Túp Lều Của Bác Tom

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
12. Dẫn Chứng Chọn Lọc Trong Một Nền Thương Nghiệp Hợp Pháp

❊ ❊ ❊

Haley và bác Tom vẫn ngồi trong một chiếc xe lắc la lắc lư trên con đường dài. Mỗi người mải miết theo đuổi ý nghĩ riêng của mình. Có điều lạ là tuy hai người ngồi bên nhau, họ cùng có một đôi mắt, đôi tai, đôi chân, đôi tay như nhau và trước mắt họ là những cảnh vật giống nhau, nhưng ý nghĩ của họ khác nhau một cách lạ lùng!

Chẳng hạn như gã Haley: trước hết, hắn nghĩ đến cái thân thể chắc nịch của bác Tom và nhẩm tính giá cả có thể bán được, nếu khi ra đến chợ, bác vẫn khỏe mạnh như hiện nay. Hắn còn nghĩ cách làm sao mua được đủ "lô" hàng, và nghĩ đến giá trị hàng hóa của những người nô lệ đàn ông, đàn bà, trẻ con hãy còn nằm trong dự kiến nhưng đã hợp thành lô hàng của hắn. Thế rồi hắn nghĩ đến chính bản thân hắn, và sung sướng thấy mình nhân đạo quá. Bọn con buôn khác xích chân, xiềng tay những người da đen; còn hắn, hắn chỉ cần xiềng có chân, bởi vì những người nô lệ có thái độ khá tốt. Nghĩ đến sự bạc bẽo của loài người, hắn thở dài. Ngay cả bác Tom kia cũng có thể không đánh giá được hết những phẩm chất tốt đẹp của hắn. Hắn ngạc nhiên thấy hắn vẫn có lòng tốt như vậy, sau bao thất bại chua cay...

Còn bác Tom, bác nhớ đến một đoạn trong một quyển sách, nay không còn mấy ai đọc nữa. Đoạn văn ấy nói về đời người giống như một buổi dừng chân trên trái đất; nói về cái xứ sở mà Đấng Vĩnh Cửu dành cho ta. Từ xưa, lời hứa hẹn ấy đã có tác dụng kì diệu đối với những con người giản dị; như một hồi kèn trận thúc giục, nó tăng cường lòng can đảm, nghị lực và tinh thần phấn khởi ở bất cứ nơi nào chỉ còn tuyệt vọng.

Haley rút ở túi ra vài tờ báo, mải miết đọc những lời rao vặt. Vốn hắn đọc không thông lắm, hắn thường phải đọc to lên, như thể để hai tai viện trợ thêm cho hai con mắt. Thế là hắn ấp a ấp úng đọc ê a những hàng sau đây:

TÒA ÁN BÁN MỘT SỐ HÀNG: - Những tên da đen. Chiều theo quyết định của Tòa án, ngày thứ ba, 20 tháng hai tới, tại trước cửa Tòa án thành phố Washington, bang Kentucky, sẽ tổ chức bán những tên da đen sau đây: Hagar, 60 tuổi; John, 30 tuổi; Ben, 21 tuổi; Saul, 25 tuổi; Albert, 14 tuổi. Số tiền thu được do việc bán những tên đen kể trên sẽ thuộc về những chủ nợ và những người được hưởng gia tài của ông Jesse Blutchford.

Kí tên: Samuel Morris, Thomas Flint, những người thi hành quyết định của Tòa án.

Không thể nói với ai khác được, Haley đành tâm sự với bác Tom:

– Tao phải đến nơi bán nô lệ này mới được. Mày xem, tao sẽ mua cho đủ một "lô" hảo hạng để cùng đi với mày. Đời mày thế là thoải mái hơn. Cho nên, trước hết, phải đến Washington đã. Tao sẽ nhốt mày trong nhà tù, còn tao đi thu xếp công việc.

Bác Tom bình thản đón cái tin ấy, nhưng bác tự hỏi trong số những người khốn khổ ấy, bao nhiêu người có vợ con, và không biết họ có sẽ đau khổ như bác, lúc phải xa lìa những người thân yêu không. Cái tin bác sẽ bị nhốt trong nhà tù làm cho bác bùi ngùi; xưa nay bác vẫn tự hào về tấm lòng trung thực của mình.

Lúc trời gần tối, Haley và bác Tom đã có chỗ ở tươm tất ở Washington, một người trong quán trọ, một người trong xà lim.

Ngày hôm sau, khoảng mười một giờ, một thứ công chúng phức tạp nhộn nhịp dưới chân cầu thang tòa án, chờ đợi cuộc bán đấu giá. Những người đàn ông và những người đàn bà sắp sửa bị mang ra bán tụ tập thành một toán riêng biệt. Họ thì thầm trò chuyện với nhau. Người đàn bà có tên là Hagar trên bảng yết thị, có những nét và dáng điệu một người châu Phi thực sự. Có lẽ là sáu mươi tuổi, nhưng trông già hơn tuổi, do cuộc đời bạo lực quá khổ cực, bà như gần mù. Bệnh thấp khớp làm cho bà hầu như không thể cử động được nữa. Chú bé Albert, mười bốn tuổi, vẻ linh lợi - đứa con trai duy nhất còn lại của bà - đứng bên cạnh. Albert là người độc nhất còn sót lại trong một gia đình đông đúc. Mọi người dần dần bị bán cho thị trường phương Nam. Bà mẹ ôm chặt lấy chú bé trong hai cánh tay run run, lo lắng nhìn kẻ nào đến gần xem xét chú. Người đàn ông cao tuổi nhất bảo bà:

– Bác Hagar, bác đừng sợ. Tôi đã nói với ông chủ Thomas, chắc ông ấy sẽ bán hai mẹ con bác trong cùng một "lô."

