Lúc buổi chiều đầy sương đã xế, một người khách xuống xe, trước cửa quán ăn nơi thôn dã, ở làng N, bang Kentucky. Trong gian phòng công cộng, ông ta thấy đủ mọi hạng người, vì xấu trời nên vào trú tại đây. Đó là những con người cứng rắn, vui vẻ, ồn ào, mặc bộ đồ đi săn, và cử chỉ tự nhiên như là chủ nhà, theo thói quen của họ. Họ chất súng ống, bao đạn, túi săn ngổn ngang khắp xó. Còn những gã thanh niên da đen theo họ đi săn, thì nằm bò ở dưới đất trong bốn góc gian phòng. Ở bên lò sưởi, có một người ngồi, chân dài ngoằng, ghế ngửa ra đằng sau, mũ đội trên đầu, gót ủng bết bùn đặt trên mái lò sưởi. Phải nói rằng đó là kiểu ngồi thích nhất của những người hay qua lại quán ăn ở miền Tây này, cái dáng ngồi ấy thuận lợi cho sự suy nghĩ.
Cũng như hầu hết các ông chủ quán ở miền này, ông chủ đang đứng sau quầy hàng là một người to lớn, đầu tóc bù xù, tính tình vui vẻ, nhanh nhẹn. Ông đội một cái mũ vừa to vừa cao.
Sự thật người khách nào cũng đội cái mũ ấy. Mỗi cái mũ biểu hiện điển hình cho sự tự do của con người. Dù nó bằng dạ, bằng rơm, bằng lông hải li bóng mỡ, hay bằng lụa, nó đều nói lên sự độc lập của nền cộng hòa. Mà, thật thế, cái mũ làm nên con người. Có những người đội mũ ngang tàng trên đầu - đó là những người vui tính, vô tư, thân mật. Có những người chụp xuống tận mũi đó là những người cứng rắn, làm gì cũng chỉ theo ý mình. Cũng có những người đội hất ra tận sau gáy - họ muốn nhìn đời rõ hơn. Sau cùng, có những người ung dung, chẳng hề chú ý lắm đến cách đội mũ của mình, đội bừa bãi, thế nào xong thôi.
Người dân Kentucky ngày nay là một bằng chứng sinh động của cái thuyết về truyền thống của những bản năng và đặc điểm của một giống nòi. Xưa kia, ông cha họ là những nhà săn bắn lành nghề sống trong rừng núi hoặc cắm lều giữa trời bao la. Ngày nay, con cháu họ coi nhà ở của họ như là lều trại thuở xưa mà họ làm chúa tể. Họ lăn lộn trong ghế bành, như ông cha họ lăn lộn trên bãi cỏ xanh, duỗi chân gác lên đồ đạc như thể gác trên những thân cây. Đông cũng như hè, cửa lớn, cửa nhỏ mở toang, để buồng phổi nở nang được tràn đầy không khí. Họ vui cười, hờ hững, gọi tất cả những ai không quen biết là "khách lạ." Tất nhiên, họ là những kẻ tươi vui nhất, chân thật nhất, ít gò bó nhất trên đời này.
Đấy, ông khách của chúng ta - một ông già thấp mập, ăn mặc chỉnh tề, khuôn mặt hiền hậu, có vẻ thận trọng từng li từng tí - bước vào quán ăn, giữa đám người như thế. Ông giữ gìn rất cẩn thận cái va li và cái ô của ông. Ông tự mang lấy, chẳng khiến những người làm trong quán mang hộ. Ông đưa con mắt rõ ràng là ít tin cậy, nhìn quanh gian phòng, rồi khuân hành lí vào một góc, đặt trên một chiếc ghế. Ông ngồi xuống lo ngại nhìn một người ngang tàng đang ghếch chân, gác lên lò sưởi và khạc bên này, nhổ bên kia, với một vẻ thản nhiên và mạnh bạo làm cho ai yếu bóng vía phải hoảng sợ.
Một lát sau, anh chàng nhổ một tia nước bọt xám xịt màu thuốc lá về phía ông khách mới tới, chào ông ta:
– Kìa, ông khách lạ, công việc thế nào?
Ông kia hơi khiếp sợ vì sự đón tiếp ấy, đáp:
– Cũng khá, xin cảm ơn.
Người ngồi đối diện bên lò sưởi hỏi tin:
– Có gì mới không?
