêu tiền cũng mua, bố chả giàu đấy là gì? Con muốn mua được bác ấy cơ!
– Con gái yêu quý, để con làm gì? Để con chơi à?
– Con muốn cho bác ấy được sung sướng.
Quả là một lí do độc đáo.
Gã con buôn chìa ra một tờ giấy chứng nhận kí tên Shelby. Bố Eva đưa mấy ngón tay dài, thon, cầm lấy rồi lơ đãng liếc nhìn qua. Ông nói:
– Chữ đẹp và có vẻ quý phái đấy. Đúng chính tả. Chính cái vấn để tôn giáo này làm tôi do dự. Cái xứ của chúng tôi bị đe dọa đi tới chỗ suy vong, vì các ngài da trắng quá ngoan đạo. Trước ngày bầu cử, có thấy mấy nhà chính trị quá mộ đạo đâu... Tôi không tin rằng ở thị trường hiện nay, tôn giáo được giá lắm. Đúng là ít lâu nay, tôi không xem các tờ báo tài chính. Nào, ông đánh giá cái lòng mộ đạo này mấy trăm đô la nào?
Gã buôn nô lệ đáp:
– Ngài nói đùa, nhưng lời ngài nói quả là có đúng đôi chút. Tôi biết là có những kẻ đạo đức giả chỉ ê a bài Thánh ca mà chẳng tin gì cả. Nhưng kể làm gì, hạng người ấy, họ trắng, đen, mặc họ. Thế nhưng, có những người mộ đạo chân chính, hiền lành, lặng lẽ đến con ruồi cũng không dám động tới. Không có gì khiến được họ làm việc xấu. Ngài cứ việc xem lá thư này, ông chủ của Tom đã đánh giá hắn ta như thế nào.
Người đàn ông trẻ tuổi vẫn cúi xem tờ giấy, nói:
– Vậy thế này! Nếu ông có thể bảo đảm cho tôi rằng việc tôi mua cái loại mộ đạo chân thực này đã được đăng kí ở trên Trời, thì tôi sẵn lòng bỏ ra món tiền đặc biệt này. Ông nghĩ thế nào?
Vừa nói, bố của Eva vừa rút ở ví ra một tập giấy bạc. Ông đưa cho gã lái buôn:
– Đây. Đếm đi, ông bạn.
Haley mừng ra mặt. Nó rút ra một lọ mực cũ kĩ bằng sừng, bắt đầu viết tờ giấy bán hàng, rồi đưa cho người mua. Ông khách xem tờ giấy, mỉm cười:
– Tôi tự hỏi nếu người ta làm bản kê khai tôi, thì tôi đáng giá bao nhiêu! Bao nhiêu cho hình thù cái đầu, bao nhiêu cho cái trán của người tư duy, bao nhiêu cho cánh tay, bàn tay, ống chân. Đấy là chưa kể học thức, giáo dục, tài năng, lòng thật thà, tôn giáo! Về tôn giáo thì tôi e rằng giá sẽ tồi lắm... Eva, lại đây con. - Ông kết luận như vậy, rồi cầm tay con gái, dắt đi ngang qua boong tàu. Ông nâng cằm bác Tom lên, nói:
– Tom, ngẩng đầu lên, thử nhìn xem, anh có bằng lòng người chủ mới của anh không?
Bác Tom ngước mắt nhìn. Không ai nhìn khuôn mặt trẻ trung và xinh đẹp ấy mà không thấy vui thú. Bởi vậy, bác hết sức vui vẻ reo lên:
– Thưa ông chủ, cầu Chúa phù hộ cho ông!
– Tôi rất mong được như vậy. Nào ai biết mình sẽ làm gì ở trên Trời, ngay anh còn không biết nữa là tôi. Tom này, họ anh là gì, anh có biết đánh xe ngựa không?
– Thưa ông chủ, cháu vẫn quen trông nom ngựa. Ông Shelby có rất nhiều ngựa.
– Ta định khi về trại anh sẽ đánh ngựa cho ta, miễn là mỗi tuần anh chớ say rượu quá một lần, trừ những trường hợp hết sức đặc biệt.
Bác Tom có vẻ ngạc nhiên, và như bị xúc phạm. Bác đáp:
– Thưa ông chủ, cháu không uống rượu bao giờ.
– Tom ạ, ta biết cái lối nói ấy rồi, để xem sao đã. Nếu anh không uống rượu, càng may cho tất cả mọi người...
Thấy dáng nghiêm trang của bác Tom, ông nói thêm:
– Thôi, đừng phiền lòng, Tom ạ. Ta không nghi ngờ gì ý định tốt của anh đâu.
– Thưa ông chủ, ý định của cháu rất tốt.
Eva nói xen vào:
– Ở nhà tôi, bác sẽ được sung sướng. Bố tôi tốt với tất cả mọi người, tuy bố tôi thích châm chọc người ta.
Saint Clare nói khẽ:
– Bố cảm ơn con đã giới thiệu bố.
Anh xoay người, rồi bỏ đi.