Bà cụ phân trần luôn miệng:

– Đừng tưởng tôi là đồ bỏ đi. Tôi còn nấu bếp được, rửa nồi xoong, lau nhà được. Ai mua tôi giá rẻ là có lợi đấy. Nhờ ông bảo họ thế giúp tôi.

Haley lách qua đám đông, đến gần người đàn ông đang nói chuyện với bà Hagar, vạch mồm ông ta ra, nhìn vào bên trong, rồi lấy ngón tay sờ vào hàm răng; hắn bắt ông ta đứng dậy, cúi khom xuống, lại đứng thẳng dậy và làm các thứ cử động, để quan sát các bắp thịt. Rồi hắn lần lượt xem xét những người khác, y như thế. Sau cùng, hắn đến bên chú bé, nắn nắn bắp tay chú, bắt chú nhảy nhảy để biết chú nhanh nhẹn đến mức nào.

Bà cụ Hagar thiết tha nói:

– Mua nó là phải mua cả tôi đấy. Nó với tôi cùng ở một "lô" đấy. Thưa ngài, tôi còn khỏe lắm, tôi còn làm được vô khối công việc.

Haley khinh khỉnh nhìn bà cụ, quát:

– Làm công việc trong đồn điền hử? Đừng hòng.

Xem xong, hắn hài lòng lắm; hắn đến ngồi giữa đám người mua nô lệ, hai tay đút túi, miệng ngậm một điếu xì gà, mũ đội lệch trên đầu, sẵn sàng hành động. Một người từ nãy đã nhìn Haley xem xét món hàng, hỏi hắn như muốn dò xét ý kiến của hắn để chốc nữa mua nô lệ:

– Ông thấy thế nào?

Haley nhổ toẹt một bãi nước bọt ra xa, đáp:

– Tôi định mua những đứa trẻ nhất và thằng nhóc.

– Người ta định bán thằng bé cùng với bà cụ.

– Đâu phải chuyện chơi, con mụ chỉ còn cái da bọc xương, không đáng một đồng xu.

– Thê ông không định mua cả hai mẹ con à?

– Có họa điên! Con mụ đã gần mù rồi, lại thấp khớp đến bại liệt, còn lẩm cẩm nữa.

Người đàn ông kia nói, dáng suy nghĩ:

– Có người ưa mua những bà cụ già, vì những bà cụ thường được việc hơn là người ta tưởng.

Haley nhăn mặt:

– Tôi không tán thành ý kiến ấy. Có cho thêm, tôi cũng chẳng thèm.

– Mua con bà cụ, mà không mua bà cụ, thì khổ cho người ta quá, bà cụ chỉ mong có thế. Tôi nghĩ người ta chẳng đòi thêm xu nào đâu.

Haley giễu:

– Kẻ nào có tiền vứt qua cửa sổ thì cứ vứt. Còn tôi, tôi chỉ mua thằng nhóc; nó có thể làm việc ở một đồn điền được; có cho không tôi con mụ già, tôi cũng không thèm, thêm nặng nợ.

– Bà cụ sẽ đau đớn lắm.

– Tất nhiên.

Câu chuyện đến đây thì ngắt quãng, đám đông công chúng ồn ào hẳn lên: lão bán đấu giá, một người to bè bè, nóng nảy và rất hợm, huých mọi người mà đi tới. Bà cụ Hagar tự nhiên bíu chặt lấy con.

– Albert, con đứng cạnh mẹ. Người ta bán cả hai mẹ con mình cùng một "lô" đấy.

– Thưa mẹ, con sợ không phải...

Bà cụ khốn khổ nói to:

– Không có con, mẹ sống làm sao nổi!

Cái giọng oang oang của lão bán đấu giá ra lệnh cho mọi người giãn ra; sắp bắt đầu bán. Đã có một quãng rộng, cuộc bán đấu giá bắt đầu. Những người có tên trên bảng yết được mua bằng giá cao, chứng tỏ thị trường đang có yêu cầu lớn. Haley mua được hai người.

Lão bán đấu giá lấy cái búa khẽ đập vào người chú bé Albert, hét:

– Đến lượt mày, thằng nhóc! Đứng dậy, mày hãy làm cho mọi người biết mày mềm mại, lanh lẹn đến mức nào đi.

Bà cụ già không buông đứa con trai của mình, van vỉ:

– Thưa ngài, xin ngài bán cả hai mẹ con chúng tôi một lúc.

Lão kia gạt bàn tay bà cụ ra, quát:

– Cút đi! Mày đến lượt sau cùng. - Rồi lão nói thêm: - Nào, thằng bé da đen kia, nhảy đi!

Nói vậy, lão đẩy chú bé lên chiếc bục; một tiếng rền rĩ đằng sau lưng. Chú bé quay lại, nhưng không thể chậm trễ được, chú phải nuốt nước mắt bước ra trước đám người mua.

