- Bác Tom ơi, bác đừng thắng ngựa nữa. Cháu không thích đi chơi nữa đâu.
– Tại sao thế cô Eva?
– Cháu buồn quá, bác Tom ạ. Cháu không muốn đi chơi nữa.
Eva quay đi, trở vào nhà.
Mấy hôm sau, một người đàn bà khác mang bánh đến bán, thay cho bác Prue. Lúc ấy, cô Ophelia đang ở trong bếp. Bác Dinah ngạc nhiên:
– Ơ kìa! Bác Prue đâu?
Người đàn bà kín đáo đáp:
– Bác Prue không đến nữa.
– Tại sao thế? Không phải tại bác ấy chết rồi chứ?
– Chúng tôi cũng không biết rõ. Bác ấy ở trong hầm. -Bác ta vừa nói vậy vừa đưa mắt nhìn cô Ophelia.
Khi cô Ophelia mua xong bánh, bác Dinah đi theo bác bán bánh ra đến cổng. Bác hỏi:
– Này, bác Prue làm sao thế?
Người đàn bà, ra vẻ nửa muốn nói, nửa sợ hãi; rồi, bằng một giọng bí mật, bác thì thầm kể:
– Nhưng chị đừng hé nửa lời với ai nhé. Bác Prue say rượu, thế là bị khiêng xuống hầm... Suốt ngày, bị nhốt dưới ấy, nghe nói bác ta bị ruồi đốt chết.
Bác Dinah giơ hai tay lên trời; quay lại, bác thấy Eva, bóng dáng mảnh dẻ, lả lướt, hai con mắt mở to, kinh hãi, môi và má tái nhợt.
– Cầu Chúa phù hộ cho chúng con! Cô Eva ngất đi mất thôi. Sao lại để cho cô nghe thấy những chuyện này! Ông chủ giận lắm đấy.
Cô bé quả quyết:
– Cháu không ngất đi đâu, bác Dinah ạ. Sao lại không cho cháu nghe? Bác Prue còn đau đớn, khổ sở hơn cháu nhiều.
– Lạy Chúa! Những cô tiểu thư ốm yếu như cô không nên nghe những chuyện này, có thể nguy hiểm đấy, cô ạ.
Eva thở dài, chậm chạp bước lên thang gác.
Cô Ophelia được tin, muốn biết rõ chuyện bác Prue. Bác Dinah kể cặn kẽ cho cô nghe; bác Tom nói thêm câu chuyện chính bác Prue đã kể cho bác. Cô Ophelia chạy vào phòng Augustine lúc ấy đang nằm đọc báo trên đi-văng, cô kêu:
– Khủng khiếp! Thật là khủng khiếp!
– Chúng nó lại làm gì đấy, chị?
– Chúng nó quật chết bác Prue rồi.
Cô kể đầu đuôi câu chuyện, nhấn mạnh những chỗ rùng rợn nhất. Augustine trước khi vùi đầu vào tờ báo, nói:
– Đấy, tôi biết chóng hay chầy rồi cũng thế.
– Cậu biết? Sao cậu không ngăn cản việc ấy? Không có ai đủ lòng tốt hay quyền lực nào can thiệp vào việc này hay sao?
– Người ta thường nghĩ rằng quyền lợi của người có quyền sở hữu đủ bảo đảm; nếu mọi người muốn hủy hoại của của mình, thì làm sao có thể can thiệp được. Hình như mụ đàn bà ấy rượu chè và ăn cắp; chắc không mấy người thương xót mụ ta.
– Augustine! Thật phi lí, thật khủng khiếp! Chúa sẽ trừng phạt cậu.
– Chị ạ, tôi đâu có làm việc ấy, mà tôi cũng chẳng thể làm gì nổi. Nếu bọn súc sinh cứ muốn là bọn súc sinh thì làm thế nào mà ngăn cản được? Họ có toàn quyền hành động. Can thiệp là vô ích; ở những trường hợp ấy, không một luật pháp nào có hiệu lực. Tốt hơn hết là nhắm mắt làm ngơ, đừng có giây vào. Đó là con đường duy nhất của chúng ta.
– Làm sao mà nhắm mắt làm ngơ, làm sao mà đừng giây vào được.
