Túp Lều Của Bác Tom

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 3 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
18. Kinh Nghiệm Và Ý Kiến Của Cô Ophelia

❊ ❊ ❊

Trong ý nghĩ ngây thơ của mình, bác Tom thường tự so sánh với số phận của Joseph ở Ai Cập[7]. Bác thấy mình được ưu đãi hơn, và, sự thật, những mối quan hệ của bác với ông chủ ngày càng tốt hơn; sự so sánh ấy ngày càng thấy đúng.

Augustine, vốn bản chất vô tâm, không chú ý gì đến tiền bạc. Cho đến nay, mọi việc chi tiêu chợ búa trong nhà chủ yếu giao cho Adolph, một người cũng vô tâm và tiêu pha bừa bãi chẳng kém gì chủ. Thành thử, việc ăn tiêu rất lãng phí. Bác Tom vốn từ lâu đã quen đảm nhiệm mọi việc chi tiêu trong nhà, lấy làm băn khoăn về lối làm ăn bừa bãi như thế. Bác lặng lẽ tìm dịp bày tỏ ý kiến với ông chủ.

Thoạt tiên, Augustine ít sai bảo bác Tom; sau, thấy bác là người hiểu biết lẽ phải, lại tháo vát, anh ngày càng tin yêu bác và cuối cùng giao cho bác tất cả việc chợ búa trong nhà. Thấy thế, một hôm Adolph phàn nàn với chủ. Augustine đáp:

– Adolph! Cứ mặc bác Tom đấy với tôi. Anh hãy biết việc của anh. Bác Tom biết giá cả, biết chi tiêu đúng mức. Phải có người như bác ta, không thì một ngày kia, đến hết sạch gia tài.

Lòng tin của ông chủ đến mức không xem lại chứng từ, mà cũng chẳng hề đếm số tiền còn lại, có thể làm một người nô lệ sa ngã. Nhưng bác Tom là một người bản chất thật thà, không hề bị đồng tiền quyến rũ. Chủ càng tin ở bác, bác càng thấy cần phải thanh toán thật chính xác.

Adolph là con người khác hẳn. Tính tình lông bông, bạ gì cũng thích mua, anh ta coi tiền của chủ cũng như tiền của mình. Augustine dù dễ dãi đến đâu, cuối cùng cũng phải suy nghĩ. Anh thấy nếu cứ để mấy người nô lệ tự do hoành hành như thế, thì có khi nguy hiểm. Anh day dứt trong lòng nhưng nỗi băn khoăn ấy chưa đủ mạnh để anh thay đổi thái độ. Những lỗi nặng nhất anh cũng coi thường; anh tự nhủ đó là lỗi ở anh; nếu anh chú ý hơn, công việc của kẻ ăn người làm trong nhà có lẽ không đến nỗi như vậy.

Bác Tom đối với chủ hết lòng tận tụy, kính mến, một phần nào thương yêu như cha đối với con. Ông chủ chẳng bao giờ đọc kinh Thánh, chẳng bao giờ đi nhà thờ gì cũng nhạo báng được, ngày chủ nhật thì đi xem hát, xem múa, đi ăn uống, vui chơi ở câu lạc bộ. Những điều ấy, bác Tom cũng như mọi người khác, đều thấy rành rành. Bác kết luận rằng "ông chủ không phải là người ngoan đạo." Ý nghĩ ấy, bác Tom giữ kín trong lòng; nhưng mỗi khi ở một mình trong căn buồng nhỏ của mình, bác lại cầu nguyện cho chủ. Không phải bác Tom không biết bày tỏ ý kiến của mình một cách rất khéo léo, theo kiểu của bác.

Sau một đêm chủ nhật đi chơi, Augustine trở về nhà giữa đêm khuya; anh mệt lả, phải có người dìu mới đi được. Bác Tom và Adolph đặt anh lên giường. Adolph cho đó là điều thú vị đặc biệt. Thấy vẻ mặt hốt hoảng của bác Tom, anh ta bật phì cười. Còn bác Tom thì suốt đêm ấy không sao nhắm mắt được, bác cầu nguyện cho chủ. Hôm sau, Augustine ngồi trong buồng, đọc sách, anh bận áo khoác, chân đi giày vải. Như thường lệ, anh trao tiền và dặn dò bác Tom những điều cần thiết. Song, anh thấy bác tần ngần mãi, anh hỏi:

– Kìa, bác Tom, còn đợi gì nữa? Có gì bác không vừa lòng phải không?

Bác Tom nghiêm trang đáp:

– Thưa ông chủ, đúng thế.

Augustine đặt tờ báo và cốc cà phê xuống bàn. Anh ngước mắt nhìn người đày tớ, hỏi:

– Việc gì thế? Trông bác buồn như đi đưa ma ấy!

– Thưa ông chủ, tôi rất khổ tâm. Tôi vẫn tưởng ông chủ tốt với tất cả mọi người.

– Sao kia, bác Tom? Tôi không tốt à? Bác muốn gì? Chắc bác thiếu cái gì; đấy mới chỉ là lời mào đầu thôi.

– Đối với tôi, ông chủ vẫn tốt, tôi chẳng phàn nàn gì cả. Nhưng có một người, ông chủ không tốt.