Nói rồi, anh ta rút ở túi ra một mồi thuốc lá to tướng và một con dao săn. Người khách lạ trả lời:
– Theo chỗ tôi biết, chẳng có gì đặc biệt.
Anh chàng kia mời:
– Ông nhai thuốc chứ?
– Anh ta đưa cho ông già sang trọng một mồi thuốc lá ép, vẻ cởi mở chân thành. Ông khách từ chối:
– Cảm ơn, tôi không thích thuốc lá.
Anh kia ngạc nhiên:
– Thật à?
Anh đút tỏm cái mồi thuốc lá vào miệng để lúc nào cũng giữ được cái mức sản xuất nước thuốc lá cho cử tọa. Mỗi khi anh chàng chân dài ngoằng "bắn đạn" về phía ông già sang trọng thì ông lại giật bắn người một cái. Sau cùng, anh ta nhận ra điều đó, liền có nhã ý hướng "khẩu súng" về phía khác, và bắt đầu "bắn" cái giá gác chân trong lò sưởi, với cái tài nghệ của nhà quân sự khiến anh ta có thể chiếm lĩnh được một thành phố. Ông già sang trọng hỏi:
– Cái gì ở đằng kia thế?
Ông thấy nhiều người khách trong quán ăn vây quanh cái áp phích lớn. Một tiếng trả lời gọn:
– Người ta truy nã một thằng da đen.
Ông Wilson, - tên ông già sang trọng - đứng dậy và, khi đã yên trí rằng cái va li và cái ô của ông được yên ổn, ông rút ở túi ra một cặp kính đeo lên mắt. Xong đâu đấy, ông đến gần áp phích, đọc những dòng chữ sau đây:
Một tên lai da đen tên là George mới bỏ trốn khỏi nhà người kí tên dưới đây. Vóc người, sáu bộ. Nước da, khá trắng. Tóc: nâu, xoăn. Rất thông minh, nói khá, biết đọc và viết. Có thể đã giả làm một người da trắng. Lưng và hai vai có nhiêu vết đòn, bàn tay phải có chữ H nung sắt đỏ.
Người kí tên dưới đây sẵn sàng tặng cho người nào bắt được hắn, một số tiền bốn trăm đô la, nêu bắt sống được hắn; và cũng số tiền đó, nếu có đủ bằng chứng rõ ràng rằng nó đã chết.
Ông già sang trọng khe khẽ đọc bảng "quảng cáo" từ đầu chí cuối, tưởng như ông đọc thuộc lòng.
Anh chàng chân dài ngoẵng vừa "bắn" cái giá gác chân trong lò sưởi vội chồm dậy, rướn cái thân cao lớn đứng dậy. Anh đến gần tờ áp phích, phun một tia nước thuốc lá vào tờ giấy. Trước khi quay lại ngồi xuống ghế, anh ta hét:
– Đấy, ý kiến của tôi đấy.
Ông chủ quán ngạc nhiên:
– Tại sao ông lại làm như vậy?
– Nếu cái thằng cha kí trên trên tờ giấy này có mặt ở đây, tôi cũng sẽ nhổ vào mặt nó. Anh chàng chân dài ngoằng vừa nói vậy vừa thái một cuốn thuốc lá. Kẻ nào có được một người nô lệ như thế, mà đối đãi tồi tệ đến nỗi anh ta bỏ trốn đi, thì chỉ đáng đối xử như thế. Những áp phích như thế này là sự nhục nhã cho bang Kentucky. Đấy, ý nghĩ của tôi như thế đấy. Tất cả mọi người đều có thể nghe rõ.
Nói xong, anh chàng bình thản tiếp tục công việc của mình. Ông chủ quán ghi chép cái gì trong sổ, rồi nói:
– Đấy là một sự thật.
Anh chàng kia vẫn "bắn" vào cái giá gác chân trong lò sưởi, tuyên bố:
– Tôi có cả một bầy nô lệ, ông ạ. Tôi thường bảo họ: "Các chú ạ, các chú cứ trốn đi, cứ bỏ đi, nếu lòng các chú muốn thế. Ta sẽ không phải là người đi tìm đuổi các chú đâu!" Vì vậy, tôi giữ được họ. Khi nào họ biết họ được tự do chuồn thẳng thì họ lại không chuồn. Ngoài ra, tôi còn đăng kí giấy giải phóng cho họ, nếu tôi chết; họ biết vậy. Bởi thế, trong vùng này, chẳng ai có năng suất lao động của người da đen bằng tôi. Nhiều lần, tôi sai họ đi Cincinnati bán ngựa cho tôi, mỗi con trị giá tới năm trăm đô la thế mà họ lại trở về mang tiền đầy đủ. Điều đó rất bình thường: đối đãi với họ như con chó, họ sẽ ăn ở như con chó; đối đãi với họ như con người, họ sẽ lao động xứng đáng như con người.