Cái dáng người thon, đôi chân vững chắc, khuôn mặt thông minh của chú bé làm cho mọi người thi nhau mua. Những tiếng trả giá nổi dậy tứ phía. Chú bé lo lắng quay đầu nhìn về phía có những tiếng lên giá. Sau cùng, một tiếng búa dứt giá. Albert về tay Haley. Người ta đẩy chú xuống bục, lôi chú về với ông chủ mới, nhưng chú dừng lại một lát, liếc nhìn về phía mẹ. Toàn thân bà cụ run rẩy, bà giơ tay về phía con:

– Thưa ngài chủ, vì Chúa, xin ngài mua tôi với. Ngài mua tôi với, không thì tôi chết mất.

Haley cau mặt:

– Nếu tao mua mày, chắc chắn là mày sẽ chết!

Nó quay ngoắt bỏ đi. Còn bà cụ Hagar, chẳng mấy ai buồn mua. Người đàn ông nói chuyện với Haley lúc nãy hẳn là người có đôi chút lòng thương hại, mua bà cụ với cái giá rẻ mạt. Thế rồi mọi người tản mạn ra về.

Những người nô lệ vừa bị bán, trước đây cùng ở chung một đồn điền, xúm quanh bà Hagar tội nghiệp. Trông thấy bà đau đớn, thật là thương tâm. Bà mẹ, lòng tan nát, nhắc lại mãi một câu:

– Không thể để lại cho tôi một đứa, một đứa thôi ư? Ông chủ vẫn bảo tôi có thể giữ lại một đứa.

Bà đã tới gần chú bé. Chú van mẹ:

– Mẹ, mẹ ơi, mẹ đừng khóc. Người ta bảo mẹ được một ông chủ tốt.

– Mẹ thì cần gì? Albert, con ơi...

Haley ra lệnh:

– Nào, tránh cả ra! Làm thế này có ích gì cho mụ ta?

Những người lớn tuổi nhất trong đoàn nô lệ, nửa bằng sức thuyết phục, nửa bằng sức mạnh, bắt buộc bà cụ rời đứa con. Họ vừa xốc bà đến bên chiếc xe của chủ mới, vừa ra sức an ủi bà.

Haley đẩy ba món hàng mua được đi lên phía trước; hắn có sẵn một đống dây xích, hắn xiềng tay ba người, buộc vào một cái xích dài. Cứ thế hắn lùa những người nô lệ đi trước, cho tới nhà tù.

Mấy hôm sau, Haley đã ở trên một con tàu chạy trên dòng sông Ohio. Cái "lô" của hắn, hắn định sẽ bổ sung dần, khi đi qua các bến đỗ. Ở những nơi đó, chính hắn hay tay chân của hắn đã chứa sẵn hàng.

Con tàu "Dòng sông đẹp" vui vẻ xuôi dòng. Ngọn cờ đầy sao của nước Mĩ tự do phần phật bay trước làn gió nhẹ. Boong tàu đầy những người ăn mặc sang trọng đang hưởng cái ngày đẹp và trong sáng hôm nay. Tất cả mọi người đều vui vẻ, chỉ trừ có đoàn người của Haley, hình như không hề thưởng thức cái cảnh này. Những người khốn khổ ấy bị chứa chất lẫn với những hàng hoa khác, ở boong tàu phía dưới. Họ ngồi thành vòng tròn, khe khẽ trò chuyện với nhau. Haley nhanh nhẹn bước đến gần đám người nô lệ, vui vẻ nói:

– Các con ạ, ta mong các con giữ được một tinh thần tốt. Ta không thích những kẻ quàu quạu. Nếu các con ăn ở cho phải, ta cũng sẽ đối xử lại như thế.

"Các con" bao giờ cũng trả lời bằng mấy tiếng bất di bất dịch: "Thưa ông chủ, vâng." Những tiếng ấy, bao nhiêu năm nay đã từng là những tiếng chủ yếu của châu Phi đau khổ. Sự thật, họ không thể nào vui được. Những người ấy phần lớn vừa vĩnh biệt người vợ, người mẹ, người chị và con cái họ, họ không hi vọng gì được gặp lại những người thân yêu. Khi Haley đã đi xa, cái món hàng có nhãn hiệu "John, 30 tuổi" đặt cánh tay đeo xiềng lên đầu gối bác Tom. Anh nói khẽ:

– Nhà tôi không biết tí gì về việc này của tôi.

Bác Tom hỏi:

– Chị ấy ở đâu?

John đáp:

– Trong một quán ăn, bên dưới xuôi một tí. Tôi muốn gặp nhà tôi quá, dù chỉ là một lần.

Tội nghiệp anh John! Chẳng qua đó là một tình cảm tự nhiên, và những giọt nước mắt cũng chảy tự nhiên như những giọt nước mắt của một người da trắng. Bác Tom thở dài não nuột. Tự đáy lòng, bác cố hết sức an ủi John.

Phía trên kia, ngay trong phòng khách, các ông bố và các bà mẹ, những người chồng và những người vợ, ngồi trong ghế bành nhìn con cái họ chạy nhảy quanh mình. Một thằng bé vừa ở boong dưới lên, kêu:

– Mẹ ơi! Ở trong tàu, có một người buôn người da đen. Người ta mang theo đến bốn hay năm người da đen ấy, mẹ ạ.