– Ai vậy? Cứ nói thật đi bác Tom.

– Đêm qua, lúc một, hai giờ khuya, tôi nghĩ ngợi mãi, tôi thấy ông chủ không tốt với ông chủ.

Nói xong, bác quay lưng lại Augustine. Bác đứng cạnh cánh cửa, chống tay lên cái chốt, Augustine thấy xấu hổ, nhưng anh phá lên cười, nói:

– Có thế thôi à?

Bác Tom bỗng quay lại, và quỳ xuống. Bác nhắc lại:

– Có thế thôi! Có thế thôi! Thưa ông chủ, tôi tưởng như thế là mất tất cả, cả thể xác lẫn linh hồn...

Bác Tom nghẹn ngào, mấy giọt nước mắt lăn trên gò má. Augustine rơm rớm nước mắt, nói:

– Bác dở hơi à? Thôi, đứng dậy, bác Tom. Tôi không xứng đáng với những giọt nước mắt ấy, thôi, bác.

Nhưng bác Tom không chịu đứng dậy. Bác khẩn khoản nhìn chủ; sau cùng, Augustine phải hứa:

– Tôi lấy danh dự hứa từ nay không chơi bời bừa bãi nữa. Tôi không biết tại sao tôi cứ lao vào mãi. Tôi vẫn khinh bỉ lối chơi bời ấy và thấy tự khinh mình. Thôi, bác Tom, lau nước mắt đi, rồi đi chợ. Thôi, thôi mà. Đừng cầu Chúa ban phước cho tôi nữa... Tôi chẳng xứng đáng.

Anh đứng dậy, đẩy bác Tom ra ngoài cửa, rồi dịu dàng nói:

– Tôi hứa với bác là từ nay sẽ không bê tha nữa.

Bác Tom lau nước mắt, bước đi. Bác thấy lòng tràn ngập một niềm vui lớn. Augustine đóng cửa, nói một mình:

– Mình sẽ giữ lời hứa.

Quả nhiên, từ đấy, anh không chơi bời nữa; và, bản chất anh chẳng ưa những thú vui ấy.

Nhưng làm sao kể xiết những nỗi khổ tâm của cô Ophelia vừa mới đảm nhận việc cai quản một cái nhà lớn của miền Nam này?

Ở miền Nam cũng như ở miền Bắc, ta thấy những người phụ nữ có cái biệt tài cai quản gia đình, biết khéo léo dạy dỗ kẻ ăn người làm trong nhà. Những người phụ nữ ấy biết cách thuyết phục mọi người trong cái thế giới bé nhỏ của mình, hình như dễ dàng, chẳng cần phải khắc nghiệt. Họ biết uốn nắn những tính tình ương ngạnh, biết lấy cái yếu của người này bù đắp cho cái quá trớn của người khác, và tạo thành một sự cân đối nhịp nhàng.

Chị Mary, vợ Augustine, không có cái tài ấy, cũng như mẹ chị trước kia. Tính tình chị ngang bướng như trẻ con, cách làm ăn lại bừa bãi, không biết lo xa; cho nên những người nô lệ trong nhà cũng quen thói ấy. Chị đã kể hết cho cô Ophelia biết; chỉ tội là chị chưa nói nguyên nhân tại sao.

Ngay từ ngày đầu nhận công việc, cô Ophelia dậy từ bốn giờ sáng; sau khi dọn dẹp buồng mình, như cô đã làm từ ngày đầu đến đây, - khiến bác hầu phòng phải ngạc nhiên, - cô chuẩn bị xem xét kĩ lưỡng tất cả các tủ mà cô đã có chìa khóa trong tay.

Hôm ấy, cô kiểm tra chạn đựng thức ăn, tủ ép quần áo, tủ đựng bát đĩa, cái bếp và cái hầm. Tất cả mọi khuyết điểm được phơi bày hết ra ánh sáng; những người xưa nay vẫn làm chủ cái bếp hết sức kinh hoàng. Cái việc kiểm tra đáng sợ ấy làm cho họ kinh ngạc. Người ăn kẻ làm trong nhà xì xào bàn tán về những người "đàn bà miền Bắc" ấy.

Bác gái Dinah, bác đầu bếp vẫn toàn quyền làm chủ cái địa hạt này, thấy đặc quyền của mình bị tổn thương nặng nề, rất tức tối. Bác Dinah vốn là người có cá tính, tưởng cũng nên miêu tả cho chúng ta rõ. Bác là một người nấu bếp từ chân tơ kẽ tóc, giống như bác Chloe -cái nghệ thuật nấu bếp là kĩ thuật riêng của người châu Phi - nhưng bác Chloe là người ngăn nắp, quy củ, còn bác Dinah là một người có tài năng tự phát và, vì vậy, bác là người ngang bướng, chỉ biết theo ý riêng của mình, tính nết kì quặc hết chỗ nói.