Lòng nhiệt tình của anh chàng buôn ngựa nhóm lên một ngọn lửa vui tươi trong lò lửa. Ông Wilson phát biểu ý kiến:
– Tôi nghĩ rằng ông nói hoàn toàn đúng, ông bạn ạ. Cái anh chàng da đen lai nói trong áp phích này là một người rất khá. Anh ta đã làm việc sáu năm trời trong xưởng may bao tải của tôi; người thợ giỏi nhất của tôi đấy; một anh chàng rất khéo; anh ta nghĩ ra một cái máy tuốt vỏ gai, kết quả khá lắm, nhiều nhà máy đã dùng thứ máy ấy. Cố nhiên, chủ anh ta nắm lấy cái bằng phát minh.
Anh chàng buôn ngựa làu bàu:
– Để bóc lột và để thưởng người phát minh, hắn đã đóng dấu sắt nung đỏ vào tay! Giả thử tôi có dịp, tôi sẽ đóng dấu sắt vào tay tên chủ đó cho mà coi.
Câu chuyện đến đây, thì một người, dáng thô bạo, ngồi ở phía bên kia phòng, xen vào. Gã nói dõng dạc:
– Thế nhưng, những thằng nô lệ hiểu biết kha khá ấy, lại lên mặt ngạo mạn, vì vậy phải đóng dấu sắt cho chúng nó và phải đánh đập chúng nó.
Anh chàng buôn ngựa cãi:
– Thế này nhé. Đức Chúa đã cho họ làm người, thế rồi người ta lại cố công cố sức bắt họ trở thành súc vật.
Gã kia không chịu thua:
– Những thằng da đen thông minh không đem một chút lợi lộc gì cho chủ. Chúng nó đã không được hưởng một chút quyền lợi gì về tài năng của chúng nó, thì cái tài ấy dùng để làm gì? Thế là chúng nó vênh mặt lên. Tôi đã có mấy thằng nô lệ kiểu ấy, tôi tức tốc bán về phương Nam. Tôi sợ một ngày kia, bằng cách này hay cách khác, sẽ mất toi.
Anh buôn ngựa mỉa mai:
Thế thì ngài phải xin Thượng đế nặn cho ngài những người nô lệ theo kích thước cần thiết, tức là hoàn toàn không có một chút tâm hồn.
Lúc ấy, một chiếc xe ngựa sang trọng do một con ngựa lanh lẹn kéo, chạy tới, làm câu chuyện dừng lại. Một người đàn ông ăn mặc sang trọng, điệu bộ cao kì ngồi trên xe, bên cạnh là một anh đánh xe da đen.
Tất cả mọi người trong quán chăm chú nhìn anh chàng mới tới, bằng con mắt tò mò của những kẻ vô công rồi nghề, nhân lúc xấu trời. Anh chàng cao lớn, da xạm nâu, vàng vàng như người Tây Ban Nha, hai con mắt đen nhánh lanh lẹn, tóc hớt ngắn, xoăn và rất đen. Cái mũi thẳng, đôi môi mỏng, rõ nét, hai ống chân thon dài lẳn trong ống quần may hẹp, những cái đó cho ta cảm tưởng anh ta là một người rất sang trọng. Anh ta hiên ngang bước qua đám đông rồi gật đầu ra hiệu chỉ cho người đày tớ nơi đặt chiếc hòm. Thế rồi, anh chào mọi người, tay cầm mũ, uể oải đi về phía quầy hàng. Người ta thấy anh xưng danh Henry Butter ở Oaklands miền Shelby tới. Xong đâu đấy, anh lạnh lùng quay đi, tiến đến gần cái bảng áp phích và đọc. Anh nói với gã đày tớ:
– Jim, hình như ta thấy một người đúng như cái bảng này mô tả, ở quán Bunyan? Mày nghĩ có đúng không?