Bà mẹ vừa buồn bực, vừa bất bình, tỏ vẻ thương hại:

– Thật là những người tội nghiệp!

Thằng bé nói rõ hơn:

– Họ bị xiềng mẹ ạ!

Một bà khác nói:

– Thật là một điều xấu hổ, ngay trong một nước như nước chúng ta.

Một thiếu phụ ăn mặc sang trọng đang ngồi thêu, có hai đứa con, một trai, một gái, đùa nô bên cạnh cũng góp chuyện:

Cũng có điều hơn, điều thiệt. Tôi đã đi thăm phương Nam, tôi cho rằng người da đen ở đấy hiện nay sướng hơn là nếu họ được tự do.

Nhận xét này là để trả lời bà nói câu trước. Bà này cãi:

– Về một ý nghĩa nào đó, một số ít người da đen được đối xử tử tế, tôi không phủ nhận điều ấy. Theo ý tôi, khía cạnh đen tối nhất của chế độ nô lệ là vấn đề tình cảm của họ bị xúc phạm. Chẳng hạn, gia đình bị chia rẽ.

Người thiếu phụ đang thêu, vừa xem lại những đường thêu trên chiếc áo trẻ con mới thêu xong, vừa tán thành:

– Quả thật, việc ấy thì ghê thật. Nhưng tôi cho rằng chẳng mấy khi xảy ra, có phải không ạ?

Bà kia nói tiếp:

– Trời, xảy ra luôn ấy chứ! Tôi đã sống nhiều năm ở bang Kentucky và bang Virginia, tôi đã mắt thấy biết bao nhiêu cảnh làm cho những người lương thiện phải công phẫn. Thưa bà, giả dụ hai đứa con của bà bị cướp đi, rồi mang bán thì sao?

Bà mẹ có hai đứa con đáp:

– Làm sao so sánh tình cảm của chúng ta với tình cảm của giống người hèn hạ ấy được.

Rồi bà ta bình thản sắp xếp hai cuốn chỉ rất ăn màu với nhau. Bà kia bực mình nói to:

– Nếu bà biết họ, bà sẽ chẳng nói thế đâu. Tôi đã sinh ra và lớn lên bên họ. Tôi có thể cam đoan với bà rằng họ cũng đau đớn như chúng ta, hay có khi còn xót xa hơn nữa kia.

Người thiếu phụ ngạc nhiên:

– Thật à?

Bà ta cố không ngáp dài, lơ đãng nhìn ra ngoài cửa sổ, rồi kết luận:

– Dù sao, tôi vẫn tin là hiện nay họ sung sướng hơn là nếu họ được tự do.

Câu chuyện tới đó, thì một ông, vẻ rất nghiêm trang, bận bộ đồ đen của kẻ tu hành theo đạo Tin lành nói xen vào:

– Nhất thiết phải như vậy. Bắt cái giống người châu Phi phải sống trong cảnh nô lệ, đó là ý muốn của Thượng đế. Kinh Thánh đã nói: "Đất Canaan đáng nguyền rủa, con cháu ngươi sẽ đời đời làm đày tớ của những người đày tớ."

Một người cao lớn, gốc ở Kentucky, hỏi:

– Ông khách ơi, ông nói xem đấy có phải là ý nghĩa thật của câu ấy không?

Lão truyền đạo đáp:

– Nhất định rồi. Vì một lí do mà chúng ta không thể nào hiểu được, từ bao thế kỉ nay, ý muốn của Thượng đế là bắt giống người ấy phải ở tình trạng nô lệ. Chúng ta không có nhiệm vụ chống lại những quyết định của Thượng đế.

Người đàn ông cao lớn hét to:

– Nếu đấy là ý muốn của Thượng đế, thì, nào, chúng ta hãy đi buôn nô lệ đi nào!

Rồi anh chàng quay lại hỏi Haley, lúc ấy đang đút hai tay vào túi, nghe câu chuyện:

– Ông khách, ý kiến của ông thế nào?

Haley đáp:

– Tôi chưa hề nghĩ đến chuyện ấy. Tôi chẳng muốn nói đến mức như vậy; nhưng tôi, không phải là người có học thức. Tôi buôn bán là để kiếm sống thôi; nếu là điều không tốt thì tôi sẽ kịp thời hối lỗi. Ngài hiểu tôi chứ?

– Xin ông khỏi phải nhọc lòng. Thuộc kinh Thánh mới hay ho làm sao! Nếu ông đã học kinh Thánh, như ngài truyền đạo đây, chắc hẳn ông đã biết điều ấy và ông cứ việc nói: "Cái đất..." hử, đất gì tôi quên mất rồi "đáng bị nguyền rủa"... và như thế là mọi điều tốt đẹp cả.

Anh chàng ấy chính là anh chàng buôn ngựa trung thực có đôi chân dài quá khổ, ta đã gặp trong cái quán ở Kentucky. Bây giờ anh chàng đang ngồi phì phèo hút thuốc lá, nở một nụ cười lạ lùng, trên khuôn mặt dài, xương xương.

Một chàng thanh niên gầy gò, nét mặt lộ rõ một con người có tình cảm và thông minh, xen vào câu chuyện bằng cách đọc một câu lấy trong kinh Thánh: "Ngươi chớ làm cho người khác điều gì mà ngươi không muốn người ta làm cho ngươi" Rồi anh ta nói thêm: "Câu này cũng ở trong kinh Thánh, cũng chẳng khác gì câu "Đất Canaan đáng nguyên rủa.."