Bác Dinah giống như một số triết gia rởm hiện nay, thường coi khinh cái lô-gích và lí trí dưới mọi hình thức, và chỉ tuân theo trực giác một cách bướng bỉnh. Không một tài năng nào, không một uy quyền nào, không một lí lẽ nào có thể thuyết phục bác tin rằng ở trên đời này có một lí thuyết vững vàng hơn lí thuyết của bác. Bác quả quyết rằng lối ăn ở của bác là bất di bất dịch, dù muốn thay đổi một chi tiết cũng không được. Bà chủ cũ, tức là mẹ của chị Mary, đã đành chịu nhượng bộ bác về điểm này; và chị Mary - mà bác Dinah vẫn gọi là "Cô Mary", ngay cả khi Mary đã lấy chồng - thì thấy nên bó tay chịu, dễ hơn là đấu tranh lại. Bởi vậy, bác Dinah tha hồ vùng vẫy. Bác đạt được mục đích ấy cũng một phần do bác khéo "ngoại giao", bác biết phối hợp sự mềm dẻo bên ngoài với tính nguyên tắc cứng rắn của bác.

Bác Dinah có cái tài biết xin lỗi và biết giải thích. Bác chỉ biết có một sự thật: người làm bếp không thể sai lầm! Cần nói thêm rằng một bà đầu bếp ở miền Nam có tới hai chục người quây quần chung quanh để đổ mọi tội lỗi lên đầu họ, cốt làm sao cho uy tín của bà ta khỏi bị suy suyển. Nếu có món ăn nào hỏng, bà ta tìm hết lí lẽ để đổ tội cho tất cả mọi kẻ xung quanh, rồi mắng họ xa xả. Thế nhưng ít khi có món ăn nào do bác Dinah xào nấu mà hỏng. Mặc dầu bác làm ăn hết sức luộm thuộm, và hình như bác chẳng có ý thức gì về thời gian và không gian; mặc dầu cái bếp của bác tung tóe những nồi xoong như thể vừa trải qua một cơn lốc ghê gớm, nhưng, nếu người ta biết kiên trì chờ đợi kết quả cuối cùng, người ta rất hài lòng về bữa cơm tuyệt ngon, ngay đến kẻ sành ăn nhất cũng chẳng chê trách vào đâu được.

Lúc này là lúc chuẩn bị nấu ăn; bác Dinah cần nghỉ ngơi yên tĩnh, nên bác ngồi xuống đất, mang một cái điếu ngắn ra hút thuốc; mỗi khi bác cần suy nghĩ, bác thở những luồng khói thuốc dày đặc; đó là cái lối gây cảm hứng bếp núc của bác.

Cả một đám đông xúm xít quanh bác, cái cảnh tượng thường thấy ở miền Nam; người bóc vỏ đậu, kẻ gọt khoai tây, hoặc nhổ lông gà. Thỉnh thoảng bác Dinah lại dừng suy nghĩ để lấy cái thìa gõ vào đầu một người phụ bếp. Thật ra, bác đã khuất phục được cả bầy người trẻ tuổi ấy trong một kỉ luật sắt. Bác áp dụng một cách khắc nghiệt lối giáo dục mà chính bác đã được dạy dỗ thời trước.

Cô Ophelia đã kiểm soát xong khắp nơi trên nhà. Đến lượt cái bếp. Bác Dinah đã biết dự kiến "cải tổ" ấy của cô từ nhiều nguồn tin khác nhau; bác nhất định sẽ chống đỡ kịch liệt, không chịu lùi bước một li. Bác quả quyết sẽ không chịu nhận bất cứ sự "cải cách" nào, sẽ tránh mọi điều bắt bẻ, sẽ ì ra đấy.

Cái bếp rộng thênh thang, sàn lát gạch; một cái lò kiểu cổ, to tướng, chiếm suốt bề rộng cái bếp. Mặc cho Augustine nói mãi, bác không chịu thay bằng một cái lò tối tân. Trên đời này, dễ không có ai bảo thủ như bác, cứ bám mãi lấy những lề thói cũ kĩ từ thuở xưa, dù nó hủ lậu đến mấy.

Từ khi ở miền Bắc về, Augustine muốn bắt chước cách sắp đặt cái bếp của ông chú; anh mua nhiều tủ có ô ngăn kéo và những dụng cụ bếp núc khác, mong đưa cái bếp nhà anh vào trật tự. Anh có ý định, việc đó sẽ giúp bác Dinah làm ăn ngăn nắp hơn. Nhưng, bếp có bao nhiêu ngăn kéo và giá gác bát đĩa, thì bác Dinah có bấy nhiêu chỗ để giấu kín nào giẻ rách, nào lược, giày cũ, ruy-băng, hoa giấy đã bỏ đi, và biết bao nhiêu đồ lặt vặt mà bác ưa thích.

Khi cô Ophelia bước vào bếp, bác Dinah không buồn đứng dậy. Bác tiếp tục hút thuốc, bình tĩnh một cách lạ thường, mắt thì theo dõi từng cử động của bà chủ mới, nhưng lại giả cách đang bận chỉ bảo kẻ ăn người làm xung quanh. Thoạt tiên, cô Ophelia mở mấy cái ngăn kéo. Cô hỏi:

– Bác Dinah, cái này dùng để làm gì?

Bác Dinah đáp:

– Thưa bà, nhét gì vào đấy cũng tiện.

Hình như đúng vậy; trong cái mớ hỗn độn ấy, cô Ophelia rút ra một cái khăn giải bàn thêu, có dính tiết, rõ ràng vừa dùng để gói thịt sống.