Jim đáp:
– Thưa ngài, đúng thế. Nhưng con không để ý tới bàn tay.
Người khách lạ ngáp một cách vô tư, nói:
– Tao cũng thế, tao không chú ý.
Anh tiến về phía lão chủ quán, yêu cầu thuê một căn buồng; anh cần viết ngay một bức thư. Lão chủ quán khúm núm, vội vội vã vã. Thế là cả một tiểu đội những người da đen, nam và nữ, đi sửa soạn một căn buồng cho Ngài. Anh ta ngồi ngay chính giữa phòng, trao đổi vài ba câu chuyện với người bên cạnh.
Từ khi người khách lạ bước vào quán, ông Wilson, ông chủ xưởng may, đã tò mò chăm chú nhìn anh. Ông ngờ ngợ rằng ông đã gặp anh chàng ở đâu đó, nhưng không thể nhớ rõ ở đâu, trong hoàn cảnh nào. Mỗi lần anh chàng trẻ tuổi nói, cười hay làm cử chỉ, ông lại rùng mình, rồi quay mặt đi, tránh con mắt thông minh kia, đôi khi lướt nhìn ông rất lạnh nhạt. Sau cùng, một kỉ niệm chợt vụt qua trí nhớ của ông như một tia chớp; và ông biểu lộ nỗi ngạc nhiên rõ rệt quá, làm anh chàng thanh niên phải đứng dậy, đến gần ông và chìa tay ra bắt tay ông:
– Ngài là ngài Wilson, nếu tôi không lầm? Xin ngài thứ lỗi, tôi không nhận ngay ra ngài. Tôi biết ngài đã nhớ lại tôi, ông Butter, người Oaklands, miền Shelby.
Ông Wilson, như ở trong một giấc mơ, ấp úng đáp:
– Vâng... vâng... vâng...
Vừa lúc ấy, một chú bé da đen cho biết căn buồng của Ngài đã sửa soạn xong.
Ông Butter bảo anh đầy tớ:
– Jim, mang đồ lề lên nhé.
Rồi, quay lại ông Wilson, anh nói thêm:
– Thưa ngài, tôi muốn thưa với ngài một câu chuyện, xin mời ngài quá bộ lên phòng tôi một lát.
Ông Wilson bước theo anh, như còn trong cơn mơ ngủ. Người ta dẫn hai người vào căn phòng rộng rãi, một ngọn lửa mới nhóm chiếu sáng; mấy người đầy tớ vừa sửa soạn xong căn phòng. Sau khi các đầy tớ đã ra ngoài, anh thanh niên lặng lẽ đóng chặt cửa lại, để chìa khóa vào túi, quay lại và khoanh hai tay trước ngực. Anh nhìn thẳng vào đôi mắt Wilson. Ông Wilson kêu lên:
– George.
Người thanh niên mỉm cười:
– Vâng, George đây ạ.
– Tôi không thể nào tin được đôi mắt của tôi nữa!
Người thanh niên khoái chí cười:
– Xem đấy thì biết, tôi cải trang quả là khá thật. Tôi bôi dầu hồ đào nên da tôi mới nâu thế này; tôi nhuộm đen mớ tóc màu nâu nữa. Thế là tôi chẳng giống cái giấy nhận dạng một chút nào.
– Anh George! Anh chơi trò chơi nguy hiểm quá. Tôi chẳng bao giờ dám khuyên anh làm điều ấy.
George vẫn mỉm một nụ cười kiêu hãnh, dõng dạc nói:
– Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Nên nói qua rằng nước da trắng của George là do dòng máu của cha anh; còn mẹ anh là một trong những người đàn bà khốn khổ mà nhan sắc đã làm cho họ trở thành nô lệ của ông chủ và trở thành người mẹ của những đứa trẻ không bao giờ có bố. George có những nét rất đẹp của người châu Âu, do anh thừa hưởng từ một trong những dòng dõi kiêu kì nhất của bang Kentucky. Anh chỉ thừa hưởng của mẹ được nước da ngăm đen, nhưng được đền bù lại đôi mắt đen linh lợi. Bây giờ, thoa thêm một màu nhàn nhạt trên nước da, anh có thể trở thành một khách du hành Tây Ban Nha. Nhìn có cái dáng vốn tự nhiên đã đường hoàng và những bộ điệu vốn dĩ lịch sự, anh đóng vai con nhà gia thế đi du lịch, theo sau là một người đầy tớ, không có gì là khó khăn.