Anh chàng buôn ngựa nói to:

– Trời ơi, ông khách ơi, câu này cũng rõ ràng như câu trước. Hay ít ra, những người ngu dốt như chúng ta thì hiểu như thế.

Anh ta thở khói thuốc như một hòn núi lửa phun lửa. Anh chàng thanh niên muốn cãi nữa, nhưng con tàu bỗng nhiên đứng dừng lại; tất cả mọi người đổ xô ra phía rìa boong để xem tàu cập bến nào. Khi John, anh buôn ngựa, rời khỏi phòng khách, anh hỏi một người gần đấy:

– Có phải cả hai người ấy đều là người truyền đạo không?

Người kia gật đầu.

Lúc chiếc cầu vừa hạ xuống, một người đàn bà da đen chạy vụt lên tàu, xông vào giữa đám đông, rồi chạy thẳng về phía món hàng của Haley, ôm chầm lấy cổ cái món hàng mang nhãn hiệu "John, 30 tuổi", vừa khóc lóc, vừa gọi anh là chồng.

Anh chàng thanh niên vừa kể câu chuyện kinh Thánh lúc nãy, nhìn cảnh tượng ấy, hai tay khoanh trước ngực. Anh quay lại, thấy Haley đứng bên cạnh, anh bảo nó:

– Anh bạn ơi, tại sao anh có thể, à, không, tại sao anh dám theo đuổi cái nghề như thế này? Anh hãy nhìn những người khốn khổ này đi. Tôi ở đây, sung sướng chờ đợi được gặp vợ tôi, con tôi. Cái chuông này réo lên báo hiệu tàu sẽ khởi hành, tôi càng đến gần vợ con, và cũng cái chuông này lại chia rẽ, chia rẽ vĩnh viễn người chồng tội nghiệp này với vợ anh ta. Chúa sẽ xử lí đối với anh, chắc chắn như vậy!

Gã buôn nô lệ lẳng lặng quay đi, nhưng John lấy khuỷu tay huých hắn ta, khẽ bảo:

Nói đi, hẳn anh kia chẳng phải là một nhà truyền đạo, hử? Cái câu "Đất Canaan đáng nguyền rủa" chẳng ăn thua gì với anh này, phải không?

Để trả lời, Haley bối rối làu bàu mấy tiếng. Nhưng John nói tiếp:

– Chưa hết. Có lẽ chẳng ăn thua gì; rồi anh sẽ tới trước Thượng đế mà thanh toán món nợ của anh, không một người nào trong chúng ta thoát khỏi đâu.

Haley không nói một lời, đi về phía đầu tàu bên kia. Hắn nghĩ thầm: "Nếu đi hai chuyến hàng nữa mà kiếm được khá, ta sẽ giải nghệ. Thế này thì nguy hiểm quá."

Hắn rút ở túi ra một quyển sổ, cộng cộng mấy con số. Đó là cách bọn con buôn thường dùng để làm cho lương tâm đỡ cắn rứt.

Con tàu lượn ra giữa lòng sông và, trên tàu, không khí lại nhộn nhịp như trước. Các ông trò chuyện, nghỉ ngơi, đọc sách hay hút thuốc lá; các bà khâu vá; trẻ con nô đùa.

Một hôm khác, con tàu cập bến ở một thành phố nhỏ bang Kentucky trong một thời gian lâu. Haley lên thành phố thu xếp một công việc.

Bác Tom tuy bị xiềng, nhưng vẫn có thể đi lại được chút ít. Bác đến bên thành tàu, nhìn lên bến bằng con mắt buồn nản. Một lát sau, bác thấy gã lái buôn trở về, kèm theo một thiếu phụ da đen tay bế một đứa bé. Chị ăn mặc rất tươm tất; một người da đen theo sau, tay xách một cái va li. Chị rất niềm nở nói chuyện với anh ta, rồi bước lên tàu. Tiếng chuông réo, máy xình xịch chạy và con tàu lại khởi hành.

Người thiếu phụ đi đến nơi chồng chất những hòm xiểng, kiện hàng ở boong dưới, ngồi xuống chăm nom đứa trẻ.

Haley đi đi lại lại trên boong tàu, rồi đến ngồi bên cạnh chị; hắn khe khẽ bảo chị một điều gì. Bác Tom thấy một bóng mây đen thoáng qua cái trán người thiếu phụ và chị giận dữ kêu lên:

– Tôi không tin! Tôi nhất định không tin! Ông cứ đùa.

Haley rút ở túi ra một tờ giấy. Hắn bảo:

– Không tin thì mày nhìn đây! Đây là bản sao giấy bán, chữ kí của ông chủ mày đây. Tao đã trả đầy đủ tiền mặt rồi.

– Tôi không tin là ông chủ tôi lại đánh lừa tôi như thế. Không thể như thế được.

Người đàn bà cứ nhắc lại câu ấy mỗi lúc một giận dữ hơn.

– Thế thì mày cứ việc hỏi bất cứ ai biết đọc ở trên tàu này xem.

Hắn gọi một người vừa qua đấy lại:

– Này! Ông làm ơn đọc cho nó nghe xem người ta viết gì trong tờ giấy này. Con mụ cứ không tin lời tôi nói.