– Chị ạ, làm sao ấy à? Cả một tầng lớp xã hội, hèn hạ, vô học, lười biếng, trắng trợn bị giao cho những người hợp thành đa số trong xã hội, những người ngu dốt, không biết tự kiềm chế, không biết quyền lợi của chính mình nữa, đó là trường hợp của quá nửa số nhân loại. Tất nhiên, trong một xã hội tổ chức như thế, một người biết tự trọng, có lương tâm, chỉ còn biết nhắm mắt lại, làm cho trái tim mình trơ như đá. Thế nhưng, tôi không thể mua bất cứ người khốn khổ nào tôi gặp ở đường. Tôi không thể là một nhà hiệp sĩ, có thể đạp băng mọi bất bằng trong cái thành phố này. Tôi chỉ có thể đứng ngoài cuộc.
Khuôn mặt sáng sủa của Augustine bỗng sầm lại, như không bằng lòng. Nhưng anh lại nở một nụ cười, nói tiếp:
– Chị Ophelia, chị đừng ủ rũ thế kia. Chị đã nhìn qua lỗ thủng của một bức rèm, chị đã thấy thoáng qua mọi việc xảy ra trên cuộc đời này. Nếu chúng ta cứ chăm chú đến mọi mặt trái của cuộc sống thì chúng ta mất hết can đảm. Chẳng khác gì xuống nhìn tận cái bếp của bác Dinah.
Nói xong, Augustine ngả người xuống đi-văng tiếp tục xem báo. Cô Ophelia cũng ngồi xuống; cô đan miết, bực mình hết sức. Sau cùng, cô nói:
– Augustine! Cậu bỏ qua được cái việc ấy, còn tôi, tôi không sao không nghĩ đến được, tôi nói cho cậu biết. Cậu bảo vệ cái chế độ ấy thì cậu là người tồi. Đấy, ý kiến của tôi là như thế.
Augustine ngước mắt lên nhìn, mỉm cười:
– Chị vẫn thế à?
Cô Ophelia nói đầy nhiệt tình:
– Tôi nhắc lại, cậu bảo vệ cái chế độ ấy thì cậu là người tồi.
– Tôi, tôi bảo vệ ấy à? Ai nói thế, chị Ophelia?
– Tất nhiên là cậu bảo vệ, như mọi người khác ở miền Nam. Nếu cậu không bảo vệ, tại sao cậu lại có nô lệ?
– Nếu chị cho rằng ở trên đời này không có ai làm điều mà mình cho là bất công, thì chị ngây thơ quá. Ngay chị, chị không thế bao giờ à?
– Nếu có, tôi rất hối hận. - Cô Ophelia nói vậy rất quả quyết, hai kim đan đập vào nhau tanh tách.
– Tôi cũng thế, tôi rất tiếc.
Anh cầm một quả cam, lấy dao gọt.
– Thế tại sao cậu vẫn tiếp tục làm điều xấu?
– Thế chị, sau khi hối hận, chị không bao giờ làm điều xấu nữa hay sao?
– Đúng... chỉ khi nào không chống nổi sự cám dỗ...
– Ấy đấy, tôi bị cám dỗ ghê gớm. Khó là ở chỗ ấy.
Cô Ophelia đặt đồ đan xuống, lấy giọng nghiêm trang nói:
– Cậu Augustine! Cậu trách tôi, cũng đúng. Tôi biết là cậu nói đúng; điều ấy, tôi biết rõ hơn ai hết. Nhưng hình như có sự khác biệt giữa cậu với tôi. Nếu tôi cố tình làm điều xấu, thà tôi cắt cụt một bàn tay đi còn hơn, huống chi là việc làm trái ngược với lời nói. Tuy vậy, cậu trách tôi, tôi không lấy làm ngạc nhiên.
Augustine ngồi bệt xuống sàn nhà, ngả đầu lên đầu gối chị:
– Kìa chị, chị đừng bi quan quá. chị biết, tôi vẫn là một đứa em hư, hỗn láo. Tôi thích trêu chọc chị, với mục đích duy nhất là xem chị có coi điều tôi nói là thật tâm không. Tôi nghĩ chị là một người trí năng tuyệt vời...
Cô Ophelia đặt bàn tay lên trán cậu em, nói:
– Đây là một vấn đề rất quan trọng, Augustine ạ.
– Vâng, rất quan trọng. Tôi... Ối chà! Trời nóng quá, không sao bàn chuyện đứng đắn được. Lại lắm muỗi nữa. Làm sao trong hoàn cảnh này có thể leo được lên những đỉnh cao của đạo lí được? - Bỗng anh nói rất nhiệt tình: - Trời! Bỗng nhiên tôi tìm được câu lí giải. Tôi hiểu tại sao người miền Bắc lại có phẩm chất cao đẹp hơn người miền Nam.
– Augustine, cậu loạn trí rồi!