Ông Wilson xúc động, đi đi lại lại trong gian phòng. Ông nửa muốn giúp đỡ George, nửa muốn tôn trọng pháp luật, duy trì trật tự trị an.
Ông khẽ nói, vẻ hết sức lúng túng:
– George, tôi chắc anh đã trốn khỏi nhà chủ. Về phần anh, tôi không lấy làm lạ; nhưng tôi thương hại anh.
– Thưa ngài, sao vậy?
– Bởi vì, làm như vậy, anh vi phạm pháp luật của xứ sở anh.
George chua chát nói:
– Xứ sở của tôi! Thưa ngài, tôi còn xứ sở nào, ngoài nấm mồ?
– Kìa, anh George, anh chớ nói thế. Tôi biết anh có một người chủ tàn ác, và tôi chẳng tìm cách bênh vực ông ta làm gì. Nhưng, anh biết là Chúa đã ra lệnh cho Hagar trở về với bà chủ của anh ta, và chịu khuất phục bà, và Người đã đưa Onesimus trở về với chủ của hắn ta.
George, con mắt nảy lửa, nổi giận:
– Ngài Wilson, xin ngài đừng đọc kinh Thánh cho tôi nữa. Vợ tôi là một người ngoan đạo, tôi có ý định đến ngày tôi đạt được mục đích của tôi, tôi cũng theo đạo. Nhưng kể kinh Thánh cho một người đang ở hoàn cảnh như tôi lúc này, tức là làm cho anh ta mãi mãi quay lưng lại với kinh Thánh. Tôi cầu cứu Thượng đế tối cao. Tôi muốn hỏi Người xem tôi chọn con đường tự do, có phải là tôi đã hành động sai lầm không.
Ông Wilson chân thực xỉ mũi và nói:
– Anh George ạ, tình cảm của anh rất hợp với tự nhiên. Tình cảm của anh rất tự nhiên, nhưng nhiệm vụ của tôi là không nên khuyến khích những tình cảm ấy. Anh thật là khốn khổ. Nhưng Chúa đã nói: "Mỗi người đều phải ở nguyên địa vị của mình đã có." Chúng ta phải chịu đựng cái số phận mà ý muốn của chúa đã dành cho chúng ta, anh có hiểu không?
George nhìn ông chằm chằm, nụ cười chua chát trên môi, hai tay khoanh trước ngực:
– Thưa ngài Wilson, giả thử những người da đen giam cầm ngài, bắt ngài mang đi, xa vợ, xa con ngài, bắt ngài làm việc cho họ suốt đời, thử xem ngài còn cho nhiệm vụ của ngài là cam chịu số phận của ngài không? Theo ý tôi, ngài sẽ cho rằng con ngựa đầu tiên ngài gặp ở dọc đường, là ý muốn của Thượng đế. Tôi nói như vậy có đúng không?
Hình như ông Wilson suy nghĩ về vấn đề này, nhưng ông chẳng là người ưa lí luận nhiều, và ông có cái lương tri mà lắm nhà lí luận không có: đó là sự im lặng, khi chẳng có gì để nói nữa. Thế nhưng, vừa lấy tay vuốt vuốt cái ô, để làm cho mất những nếp trên ô, ông vừa nói đôi ba lời khuyên chung chung:
– Anh biết là bao giờ tôi cũng đứng về phía anh, cũng chăm lo đến hạnh phúc của anh. Nhưng công việc anh làm bây giờ rất nguy hiểm. Nếu anh bị bắt, anh sẽ chịu bao nhiêu cực nhục, sau khi đánh đập anh đến thập tử nhất sinh, người ta sẽ bán anh về phương Nam.