– Được... Đây là một tờ giấy bán hàng, kí tên John Fosdick, bán cho ông Haley mụ Lucy và đứa con mụ. Tôi nghĩ giấy tờ hoàn toàn hợp lệ.

Người thiếu phụ la hét lên, làm mọi người xúm lại xem. Gã buôn nô lệ phải giải thích cho mọi người biết tại sao người thiếu phụ lại kêu la như vậy. Lucy nói to:

– Ông ấy bảo tôi đi Louisville, rồi tôi sẽ nấu bếp ở một quán ăn, nơi chồng tôi làm việc. Chính ông chủ tôi nói với tôi như thế, không đời nào tôi tin là ông ấy đánh lừa tôi.

Một người có tấm lòng tốt xem xong giấy tờ, thương hại bảo chị:

– Thế nhưng, chị ạ, ông ấy đã bán chị rồi. Đúng là như thế.

Người thiếu phụ lẩm bẩm:

– Thế thì nói thêm cũng vô ích.

Bỗng nhiên, chị bình tĩnh lại, hay ít ra có vẻ bề ngoài như vậy. Chị ôm chặt con trong lòng, ngồi trên chiếc va li, quay lưng lại đám đông, chị nhìn con sông, buồn bã.

Gã buôn nô lệ lấy làm thú lắm.

– Con mụ biết tiếp nhận hoàn cảnh mới. Khá can đảm đấy chứ.

Người đàn bà lại chăm chút đứa bé. Thằng bé không thể hiểu nổi việc đang xảy ra, nó còn nhỏ quá. Nó đưa hai bàn tay nhỏ xíu vuốt ve mặt mẹ nó, vừa nhảy, vừa líu lo trên đùi mẹ. Bỗng nhiên, chị ôm ghì lấy nó, hết giọt nước mắt này đến giọt nước mắt khác chảy trên khuôn mặt vô tình của thằng bé. Một người đàn ông đi qua, hai tay đút túi, dừng lại hỏi:

– Thằng nhóc xinh xắn kia lên mấy rồi?

Người mẹ trả lời:

– Cháu được mười tháng rưỡi.

Người đàn ông huýt sáo để gọi thằng bé. Gã đưa cho nó một cái kẹo; chú bé cầm lấy, bỏ tạt vào mồm. Gã đàn ông nói:

– Thằng bé kháu quá. Nó biết cái gì ngon kia đấy.

Gã bỏ đi, vừa đi ra mũi tàu vừa huýt sáo. Haley đang ngồi trên một đống hòm xiểng hút thuốc lá. Gã đàn ông quẹt một que diêm, châm điếu xì gà, bảo Haley:

– Này, ông khách, con bé của ông, khá đấy chứ.

Gã buôn người đồng ý:

– Đúng thế, khá lắm.

– Ông mang nó về phương Nam?

Haley giải thích:

– Một món hàng đặt trước của một đồn điền, nay tôi thực hiện. Có thể tôi đưa nó về phương Nam; nếu không dùng nó vào việc hái bông, thì có thể dùng để nấu bếp. Nó có những ngón tay hợp với việc hái bông, vừa thoáng nhìn tôi thấy ngay. Dù sao, bán nó cũng rất dễ. Ở đồn điền, người ta thấy có đứa trẻ, người ta chả thiết.

Haley khẳng định:

– Thằng bé ấy, khi có dịp là tôi bán ngay.

Hắn châm một điếu xì gà khác. Còn gã lạ mặt leo lên ngồi chễm chệ trên đống hòm xiểng. Gã hỏi:

– Chắc ông không đòi giá quá đắt chứ?

Haley mỉm cười:

– Nói thật... Thằng nhóc ấy, khá lắm; vừa to vừa béo, thịt chắc nình nịch.

– Đúng thế, nhưng ông nuôi nó thì lắm thứ phiền lắm; đó là chưa nói đến sự tốn kém.

– Úi chào! Cứ tự nó lớn lên chứ, nuôi một con chó con, có gì là phiền, chỉ một tháng nữa là thằng nhóc chạy khắp chỗ.

– Đúng lúc tôi đang cần tăng thêm số nô lệ của tôi. Tuần lễ trước, con mụ nấu bếp của chúng tôi chết mất một đứa con, thằng bé chết đuối trong thùng giặt, lúc mụ ta đang phơi quần áo. Cho mụ ta nuôi thằng nhóc này, chẳng phải là dở.

Haley và gã khách lạ im lặng hút thuốc lá một lát, bởi vì chẳng ai muốn nói trước đến vấn đề mấu chốt. Sau cùng, gã kia bảo:

– Chắc ông không đòi trên mười đô la. Bởi vì dù sao, ông cũng phải tìm cách tống khứ nó đi chứ?

Haley lắc đầu, rồi nhổ nước bọt ra xa. Hắn nói quả quyết:

– Không được.

– Thế thì, ông khách ơi, ông muốn bao nhiêu?

– Ông thấy đấy, tôi có thể nuôi thằng bé, hoặc cho nuôi ở một nơi nào đó. Thằng bé xinh xắn hết chỗ nói, khỏe ra trò. Chỉ sáu tháng nữa, là được một trăm đô la như bỡn. Một hay hai năm nữa, giá gấp đôi. Bây giờ, phải năm mươi đô la, không kém một xu.