– Bác Dinah, thế này là thế nào? Sao bác lại lấy cái khăn đẹp nhất để gói thịt?

– Thưa bà, quả là lúc ấy chẳng tìm ra cái khăn nào khác, thế là cháu phải lấy cái khăn này. Rồi cháu nhét vào ngăn kéo để cho mang đi giặt.

"Một kẻ rồ dại", cô Ophelia nghĩ vậy. Cô lật úp cái ngăn kéo xuống: một cái nạo khoai và mấy quả nhục đậu khấu, một quyển Thánh kinh, mấy cái khăn to bẩn thỉu, một mảnh len đan, một cái túi con đựng pom-mát, một miếng giẻ bọc mấy củ hành, một lô khăn thêu, khăn vải thô lau bát đĩa, kim chỉ và vài cái hộp giấy đựng cỏ thơm.

Cô Ophelia cố hết sức kiên nhẫn, hỏi:

– Bác để hột nhục đậu khấu ở đâu?

– Thưa bà, chỗ nào tiện thì để; đây, trong cái chén vỡ này, ở trong tủ kia cũng có.

Cả ở trong cái nạo này nữa. Cô Ophelia vừa nói vừa chỉ những trái hồ đào.

– Trời ơi, đúng vậy. Cháu vừa để sáng nay ở đấy, cho tiện tay lấy ngay được, cháu thích thế. Kìa Jack! Sao mày lại nghỉ tay thế? Rồi mày biết! Chờ đấy!

Vừa nói, bác Dinah vừa vung chiếc đũa trên đầu Jack. Cô Ophelia chỉ một cái đĩa đựng pom-mát.

– Đĩa dầu mỡ để cháu chải đầu đấy, cháu để đấy cho tiện lấy.

– Đựng dầu bằng cái đĩa đẹp nhất à?

Cháu chả vội mà! Rồi cháu sẽ trút sang cái khác.

– Thế còn hai cái khăn thêu này?

– Cháu sẽ cho mang đi giặt.

– Thế không có chỗ để khăn bẩn à ?

– Ông chủ mua cái hòm kia để đựng giẻ lau bẩn; nhưng thỉnh thoảng cháu nhào bột trên nắp hòm, như thế, nhấc nắp hòm ra, thật là bất tiện.

– Thế sao bác không nhào bột ở cái bàn kia kìa?

– Thưa bà, mặt bàn lúc nào cũng bừa bộn những bát đĩa, có chỗ nào nữa mà nhào bột.

Bát đĩa thì phải rửa và xếp vào tủ chứ.

– Rửa bát ấy ạ? - Bác Dinah bỗng nói to hẳn lên, hình như bác cáu lắm, không giữ được giọng nói lễ độ nữa. - Các bà có biết đâu đến những việc này. Nếu cháu rửa bát thì đến mấy giờ ông cháu mới được ăn cơm. Cô Mary có bao giờ nói gì đâu.

– Lại hành đây nữa...

– Đúng thế, cháu để đấy, cháu cũng chẳng nhớ để lúc nào. Mấy nhánh hành ấy, cháu dùng cho món hầm hôm nay đấy. Cháu quên khuấy mất là lại gói trong miếng giẻ cũ ấy.

Cô Ophelia nhấc mấy cái hộp đựng cỏ thơm lên. Bác Dinah đứng dậy:

– Bà đừng mó đến hộp ấy của cháu; cháu để thức dùng của cháu ở đâu, mặc cháu.

– Nhưng hộp thủng rồi cơ mà.

– Càng dễ lấy, bà ạ.

– Bác thấy cỏ đổ tung tóe ra cả ngăn kéo đấy thôi.

– Nếu bà lục tung ra thì chẳng đổ tung tóe làm sao được. - Bác Dinah nói vậy rồi tiến đến gần cái tủ. - Bà lên trên nhà để cháu xếp dọn đâu vào đấy cho. Có người quẩn bên cháu thì cháu chẳng thu dọn được gì hết. Kìa Sam, đừng cho thằng bé cái hộp đường đấy nhé. Rồi mày biết tay tao!

– Bác Dinah, để tôi xếp dọn cái bếp thật ngăn nắp; chỉ lần này thôi đấy. Nhưng từ nay, bác cứ y nguyên thế mà làm.

– Trời đất ơi, bà Ophelia! Đâu có phải là việc của các bà; cháu chưa thấy các bà xếp dọn bếp bao giờ, cả bà chủ cũ và cô Mary nữa, bà thu dọn để làm gì kia chứ!

Bác Dinah cáu kỉnh đi đi lại lại trong nhà bếp: cô Ophelia xếp bát đĩa thành từng chồng, trút đường đựng linh tinh trong hàng cục cái chai vào một cái liễn, xếp lại tất cả các thứ khăn mặt, khăn giải bàn, khăn chùi tay đâu ra đấy. Cô lau, cô chùi, cô xếp, tay cứ thoăn thoắt, khiến bác Dinah phải kinh hoàng. Bác nói với bọn lau nhau, không để cho cô Ophelia nghe thấy:

– Nếu các bà miền Bắc mà làm như vậy thì các bà không còn là các bà nữa. Còn tao, khi cần sắp xếp ngăn nắp thì tao có thua gì ai. Nhưng tao không thích có người cứ quẩn chân tao, để đồ dùng ở nơi tao không sao tìm thấy được.