George đáp:
– Tôi biết thế. Nhưng ngài xem... - anh hé mở cái áo khoác, chỉ hai cái súng lục và một con dao có nấc hãm. Anh nói:
– Tôi sẵn sàng tự vệ. Nếu có việc không hay nhất xảy ra, ít ra tôi cũng chiếm được một khoảng đất tự do chừng hai thước. Đó là miếng đất tự do đầu tiên và cuối cùng của tôi ở cái bang Kentucky này... Ngài Wilson, ngài hãy trông tôi đây. Tôi chẳng là một người cùng ngang hàng với ngài đấy ư? Xin tâm sự với ngài một điều. cha tôi là một trong những người tai to mặt lớn ở Kentucky, nhưng chẳng hề chăm nom săn sóc đến tôi, chẳng hề tìm cách ngăn cản cho tôi khỏi bị bán đi cùng với đàn ngựa, đàn chó. Sau khi cha tôi chết, tôi đã thấy mẹ tôi bị bán nơi công cộng cùng với bảy người con. Mẹ tôi đã phải thấy cái cảnh bảy đứa con bị bán từng đứa, cho bảy người chủ khác nhau. Tôi là đứa con út. Mẹ tôi đã phải quỳ xuống trước mặt lão chủ, van xin lão ta mua cả mẹ tôi và tôi, để ít ra mẹ tôi còn giữ được một đứa con. Nhưng lão ta đã đá hất mẹ tôi đi. Tôi đã trông thấy mẹ tôi trong tình cảnh ấy, và bây giờ tôi tưởng như còn nghe thấy tiếng mẹ tôi kêu thét lên và rền rĩ, lúc tôi bị buộc lên trên cổ ngựa mang đi.
– Thế rồi sau thế nào?
– Ông chủ tôi điều đình với một người mua nô lệ, và mua lại được người chị lớn nhất của tôi, một người con gái ngoan đạo, và cũng xinh đẹp như người mẹ tội nghiệp của tôi lúc còn trẻ. Thoạt đầu, tôi sung sướng lắm, vì ít ra tôi cũng được gần gũi một người thân thích. Nhưng, thưa ngài, nỗi vui đó có được bao lâu. Biết bao lần tôi đã chẳng đứng sau cánh cửa, nghe ông chủ đánh đập chị tôi. Mỗi đòn vút xuống như xé lòng tôi. Chị tôi bị trừng phạt, bởi vì chị tôi là một người con gái kiên trinh. Lần cuối cùng tôi được thấy chị tôi, là lúc chị tôi bị xiềng xích đầy người, cùng với một đàn nô lệ của một thằng lái buôn đi về New Orleans, và từ đấy, không bao giờ tôi còn tin tức nữa. Tôi đã sống, tôi đã lớn lên, không cha, không mẹ, không một người thân yêu. Tôi bị đánh đập, chửi rủa, bị đói khát đến mức rất sung sướng được tranh giành một mẩu xương với một con chó. Đêm đêm, tôi khóc không phải vì đói hay vì đớn đau, mà vì không còn một ai thân thích. Trước khi tôi về xưởng may của ngài làm việc, tôi không hề biết thế nào là tình bạn, là sự yên ổn hay hạnh phúc. Ngài Wilson ạ, ngài đã đối đãi tốt với tôi, ngài đã khuyến khích tôi, nhờ có ngài, tôi đã học đọc, học viết. Chỉ có Chúa mới biết tôi mang ơn ngài đến mức nào. Thế rồi, thưa ngài, tôi đã được gặp vợ tôi. Ngài đã thấy, vợ tôi xinh đẹp. Khi tôi biết người con gái ấy yêu tôi, khi tôi lấy vợ, tôi sung sướng quá tưởng như sống trong một giấc mơ. Nhưng những việc gì đã xảy ra? Ông chủ tôi lôi tôi đi xa, xa công, xa việc, xa những người tôi thương mến, những cái tôi ưa thích và bắt tôi làm những công việc nặng nhọc nhất. Tại sao như thế? Bởi vì, theo ông ta, tôi đã quên tôi là ai. Cần phải dạy cho tôi biết tôi chỉ là một thằng da đen! Sau cùng, ông ta bắt tôi phải bỏ vợ để lấy người vợ khác. Tất cả những cái đó, luật pháp của ngài cho phép ông ta làm... Tất cả mọi việc làm cho tan nát cõi lòng của mẹ tôi, chị tôi, vợ tôi và cả tôi nữa, đều được pháp luật cho phép. Thế mà ngài bảo cái pháp luật ấy là của xứ sở tôi ư? Tôi không có xứ sở, cũng như tôi không có cha. Nhưng xứ sở thì tôi mong tôi sẽ có. Tôi chỉ yêu cầu xứ sở của ông để cho tôi ra đi được yên ổn. Khi tôi tới Canada, nơi pháp luật che chở tôi, tôi sẽ sẵn sàng tuân theo pháp luật. Nhưng, nếu người ta tìm cách ngăn chặn tôi, không cho tôi ra đi, tôi sẽ tự vệ và liệu hồn! Tôi sẽ chiến đấu cho tự do của tôi đến hơi thở cuối cùng. Tổ tiên ông đã chinh phục được tự do; nếu đó là quyền của họ, thì cũng là quyền của tôi.