Gã kia không đồng ý:

– Ô kìa, lạ thật. Thôi, tôi trả ba mươi đô la.

– Mỗi người nhường nhau một ít, được chứ. Bốn mươi lăm đô la, đấy, tôi chỉ có thể bán được giá ấy.

Gã kia suy nghĩ một lúc rồi đáp:

– Được!

Haley nói:

– Đồng ý! Ông lên bến nào?

– Louisville.

Louisville à? Tốt lắm! Tuyệt! Ta sẽ cập bến lúc chập tối. Thằng bé sẽ ngủ, ông cứ việc lẳng lặng bế nó lên. Tôi rất ghê sợ những cảnh...

Giấy bạc và giấy tờ trao đi đổi lại đã xong, Haley lại bình tĩnh hút thuốc lá.

Tàu vừa cập bến Louisville thì trời tối. Người thiếu phụ nghe thấy người ta nói đến Louisville, chị nhanh nhẹn trải cái áo khoác xuống sàn tàu làm nệm cho con, rồi đặt nó bên mấy chiếc hòm cho kín đáo. Rồi chị chạy ra phía bên kia boong tàu, hi vọng được thấy chồng đứng trên bến.

Haley nâng đứa bé lên, trao cho người khách lạ, rồi bảo:

– Được lúc rồi đây. Ông chớ đánh thức nó, nó mà khóc thì lắm chuyện với con mẹ nó.

Gã đàn ông đón lấy đứa bé trong chiếc áo khoác. Một lát sau, gã biến mất trong đám người dưới bến.

Khi con tàu ầm ầm mở máy và tuôn khói rời khỏi bến, người thiếu phụ trở lại, thấy Haley ngồi ở chỗ chị đã đặt con chị:

– Thế nào? Con tôi...

Chị dừng lại, ngây cả người. Gã lái buôn bảo chị:

– Lucy, con mày đã đi rồi, nói cho mày biết ngay là hơn. Mày không thể mang nó về phương Nam được. Tao đã bán nó cho một gia đình rất tốt. Người ta nuôi nó tử tế lắm, không đời nào mày nuôi bằng họ được.

Con mắt ngơ ngác và tuyệt vọng của Lucy nhìn Haley, có thể làm cho một người kém dạn dày, phải bối rối. Nhưng Haley đã quen rồi. Con mắt nhìn ấy, hắn đã gặp hàng trăm lần. Hắn chỉ thấy đó là một sự không may gắn liền với nghề buôn người của hắn. Hắn tự hỏi xem người đàn bà kia có la hét và làm cho hành khách trên tàu tụ tập lại không. Như thế thì hắn chẳng hài lòng chút nào, vì hắn không thích sự náo động.

Bị một đòn đau đớn quá, người thiếu phụ không thốt một lời kêu. Như ngây, như dại, chị ngã vật xuống boong tàu. Con mắt lờ đờ nhìn thẳng, chị nằm đấy, không nhỏ một giọt nước mắt. Thừa dịp ấy, gã lái buôn nghĩ cần phải nói vài lời an ủi:

– Lucy ạ, tao biết là, thoạt đầu thì cũng đau đớn. Nhưng mày là một đứa đàn bà thông minh, lại có lương tri. Mày biết đó là việc cần thiết, không sao tránh khỏi, có phải không?

Người đàn bà tội nghiệp thì thầm:

– Thưa ông chủ, ông im đi. Xin ông im đi.

Gã con buôn nhấn mạnh thêm:

– Tao sẽ tìm cho mày một chỗ thật tốt. Ít lâu nữa, mày sẽ tìm được một người chồng khác; xinh đẹp như mày thì...

Chị nghẹn ngào đáp:

– Thưa ông chủ, ông đừng nói nữa.

Gã lái buôn hiểu rằng, ở trường hợp đặc biệt này, cái ngón ngoại giao của hắn chẳng ăn thua gì. Hắn đứng dậy. Người đàn bà vùi đầu trong tấm khăn quàng, Haley đi đi lại lại trên boong tàu; thỉnh thoảng hắn dừng lại bên chị, nhìn chị. Hắn nghĩ bụng:

– Con mụ không chịu đựng được. Nhưng nó yên lặng. Hẵng để nó nguôi đi, rồi dần dần sẽ đâu vào đấy cả.

Bác Tom đã nhìn thấy tất cả cảnh tượng trên. Bác dự đoán được kết quả sẽ ra sao. Tất cả những cái đó, bác mường tượng như một cái gì khủng khiếp và đau đớn không sao diễn tả nổi, bởi vì bác chưa được học cách lí luận và cách "nhìn xa trông rộng". Nếu bác được một số vị truyền đạo nào đó dạy dỗ, bác sẽ có thể có một số ý kiến tế nhị hơn về vấn đề này, và sẽ chỉ thấy ở đó một sự không may cỏn con đáng tiếc, tất nhiên phải xảy ra trong một nền thương nghiệp hợp pháp. Nền thương mại ấy là một trong những trụ cột của một chế độ mà theo ý kiến của một số người Mĩ, thì chẳng có gì xấu xa hơn bất cứ một chế độ gia đình, hay xã hội nào khác. Nhưng bác Tom, như ta đã thấy, bác Tom chỉ là một người da đen nghèo khổ, dốt nát; bác chỉ đọc độc mỗi cuốn kinh Tân Ước; làm sao bác có được những tầm mắt rộng như thế được. Bác nhìn con người khốn khổ kia, nay chỉ còn là sự đau thương. Con người nằm bẹp gí bên đống hòm xiểng, mà lòng quặn lại; con người sống hẳn hoi, mình đẫm máu, nhưng bất tử, bị luật pháp của nước Mĩ xếp vào các loại kiện hàng, các gói hàng, các hòm xiểng; con người ấy cũng đang nằm giữa những món đồ lủng củng ấy.