Của đáng tội, phải nhận rằng, đôi khi bác Dinah cũng thấy cần phải có ngăn nắp. Bác nhiệt tình lật úp nào ngăn kéo, nào chạn xuống, thế là bếp bừa bộn gấp mấy lần. Rồi bác ngồi hút thuốc, vừa nhìn các đồ vật tung tóe dưới đất vừa bình luận từng thứ một. Bác sai "bọn nhóc" đánh nồi xoong thật bóng, tình trạng cái bếp hỗn độn như vậy kéo dài hàng mấy tiếng đồng hồ. Có ai hỏi, bác bảo bác còn bận "xếp dọn." Bác còn nói bác "không thể để tình trạng mất ngăn nắp này cứ kéo dài mãi được" và bác "sẽ bắt bọn nhóc phải vào trật tự." Bởi vì bác Dinah có ảo tưởng rằng bác là người ngăn nắp nhất trần đời; còn cái bếp này có bừa bãi là do "bọn nhóc" và tất cả những kẻ khác trong nhà. Khi nồi xoong đã bóng loáng, bàn, tủ đã sạch trơn, khi mọi thứ chướng mắt đã thu dọn vào các xó xỉnh, bác Dinah diện một cái áo đẹp, đeo một chiếc tạp dề tinh tươm, đầu đội một cái khăn sặc sỡ, bác cấm tiệt "bọn nhóc" không được bước chân vào bếp; bác muốn cái bếp cứ đẹp mắt mãi như vậy. Sự thật, những lần xếp dọn như thế thì cả nhà náo động lên; bác Dinah trông nồi xoong bóng lộn, thích quá, bác cấm mọi người dùng, sợ lại nhọ nhem, suốt thời gian bác nhiệt tình với "việc xếp dọn."

Chỉ trong mấy ngày, cô Ophelia đã đưa mọi việc trong nhà vào một nền nếp mới; nhưng kết quả lại tuy thuộc ở người ăn kẻ làm trong nhà; thế là công của cô chỉ là công dã tràng. Thất vọng, cô cầu cứu đến Augustine:

– Trong nhà này, không có cách nào làm cho mọi người tôn trọng trật tự hay sao?

Augustine thú nhận:

– Đúng thế.

– Tôi không thấy ở đâu lại cẩu thả, lãng phí và rối lên như ở nhà này.

– Chắc là thế.

– Giá cậu phải quản lí cái nhà này, chắc cậu không bình tĩnh và coi nhẹ như thế này đâu.

– Chị, chị nên hiểu là chúng ta chia ra làm hai hạng người: hạng người đi áp bức và hạng người bị áp bức. Chúng tôi đây vốn rộng rãi, không thích quá nghiêm khắc, chúng tôi cam chịu vô số những điều tai hại. Nếu bọn đầy tớ hư hỏng, không vào khuôn phép, thì chúng tôi là những người phải chịu đựng. Tôi đã thấy vài ba người chủ khéo léo đưa được đầy tớ vào nền nếp; nhưng tôi không có cái tài ấy. Tôi chịu đựng đã từ lâu rồi, tôi mặc cho nó được sao hay vậy. Tôi không muốn đánh đập họ và họ cũng biết như thế. Và, tất nhiên, họ biết là họ tha hồ muốn làm gì thì làm.

– Nhưng, như thế, chỉ tổ mất thì giờ; chẳng có nền nếp, trật tự gì hết... Ẩu đến nước ấy...

– Chị ạ, ở miền Bắc, các chị quá chú trọng đến thời giờ! Những kẻ không biết dùng thì giờ để làm gì, thì nói đến thì giờ làm gì! Còn trật tự và nền nếp thì có cần gì, khi người ta chẳng biết làm gì ngoài việc nằm dài trên đi-văng, tay cầm quyển sách; như vậy ăn cơm sớm một giờ, hay muộn một giờ, hỏi có hại gì? Bác Dinah cho chúng ta ăn rất ngon - nào canh, nào món hầm, nào gà quay, thức ăn tráng miệng, kem ướp lạnh - mà mọi thứ đều xáo xào trong cái bếp bừa bộn ấy. Nhưng được cái Trời phù hộ chúng ta! Nếu chúng ta xuống bếp, trông thấy họ hút thuốc ngồi bệt xuống đất, nấu nướng luộm thuộm như thế, thì chúng ta lợm giọng chẳng buồn ăn. Chị ạ! Chị đừng nghĩ ngợi làm gì, vừa nhọc lòng, vừa vô ích. Chỉ thêm hay cáu kỉnh, và bác Dinah thêm hoang mang. Chị cứ mặc bác ta làm gì thì làm.

– Nhưng cậu có biết tôi đã trông thấy những gì đâu!

– Có chứ. Tôi biết rằng cái ống lăn bột thì ở dưới gầm giường, cái nạo để trong túi bác ta, lẫn với thuốc lá; hàng mấy chục lọ đường lăn lóc mọi xó xỉnh; bác ta lấy khăn ăn để lau bát đĩa, có khi lau bằng mảnh giẻ váy nữa. Nhưng cơm ăn vẫn tuyệt, cà phê pha vẫn ngon. Chị phải xét bác ta như xét tướng lĩnh hay những nhà chính trị, tức là theo những thắng lợi của họ.