Đó là những điều mà ngài Wilson tội nghiệp không thể chịu đựng nổi. Ông lấy khăn mùi soa lụa lớn màu vàng, chấm chấm trán, và bỗng nhiên cơn giận bốc lên:
– Chúng nó chết tiệt cả đi! Nhưng anh George ạ, anh phải thận trọng. Anh chớ giết người, trừ phi là... Không, tốt hơn là đừng bắn ai. Anh George, bây giờ vợ anh ở đâu?
– Thưa ngài, đã bỏ đi rồi, một đứa con trong tay. Không ai biết chúng tôi sẽ gặp nhau ở đâu, hay có bao giờ được gặp nhau nữa không.
– Ra đi à? Sao có thể như thế được? Bỏ một gia đình tốt như thế?
– Ngay những gia đình tốt vẫn có thể mang công mắc nợ, và luật pháp của xứ sở ngài cho phép họ cướp những đứa bé trong lòng mẹ, bán đi để lấy tiền trả nợ.
Ông Wilson trung thực thọc tay vào túi. Ông than thở:
Khốn khổ quá, George ạ, tôi không cho là tôi phải... Và, tôi cũng không muốn là phải nữa kia...
Bỗng ông nói thêm:
– Này, anh George, anh cầm lấy!
Ông rút ở trong ví ra một tập giấy bạc, đưa cho người thanh niên.
George từ chối:
– Không, thưa ngài, ngài là hiện thân của lòng tốt. Xưa nay, ngài vẫn tốt với tôi, nhưng việc này có thể làm phiền cho ngài. Tôi có đủ tiền để đi con đường dù xa đến mấy.
– Anh George ạ, anh cầm lấy cho tôi. Ở đâu, tiền cũng được công được việc. Chẳng bao giờ tiền là quá nhiều, miễn là người ta kiếm ra bằng cách lương thiện. Xin anh, anh cầm lấy, anh ạ.
George cảm tạ đáp:
– Thưa ngài, với điều kiện là sẽ được trả lại ngài sau này. Tôi xin nhận và cảm ơn ngài.
– Bây giờ tôi muốn biết anh phải đi như thế này trong bao lâu. Không quá lâu, không xa quá, được thế thì tốt. Thật khéo tính đấy, nhưng táo bạo quá. Còn anh da đen đi với anh là thế nào?
– Một người tin cậy, sang Canada đã được hơn một năm nay. Ở bên đó, anh ấy được tin tên chủ phẫn nộ lên vì anh bỏ trốn, đã đánh đập người mẹ già của anh ấy, anh ấy trở lại để mang mẹ đi.
– Công việc đã xong chưa?
– Chưa, anh ấy quanh quất chung quanh đồn điền, như chưa tìm được thời cơ thuận lợi. Trong khi chờ đợi, anh ấy dẫn tôi đến Ohio. Anh sẽ giao tôi cho những người bạn đã giúp đỡ anh ấy chuyến trước. Sau đó, anh ấy sẽ quay trở lại tìm mẹ.
Ông Wilson nói:
– Nguy hiểm, rất nguy hiểm!
George đứng dậy, trên môi nở một nụ cười kiêu hãnh. Ông già Wilson, với vẻ ngạc nhiên ngây thơ, nhìn anh từ đầu đến chân. Ông lẩm bẩm:
– George ạ, anh khác hẳn trước. Đầu anh ngẩng cao, anh ăn nói và có những cử chỉ của một con người khác.
George hãnh diện nói dõng dạc:
– Bởi vì tôi là một người tự do. Lần cuối cùng tôi đã phải gọi một người bằng "ông chủ." Bây giờ tôi tự do!
– Anh phải cẩn thận! Có thể bị bắt đấy.
– Thưa ngài Wilson, ở dưới mồ thì mọi người đều tự do và bình đẳng, nếu phải đến nước ấy.
– Anh táo bạo quá, làm tôi mất cả hồn vía. Sao anh lại dám vào cái quán gần nhất thế này?