– Thật thế hả chị? Có lẽ chị nói đúng; nhưng lúc này tôi nói rất nghiêm túc. chị đưa cho tôi giỏ cam; lúc thảo luận, tôi phải lấy sức lực... - anh cầm lấy giỏ cam và nói tiếp: - Tôi bắt đầu nhé. Khi hoàn cảnh bó buộc một người phải cầm tù hàng chục người đồng loại của mình, thì cũng phải xét dư luận xã hội...
– Cậu lại nói đùa rồi thì phải.
– Khoan đã... đây rồi. Nói tóm lại, trong vấn để chế độ nô lệ, chỉ có một ý kiến đúng đắn nhất. Bọn chủ đồn điền, mà chế độ nô lệ mang bạc vàng đến cho chúng; bọn thầy tu, muốn làm vui lòng bọn chủ đồn điền; bọn chính trị gia quèn, muốn cai trị bằng chế độ nô lệ - tất cả bọn chúng muốn lòe bịp và xuyên tạc đạo lí khéo léo, đến mức làm cho thiên hạ phải ngạc nhiên. Bọn chúng có thể lợi dụng kinh Thánh và những gì gì nữa, mà chính bọn chúng và tất cả mọi người khác không thể tin được. Chế độ nô lệ là một điều quái gở, có thế thôi.
Cô Ophelia ngừng tay đan. Thấy nét mặt người chị ngạc nhiên, Augustine sung sướng vì đã khiến cho chị phải sửng sốt, anh nói tiếp:
– Hình như chị không tin; để tôi nói thêm những chi tiết. Cái chế độ nô lệ ấy mà cả Chúa cùng loài người đều ghét bỏ - nói ngắn gọn, là cái gì? Bởi vì người anh em da đen của tôi dốt nát và yếu đuối, bởi vì tôi thông minh, khỏe mạnh lại có khả năng, nên tôi có quyền cướp đoạt mọi thứ mà anh có. Tất cả những cái gì tôi thấy quá nặng nhọc, quá bẩn thỉu, quá khó chịu, thì tôi bắt người da đen làm. Bởi vì tôi lười biếng nên người da đen phải lao động. Bởi vì tôi không chịu được cái nắng thiêu người, nên người da đen phải phơi thân dưới nắng. Người da đen phải kiếm ra tiền bạc, còn tôi được tiêu xài. Người da đen phải ngủ trong bùn lầy để tôi được đi nơi khô ráo. Suốt đời, người da đen phải tuân theo ý của tôi, mà không được có ý kiến riêng. Còn Thiên đường, nếu tôi có muốn thì may ra người da đen mới có thể lên đấy được. Theo tôi, đấy, chế độ nô lệ là như thế. Tôi thách bất cứ ai đọc bộ luật về chế độ nô lệ mà đi được đến một kết luận khác.
Augustine đã đứng dậy, và như thường lệ, mỗi lần anh thấy lòng sôi nổi, anh đi đi lại lại rất nhanh trong phòng. Khuôn mặt anh có những nét cổ điển của một pho tượng Hi Lạp, lúc này như bừng bừng một ngọn lửa, đôi mắt to màu xanh sáng ngời; anh có những cử chỉ hùng hồn. Chưa bao giờ cô Ophelia thấy cậu em mình như vậy; cho nên cô ngồi im thin thít.
...
Buổi tối hôm ấy, Mary gợi đến chuyện bác Prue. Augustine bảo Ophelia:
– Có lẽ chị cho chúng tôi là những người dã man?
– Tôi cho đó là một hành vi dã man, nhưng tôi không bảo là tất cả mọi người đều dã man.
Mary tiếp lời:
– Còn tôi, tôi biết là không sao sống nổi với một số người trong bọn chúng, chúng tồi tệ quá sức, không đáng sống tí nào. Tôi không thương chúng một mảy may. Nếu chúng ăn ở cho phải đạo thì đâu xảy ra những tai họa như thế.
Eva cãi:
– Mẹ, nhưng bác ấy khổ cực quá nên mới uống rượu đấy chứ, mẹ ạ.
– Nói thế để xóa nhòa tội lỗi. Như thân tôi đây, thường tôi cũng rất cực khổ, tôi nghĩ tôi còn cực khổ hơn mụ ta nữa. Bọn da đen khốn khổ vì chúng rất tồi tệ; có những đứa hư hỏng, không sao dạy bảo được. Tôi còn nhớ ông cụ sinh ra tôi có một đứa nô lệ lười đến mức bỏ trốn đi để khỏi phải lao động. Nó ăn cắp và giở bao nhiêu trò bỉ ổi khủng khiếp. Thỉnh thoảng người ta bắt nó, đánh nó, nhưng chứng nào vẫn tật ấy. Lần cuối cùng, nó lết đi, rồi chết ở đồng lầy. Chẳng có lí do gì để nó sống kiểu ấy, bởi vì ông cụ nhà tôi đối xử rất tốt với nô lệ.