– Nhưng lãng phí... chi tiêu bừa bãi!

– Chà! Chị cất mọi thứ cần thiết đi, và tự mình giữ chìa khóa là xong. Chị cứ phân phối những thức cần dùng, còn kệ họ. Thế là hơn, chị ạ.

– Như thế tôi không sao yên tâm được. Tôi không thể không nghĩ là họ chẳng thật thà lắm đâu. Cậu có tin là mình phó thác hết được cho họ không?

Thấy vẻ mặt lo âu của cô Ophelia, Augustine bật phì cười:

– Chị tốt bụng thật... Tin rằng họ thật thà ấy à? Chắc chắn là không. Tại sao họ lại phải thật thà? Người ta đã làm gì cho họ để bắt họ phải thật thà?

– Sao cậu không dạy họ phải thật thà?

– Tôi ấy à? Tôi dạy họ ấy à? Có họa là hóa dại! Tôi thì còn dạy dỗ gì được ai! Tôi có vẻ là một giáo sư luân lí à? Còn Mary thì có thể làm tiêu ma tất cả cái trang trại này, nhưng lại không thể làm cho bọn đầy tớ thật thà được.

– Thế không có một người nào trong bọn họ thật thà à?

– Cũng có, có thể có, khi bản chất anh ta chân thật, biết tôn trọng sự thật và trung thành đến mức không chịu một ảnh hưởng xấu nào. Nhưng chị xem, ngay từ thuở mới cai sữa, đứa bé da đen đã thấy và cảm thấy rằng chỉ có những con đường lắt léo mở ra trước mắt nó. Nó không còn con đươờng nào khác, dù là đối với cha mẹ nó, ông chủ nó, hay con cái ông chủ, là bạn hằng ngày của nó. Xảo quyệt và gian lận trở thành những thói quen cần thiết, không sao tránh được. Bắt một người da đen phải hơn thế là một điều bất công. Không được trừng phạt anh ta. Còn về sự thật thà, người da đen ở tình trạng ấu trĩ nên không thể làm cho anh ta hiểu được thế nào là quyền sở hữu, hoặc thuyết phục cho anh ta biết rằng của cải của chủ không thuộc quyền anh ta. Về phần tôi, tôi không biết làm thế nào cho người nô lệ thật thà được. Một người như bác Tom là một sự kì diệu.

– Thế còn linh hồn họ thì sao?

– Tôi không quan tâm đến cuộc đời ấy, đó không phải là việc của tôi. Sự thật, người ta thường quan niệm rằng tất cả nòi giống da đen là giống người bỏ đi, như thế có lợi cho người da trắng. Còn cuộc đời ở thế giới bên kia có gì là quan trọng!

Cô Ophelia kêu lên:

– Thật là khủng khiếp! Bọn chủ nô các ông thật là nhục nhã!

– Tôi cũng kệ, chúng tôi sống với nhau rất yên ổn. Chị cứ đi khắp nơi mà xem, đâu đâu cũng chuyện ấy; hạng người lớp dưới hầu hạ hạng người lớp trên. Ở bên Anh, hay ở đâu cũng thế thôi.

– Ở Vermont chúng tôi không thế.

– Đúng vậy, ở New England và ở những bang khác tự do hơn ở đây. Nhưng có tiếng chuông báo cơm rồi đấy: chị đi ăn đi thôi, ta hãy tạm gác câu chuyện các địa phương lại.

* * *

Lúc xế chiều, cô Ophelia đang ở trong bếp thì một chú da đen kêu to:

– Bác Prue kìa! Vẫn vừa đi vừa làu bàu!

Một người phụ nữ da đen cao, xương xương, bước vào. Bác ta đội trên đầu một giỏ bánh bít-cốt và bánh mì nóng.

Bác Dinah reo:

– À, chị Prue đấy à?

Bác Prue, nét mặt cau có, giọng nói rầu rầu. Bác đặt giỏ bánh và ngồi xổm xuống, tay tì vào đầu gối; bác thở dài:

– Chết đi cho rảnh thân. Cô Ophelia ngạc nhiên:

– Tại sao thế bác?

Bác Prue không buồn ngước mắt nhìn lên, trả lời cộc lốc:

– Cho thoát tội.

Một chị lai da đen đỏm dáng vừa nói ra vẻ trách móc, vừa lấy tay mân mê đôi khuyên bằng san hô:

– Thế sao bác cứ uống rượu vào để đến nỗi tai tiếng?

Bác Prue hằn học nhìn chị, đáp:

– Rồi một ngày kia, đến lượt chị đấy. Thử xem chị thế nào; chị sẽ sung sướng được một hớp rượu để quên mọi khổ nhục, như tôi đây này.

Bác Dinah bảo:

– Kìa chị Prue, lấy bánh bít-cốt ra. Bà chủ đây sẽ trả tiền cho chị.

Cô Ophelia thò tay vào giỏ lấy vài chục chiếc bánh.

– Có phiếu trong cái bình vỡ ở ngăn trên cùng ấy nhanh lên, Jack, leo lên mà lấy. - Bác Dinah nói.