Bác Tom đến bên chị, định nói đôi ba lời, nhưng đáp lại, chị khe khẽ rên rỉ.

Đêm đến, một đêm yên tĩnh, lặng lẽ và tuyệt đẹp. Trên trời, lấp lánh vô vàn ngôi sao lộng lẫy. Khoảng trời xa nín lặng, không một tiếng thương hại, vô tình. Lần lượt, những tiếng nói của cuộc vui chơi và việc buôn bán tắt dần. Trên con tàu, hoàn toàn im lặng. Chỉ còn nghe thấy tiếng nước đập vào mạn tàu. Bác Tom mệt nhọc ngả lưng xuống chiếc hòm. Bác nghe thấy tiếng nức nở của người đàn bà đã kiệt sức: "Tròi ơi! Biết làm thế nào? Xin Trời phù hộ cho tôi...", rồi lại những tiếng nức nở. Sau cùng tiếng rên rỉ cũng ngấm trong yên lặng.

Lúc bác Tom bừng thức giấc thì trời vẫn tối đen. Một cái bóng đen lướt qua người bác, nhanh nhẹn tiến về phía hành lang boong tàu, rồi bác nghe thấy tiếng một vật rơi tõm xuống dưới nước. Không một ai khác trông thấy, nghe thấy cả. Bác ngẩng đầu dậy: chỗ người đàn bà nằm lúc nãy, không còn bóng người. Bác trở dậy tìm chung quanh, nhưng chẳng thấy gì. Con người khốn khổ có trái tim đẫm máu đã tìm thấy yên tĩnh. Con sông vẫn chảy, trong sáng, lấp lánh, như không có việc gì xảy ra.

... Gã lái buôn dậy sớm, đi kiểm tra bầy súc vật người của hắn. Đến lượt hắn ngơ ngác nhìn chung quanh. Hắn hỏi bác Tom:

– Con mẹ này đâu rồi?

Bác Tom đã học cái khôn ngoan phải thận trọng, bác nghĩ không nên cho hắn biết những điều bác đã trông thấy và đã nghi ngờ, bác trả lời bác không biết.

– Chắc chắn là đêm qua nó không thể lên bất cứ bến nào. Tao đứng đấy, kiểm soát tất cả mọi người lên xuống. Việc này, không bao giờ tao để ai thay tao hết.

Cái bài diễn văn ấy, đọc bằng cái giọng tâm tình, hắn nói thẳng với bác Tom, nhưng bác chẳng hề bộc lộ một lời. Hắn lại đi tìm ở nơi chất hòm xiểng, kiện hàng, thùng ton-nô, trong buồng máy, quanh cái ống khói; rồi lại trở lại hỏi bác Tom. Hắn dằn giọng:

– Tom, mày phải nói thật cho tao biết. Mày biết chuyện, tao đoán thế, tao biết thế. Lúc mười giờ tối hôm qua, tao còn thấy con mụ nằm ở boong tàu, ở ngay đây này; đến nửa đêm, nó vẫn còn đấy; đến quãng một, hai giờ sáng, cũng thế. Thế mà bây giờ, bốn giờ, con mụ đã biến mất rồi. Suốt đêm, mày nằm ở đây. Mày phải biết, đừng có chối.

– Thưa ông chủ, thật quả, vào lúc rạng sáng, có cái bóng lướt bên cạnh tôi, tôi thức dậy, mắt nhắm mắt mở, thế rồi, tôi nghe thấy có cái gì rơi tõm xuống nước. Tôi thức hẳn dậy, không thấy chị ấy nữa. Đấy, tôi chỉ biết có thế.

Gã lái buôn không ngạc nhiên mà cũng không bực tức. Chúng ta biết hắn đã từng quen với những việc không hay như thế. Trong cái nghề buôn người của hắn, hắn thường men bên bờ cái chết, và chỉ thấy đó là một món hàng bất lợi, làm cho hắn phải vất vả mà chẳng ăn thua gì. Hắn thốt ra mấy câu nguyền rủa cái con mẹ hắn đã mua phải là một con mụ vô tích sự. Hắn than rằng hắn gặp một vận đen ghê gớm; rằng, nếu công việc cứ thế này mãi thì trong chuyến buôn này, hắn không được lãi một đồng xu nhỏ. Tóm gọn lại, hắn cho là hắn bị lỗ; nhưng biết làm thế nào; con mụ đã chạy sang một xứ sở chẳng bao giờ thèm nộp lại một kẻ chạy trốn nào, dù là tất cả cái nước Mĩ vinh quang này có yêu cầu chăng nữa. Bởi vậy, gã lái buôn đành bực bội ghi vào quyển sổ buôn của hắn, trong mục "Lỗ vốn", cái món hàng đã mất không.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.