Augustine kể:
– Trước tôi có nuôi một người nô lệ mà không một ai trị nổi.
– Anh ấy à? - Mary hỏi. - Thế sau ra sao?
– Đó là một anh con trai khổng lồ, sinh ở châu Phi, hình như có một bản năng yêu tự do ít thấy ở những người khác. Anh chàng giống như một con sư tử, chẳng ai trị nổi. Ai mua phải anh ta, tức khắc phải tìm cách đổi hắn đi. Sau cùng, Alfeed, em trai tôi, mua anh ta và trừng trị được anh ta. Một hôm, anh ta đấm cho người gác một quả đấm nên thân, rồi chạy trốn vào nơi đầm lầy. Dạo ấy, tôi đang ở chơi nơi đồn điền Alfeed. Em tôi bực lắm; tôi bảo đó là lỗi tại em tôi và cam đoan rằng, nếu bắt được anh chàng nô lệ, tôi sẽ giáo dục được anh ta. Đôi bên thỏa thuận xong, mới cho sáu, bảy người cùng một đàn chó đi bắt anh chàng. Họ hào hứng ra đi như săn thú dữ trong rừng. Tôi cũng thấy hào hứng, nhưng tôi đi theo bọn họ để làm người trung gian, khi anh chàng bị bắt.
Chó sủa inh ỏi, người chạy miết đi mọi ngả; sau cùng, tìm thấy anh chàng. Anh ta như một con thỏ, chạy vun vút, vượt lên phía trước. Nhưng rồi anh ta cũng bị dồn vào một khu rừng lau rậm rạp; thế là hết đường chạy, anh chàng quay lại, chống chọi rất can đảm với đàn chó; một phát súng, anh ngã xuống, bị thương. Anh chàng nhìn tôi, tuyệt vọng. Tôi đuổi đàn chó và bảo mọi người đi chỗ khác; mãi mãi họ mới nghe, họ chỉ muốn đập chết anh ta, bởi vì họ đang say sưa chiến công. Alfeed bằng lòng bán lại cho tôi. Thế là tôi bắt tay vào việc và chỉ trong mười lăm ngày, anh chàng ngoan ngoãn, gần gũi mọi người như tất cả những người khác.
Mary hỏi:
– Anh làm cách nào?
– Có gì đâu. Tôi cho họ khiêng anh ta vào buồng ngủ của tôi, đặt anh ta nằm trên một chiếc giường tươm tất; chính tay tôi băng bó, chăm nom săn sóc cho anh ta, cho đến khi anh ta có thể đi đứng được. Rồi, tôi cho anh ta giấy tờ giải phóng đã làm xong xuôi, bảo anh ta đi đâu tùy ý.
Cô Ophelia hỏi:
– Rồi anh ta đi chứ?
– Không. Thằng cha xé tờ giấy, nhất định không rời tôi. Chưa bao giờ tôi có được một người đầy tớ trung thành, thẳng thắn và đáng tin cậy như thế. Lâu dần, anh ta theo đạo, hiền hậu như một đứa trẻ. Tôi giao cho anh ta quản lí một cái trại bên bờ hồ, anh ta làm tốt hết chỗ nói. Nhưng khi bệnh dịch tả hoành hành, anh ta bị bệnh chết. Sự thật, vì tôi mà anh ta chết. Bởi vì lúc ấy, tôi ốm tưởng chết; mọi người sợ quá, bỏ đi hết; chỉ còn có một mình anh ta ở lại săn sóc tôi, cứu sống tôi. Nhưng anh ta lây bệnh, không sao cứu chữa nổi. Anh ta chết đi, tôi thương xót vô cùng.
Lúc nghe câu chuyện, Eva mỗi lúc một đến gần bố. Cô ngẩn người ra mà nghe, đôi môi hé mở, con mắt ngạc nhiên. Khi bố kể xong, cô ôm chầm lấy cổ bố, khóc nức nở. Augustine thấy tấm thân bé nhỏ rung lên vì xúc động:
– Con! Eva! Sao thế con? Con bé không nên nghe những chuyện như thế này; thần kinh nó yếu.
– Không, không phải, bố ạ, thần kinh con không yếu đâu. Nhưng câu chuyện làm con xúc động quá.
– Thế là thế nào con?