Cô Ophelia ngạc nhiên:

– Phiếu à? Để làm gì?

– Phiếu để trả cho ông chủ chị ta, chị ta sẽ đưa bánh cho mình.

– Lúc tôi về, người ta kiểm phiếu và tiền, thiếu là tôi bị đòn.

Chị con gái xinh đẹp nói đùa:

– Đáng đời! Thì chỉ việc đừng lấy tiền của người ta mà nốc rượu. Thưa bà, bác ta vẫn thế đấy!

– Tôi cứ thế đấy! Tôi không thể sống khác thế được: tôi phải uống rượu để quên.

Cô Ophelia bảo bác ta:

– Bác thật là rồ dại. Ai lại lấy tiền của chủ mang đi uống rượu đến đần độn bao giờ.

– Thưa bà, có lẽ đúng như thế, nhưng tôi cứ thế đấy. Trời cao đất dày ôi! Tôi muốn chết đi cho rảnh.

Bác Prue nặng nhọc từ từ đứng dậy. Bác đội giỏ bánh lên đầu, liếc nhìn cô gái lai vẫn đang mân mê đôi hoa tai, hét lên:

– Chị ra vẻ một bà lớn, khinh người bằng nửa con mắt. Không sao cả; rồi một ngày kia chị sẽ già và khốn khổ như tôi. Nói thật, tôi mong ước như thế. Để xem chị có uống rượu không nào. Chị sẽ uống, uống cho kì đến ngày xuống âm phủ, tha hồ mà sướng. - Bác ta hằn học nói vậy rồi bỏ đi.

Adolph đang bận tay chuẩn bị xà phòng cạo râu cho ông chủ, nói:

– Đáng tởm! Tôi mà là ông chủ của bác ta, tôi còn đánh nữa.

Bác Dinah đáp:

– Không được. Anh chưa xem lưng bác ta đấy thôi, đến mặc áo cũng khó.

Chị Jane nói thêm vào:

– Tôi nghĩ không nên để những hạng người tồi tệ ấy vào nhà chúng ta.

Chị nháy Adolph một cái, nói tiếp:

– Thế nào, Augustine nghĩ thế nào?

Adolph ngoài thói quen lấy quần áo của chủ làm quần áo của mình, còn lấy cả tên và chức vị của chủ nữa, thành thử những người da đen vùng New Orleans vẫn gọi anh ta là "ông Augustine."

Adolph đáp:

– Cô Benoir ạ, tôi hoàn toàn đồng ý với cô.

Benoir là tên dòng họ của Mary, vợ Augustine mà Jane lại là cô hầu phòng của Mary.

– Cô Benoir, tối mai, cô có định diện đôi hoa tai đẹp tuyệt trần kia đi dạ hội không?

Jane lắc đầu làm đôi hoa tai lấp lánh, rồi cô nhõng nhẽo đáp:

– Đàn ông các anh hỗn hết chỗ nói! Nếu anh còn hỏi như thế, em sẽ chả nhảy với anh đâu nhé.

– Ai lại ác với nhau thế bao giờ! Tôi sốt ruột không biết cô có diện cái áo màu hồng không.

Chị Rosa, một cô gái lai thông minh, sắc sảo, nhảy nhót bước vào bếp:

– Cái gì thế?

– Ông Augustine trơ trẽn quá!

– Đâu nào, có cô Rosa phân xử. - Adolph mỉm cười đáp.

Rosa kiễng chân để nhìn Adolph bằng con mắt tinh ranh:

– Tôi biết là anh ấy trơ trẽn. Thấy anh ta là tôi bực mình rồi.

Adolph kêu lên:

– Kìa các bà! Các bà làm tôi thất vọng mất. Một buổi sáng nào đó, các bà sẽ thấy tôi nằm chết thẳng cẳng cho mà xem, và các bà sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Bác Dinah nói:

– Thôi hai cô đi đi thôi. Ồn cả bếp; tôi không chịu được những lối bông đùa ấy.

Rosa nhanh mồm nói:

– Bác Dinah rầu rĩ, bởi vì bác không đi dạ hội được.

– Tôi không thèm. Các anh, các chị chỉ khéo bắt chước người da trắng. Nhưng cuối cùng cũng chỉ là người da đen như tôi thôi.

Jane chế giễu:

– Bác Dinah ngày nào cũng chải đầu bằng dầu, để cho tóc bẹp xuống.

Rosa mỉm cười ranh mãnh; chị gật đầu, làm những mớ tóc mịn màng rún rẩy:

– Nhưng tóc bác Dinah vẫn lồng bồng như len. Bác Dinah không chịu thua:

– Làm như len không giá trị bằng tóc ấy. Thử hỏi bà chủ xem hai người như hai chị hơn, hay là một người như tôi hơn, xem nào. Thôi, mời hai chị đi đi cho, tôi không thích hai chị ở đây.

Đến đây, câu chuyện bị cắt đứt, có tiếng Augustine hỏi Adolph chuẩn bị xà phòng cạo râu xong chưa, hay phải suốt đêm mới xong. Cũng lúc ấy, cô Ophelia từ phòng ăn bước ra:

– Jane và Rosa làm gì ở đây mãi thế?