– Chính vì táo bạo, cũng chính vì quán này gần, nên không ai có thể ngờ rằng tôi dám làm như vậy. Người ta đi tìm bắt tôi ở rất xa kia. Cả ngài đấy, ngài cũng không nhận ra tôi. Tên chủ của anh Jim không ở vùng này. Ở đây, không ai biết anh ấy. Vả lại, người ta cũng đã thôi tìm kiếm rồi. Còn tôi, tôi không nghĩ rằng bảng nhận dạng có thể làm cho người ta nhận ra được tôi.
– Nhưng còn cái dấu trên bàn tay?
George rút chiếc găng tay ra, chỉ một vết thương chưa kín hẳn miệng. Anh khinh bỉ nói:
– Đây là món quà tiễn biệt của ngài Harris. Cách đây nửa tháng, ông ta nhất định tặng cho tôi, vì theo lời ông ta, ông ta tin rằng tôi sẽ bỏ trốn. Thật có vẻ hấp dẫn, phải không ạ? Anh chàng thanh niên nói đùa như vậy và đeo găng tay.
– Cứ nghĩ đến nguy hiểm của anh, máu tôi như cóng lại!
– Thưa ngài Wilson, máu tôi đã đông lại từ bao nhiêu năm nay rồi. Bây giờ, máu tôi nó sôi lên.
George nghỉ một lát, rồi nói tiếp:
– Lúc nãy, tôi thấy ngài đã nhận ra tôi, tôi thấy cần thiết phải nói chuyện với ngài, con mắt ngạc nhiên của ngài có thể làm tôi bị lộ. Sáng sớm mai tôi đi trước khi mặt tròi mọc. Chiều mai tôi mong được đến Ohio yên ổn. Tôi sẽ đi ban ngày, dừng lại ở những khách sạn lớn nhất, tôi sẽ ăn ở những bàn khách sang trọng nhất. Thôi, xin chào ngài. Nếu ngài được tin tôi bị bắt, tức là tôi đã chết.
George đứng thẳng, kiêu hãnh, giơ tay ra bắt tay ông già; ông thân mật nắm chặt bàn tay, vội vã rời căn phòng, tay ôm cái ô. Lúc ông khép cửa lại thì George vội vàng chạy theo ra:
– Thưa ngài Wilson, xin nói với ngài một điều nữa...
Ông già trở vào. George có vẻ do dự, rồi ngẩng cao đầu, anh nói to:
– Thưa ngài, từ trước, đối với tôi bao giờ ngài cũng tỏ ra là một người sùng đạo. Tôi muốn xin ngài giúp cho một việc cuối cùng.
– George, anh cứ nói đi.
– Lời ngài nói rất đúng, quả là tôi đang gặp một sự nguy hiểm ghê gớm.
Anh vừa thở vừa cố gắng nói thêm:
– Nếu tôi chết đi, sẽ chẳng có một người nào phải đau khổ; chẳng một người nào, chỉ trừ người vợ tội nghiệp của tôi. Mong ngài đưa tới cho vợ tôi chiếc trâm này. Đó là vật kỉ niệm mà người vợ thân yêu của tôi tặng tôi... Xin ngài đưa lại cho vợ tôi và bảo rằng tôi đã yêu cô ấy đến ngày cuối cùng... Có được không ạ? Ngài có nhận giúp tôi việc này không? Xin ngài nói đi! - George năn nỉ nhắc lại.
Ông Wilson cầm lấy chiếc trâm, ướt đầm nước mắt, giọng run run đáp:
– Được, được, con ạ.
– Xin ngài nói thêm với vợ tôi... Đó là nguyện vọng cuối cùng của tôi. Dù bà chủ nhà vợ tôi có tốt, dù vợ tôi có thiết tha đến gia đình ấy, cái đó không cần; người nô lệ bao giờ cũng chết trong cực nhục. Xin ngài bảo với vợ tôi phải nuôi con trở thành người tự do, để sau này nó không phải đau khổ như tôi. Thưa ngài Wilson, ngài sẽ nói vậy, có phải không?
Được, tôi sẽ nói với chị ấy như vậy, anh George ạ. Nhưng, anh sẽ không chết; anh hãy can đảm lên, anh là một thanh niên trung thực. Điều tôi ước mong hơn cả, là anh sẽ đến ngay được xứ sở tự do bên kia sông.