– Con không biết nói thế nào; con thấy nhiều ý nghĩ đến với con quá, để hôm nào con sẽ nói với bố.
Augustine mỉm cười:
– Được thôi cứ để ý nghĩ của con đấy, nhưng đừng khóc nữa, bố buồn lắm. Đây, có quả đào rõ đẹp cho con.
Eva cầm quả đào, miệng mỉm cười, nhưng đôi môi vẫn run run:
– Nào, hai bố con đi xem cá vàng đi.
Augustine dắt tay con ra ngoài hiên. Một lúc sau, thấy tiếng hai bố con cười đùa vui vẻ; bóng hai người đi trong vườn lấy hoa hồng ném nhau.
* * *
Bác Tom sống như một cái bóng mờ, không ai để ý đến, giữa những người ở tầng lớp trên. Ta hãy lên cái buồng bé nhỏ của bác, bên trên chuồng ngựa, để xem bác sống như thế nào. Căn buồng sạch sẽ, kê một cái giường, một cái ghế, và một cái bàn gỗ mộc. Trên bàn, thấy một quyển kinh Thánh và một quyển Thánh ca. Lúc này, bác đang ngồi đăm chiêu bên bàn, trước mặt một cái bảng đá đen, hình như bác đang suy nghĩ rất ghê.
Sự thật là bác Tom nhớ nhà quá, mới hỏi xin Eva một tờ giấy viết thư, rồi, huy động tất cả những hiểu biết văn học quá ít ỏi mà cậu George đã dạy cho, bác mạnh dạn thảo bản nháp một bức thư trên tấm bảng đen. Khó thật! Bởi vì bác đã quên khuấy mất hình dáng một số chữ; những chữ còn nhớ được thì không biết đặt ở chỗ nào. Bác đang đánh vật với những chữ ấy thì Eva bước vào. Giống như con chim con, Eva ngồi trên tay ghế, nhìn xem bác Tom làm gì.
– Bác Tom, bác vẽ voi đấy à?
– Tôi định viết thư về nhà đây, cô ạ, - bác Tom giụi tay lên mắt, nói thêm, - nhưng khó quá, không biết có viết được không.
– Để cháu viết cho bác nhé. cháu học viết rồi cơ. Năm ngoái, cháu đã biết tất cả chữ cái, nhưng bây giờ chắc quên mất rồi.
Eva ghé đầu gần cái đầu bác. Hai người bàn luận rất trang nghiêm, nhưng chẳng ai giỏi hơn ai. Sau khi bàn tán, thăm dò ý kiến nhau về từng chữ một, họ thảo được một trang giống như chữ viết. Ít ra là dưới con mắt của họ.
Eva nhìn cái công trình chung ấy, sung sướng nói:
– Đẹp quá, bác Tom ạ. Bác gái với các anh chị chắc sẽ thích lắm. Bắt bác bỏ gia đình ra đi, thật nhục nhã quá! Hôm nào, cháu bảo bố cháu cho bác trở lại nhà.
Bà chủ cũ của tôi hứa bao giờ ông bà gom góp được tiền, sẽ chuộc tôi về. Cậu George còn nói sẽ đi tìm tôi; cậu ấy cho tôi đồng đô la này làm của tin đây... - Nói vậy, bác Tom lấy ở trong gói quần áo ra đồng đô la yêu quý.
– Thế nào anh ấy cũng đến, vui quá!
– Cô xem, tôi muốn viết thư về nhà, báo tin tôi ở đây, để cho nhà biết tôi vẫn mạnh khỏe. Mẹ chúng nó vẫn cứ lo sợ cho tôi.
Augustine bước vào buồng:
– Bác Tom!
Bác Tom và Eva giật mình. Augustine đến gần, nhìn cái bảng đen, hỏi:
– Cái gì thế này?
– Bức thư của bác Tom đấy bố ạ. Con viết giúp bác ấy. Có được không bố?
Cũng được thôi, nhưng bác Tom này, để chốc đi chơi về, tôi viết cho bác thì tốt hơn.
– Cần viết lắm bố ạ. Để bà chủ cũ của bác ấy gửi tiền về đây giải phóng cho bác ấy đấy, bố biết không?
Augustine nghĩ bụng đó chỉ là những lời hứa hão huyền của những ông chủ, bà chủ, cốt để làm yên lòng người nô lệ lúc bị bán đi. Nhưng anh không nói gì, anh bảo bác Tom ra thắng ngựa.
Tối hôm ấy, Augustine đã viết hộ bác Tom bức thư, và bác đã bỏ vào hòm thư.