Bác Tom từ nãy vẫn theo dõi câu chuyện về bác bán bánh bít-cốt; bác theo bác Prue ra đường; bác Prue kéo lê những bước nặng nhọc, vừa đi vừa rên rỉ. Bác ta đặt giỏ bánh xuống bậc cửa, rồi quấn lại chiếc khăn quàng cũ kĩ trên cổ. Bác Tom thương hại nói:

– Để tôi đội giỏ bánh đến đầu đường cho.

– Sao vậy? Tôi không cần.

– Hình như bác ốm thì phải, hay là bác gặp nhiều khó khăn...

– Tôi không ốm.

Bác Tom nghiêm trang bảo:

– Thôi, bác đừng uống rượu nữa. Bác không biết là như thế, ta sẽ mất cả thể xác lẫn linh hồn ư?

Người đàn bà cáu kỉnh đáp:

– Tôi biết rằng tôi sẽ xuống âm phủ, chẳng cần ai phải bảo. Tôi xấu lắm, tôi biết. Âm phủ à? Ước gì được ở đấy.

– Cầu Chúa cứu vớt lấy linh hồn bác! Bác đã nghe nói đến Đức Chúa Jesus bao giờ chưa?

– Jesus à! Ai thế?

– Đức Chúa!

– Hình như tôi đã nghe nói đến Đức Chúa, đến phán xét cuối cùng, và cả âm phủ nữa.

– Thế là bác đã biết Đức Chúa là người thương yêu chúng ta, những kẻ có tội. Người đã hi sinh để cứu vớt chúng ta.

– Tôi không biết. Từ ngày chồng tôi chết, chẳng ai thương yêu tôi cả.

– Trước đây, bác ở đâu?

– Ở bang Kentucky. Một người cho tôi nuôi lũ trẻ để đem bán. Sau đấy, tôi cũng bị bán nốt, cuối cùng rơi vào nhà ông chủ hiện nay.

– Thế sao bác lại uống rượu?

– Để quên mọi nỗi cực nhục. Đến đây được ít lâu, tôi sinh cháu, đã tưởng là nuôi được cháu, bởi vì ông chủ không phải là người trục lợi. Thằng bé xinh quá... Thoạt đầu, bà chủ cũng thương nó. Nó không khóc bao giờ, nó đẹp, lại khỏe. Nhưng bỗng bà chủ ốm; tôi chăm nom săn sóc bà, rồi lây bệnh. Từ đấy, tôi mất sữa; thế là cháu bé quặt quẹo, dần dần chỉ còn da bọc xương; bà chủ không chịu mua sữa cho cháu. Tôi bảo bà tôi mất sữa, bà không chịu tin. Bà bảo người ta ăn gì thì cứ cho nó ăn như thế. Cháu gầy khẳng khiu, lúc nào cũng khóc, khóc đêm khóc ngày. Bà bảo là chỉ tại nó hư, bà ghét bỏ nó; bà muốn nó chết đi, bà bảo thế. Bà không cho tôi bế ẵm nó ban đêm, sợ tôi không làm việc được ban ngày. Bà bắt tôi ngủ trong buồng bà, còn cháu bé thì phải nằm một mình trong một buồng xép, cháu khóc, khóc cho đến khi chết. Thế là từ đấy, tôi uống rượu, để không nghe thấy tiếng khóc xé ruột xé gan ấy nữa. Tôi uống rượu, tôi sẽ còn uống rượu nữa, dù có phải xuống địa ngục. Ông chủ bảo tôi sẽ phải xuống địa ngục, tôi đáp tôi đã ở địa ngục rồi.

– Khốn khổ! Thế không ai nói với bác là Đức chúa thương yêu bác và đã hi sinh cho bác rồi ư? Không ai nói với bác là Người sẽ phù hộ cho bác, rồi bác có thể lên Thiên đường, linh hồn được mãi mãi thư thái ư?

– Tôi mà được lên Thiên đường à? Thế bọn da trắng có ở đấy không? Bác tưởng bọn họ thích tôi ở cùng với họ trên ấy à? Tôi ở địa ngục còn hơn, như thế tránh được ông chủ, bà chủ.

Bác Prue nói vậy rồi đội giỏ bánh lên đầu, bỏ đi, vừa đi vừa rền rĩ.

Bác Tom đau xót trở về nhà. Đến sân, bác gặp Eva, đầu cài hoa, mắt long lanh sáng ngời.

– Kìa bác Tom! Bác Tom đây rồi, thích quá! Bố bảo bác thắng ngựa vào cái xe mới của cháu rồi đưa cháu đi chơi. - Rồi cô cầm lấy tay bác Tom hỏi tiếp: - Bác làm sao thế? Sao trông bác buồn thế?

– Cô Eva ạ, tôi không được khoe. Nhưng tôi sẽ đi thắng ngựa cho cô.

– Bác Tom, sao bác lại buồn? Lúc nãy, cháu thấy bác nói chuyện với mụ Prue độc ác.

Bác Tom thong thả kể chuyện bác Prue cho Eva nghe, giọng cảm động. Eva không ngạc nhiên, cũng không khóc như những đứa trẻ nhỏ khác. Má em tái đi, mắt lờ đờ. Hai tay ôm ngực; Eva thở dài não nuột.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.