Hết tuần lễ này đến tuần lễ khác trôi qua và những đợt sóng của cuộc đời trong gia đình Augustine trở lại bình thường; thực tiễn hằng ngày lạnh lùng và khắc nghiệt, không đếm xỉa gì đến tình cảm, bắt buộc người ta phải như thế. Chúng ta phải ăn, phải uống, phải ngủ, thức dậy, phải mua, bán, đặt những câu hỏi và trả lời những câu hỏi.
Trước kia, Augustine đã để tất cả hi vọng vào con gái mình. Vì Eva mà anh quản lí tài sản; vì Eva mà anh đặt thời gian biểu. Mọi việc mua bán, sửa sang, mọi việc cải tiến đều nhằm cho Eva thêm sung sướng. Eva chết đi, anh không còn biết làm gì nữa.
... Tuy vậy, anh đã trở thành một người khác hẳn. Anh đọc rất nhiều quyển kinh Thánh của Eva. Anh có một tầm mắt sáng suốt hơn và lành mạnh hơn về quan hệ với những người nô lệ của anh. Sau khi trở lại New Orleans được ít ngày, anh bắt đầu làm những thể thức cần thiết để giải phóng cho bác Tom. Khi những thể thức hợp pháp làm xong, bác Tom sẽ được tự do. Thời gian đó, ngày anh càng gắn bó với bác. Không ai nhắc nhở anh nghĩ đến Eva hơn bác; lúc nào anh cũng muốn bác ở gần anh. Anh ít gần gũi những người khác, nhưng, với bác Tom, anh nói tất cả những suy nghĩ thầm kín nhất. Thể thức giải phóng đầu tiên của bác Tom vừa làm xong, anh bảo bác:
Bác Tom ạ, tôi sẽ cho bác được thành người tự do. Bác sắp có thể chuẩn bị hành lí để trở về Kentucky.
Mặt bác Tom rạng rỡ hẳn lên; bác giơ hai tay lên trời, cảm tạ Chúa. Sự vui sướng ấy làm cho Augustine chưng hửng. Anh lạnh nhạt bảo bác:
– Ở đây, bác không khổ lắm. Tại sao bác lại mừng như vậy?
– Thưa ông chủ, không phải thế... Được làm một người tự do! Tôi sung sướng quá.
Bác có nghĩ rằng ở với tôi, bác sung sướng hơn là nếu bác được tự do không?
– Thưa ông Augustine, không. Tất nhiên là không
– Nếu được tự do mà không ở với tôi, bác chẳng thể kiếm được tiền mà mua áo quần như áo quần bác đang mặc, chẳng thể ăn uống như bác ăn uống ở nhà tôi.
– Tôi biết. Ông chủ đối với tôi rất tử tế. Nhưng tôi thích những quần áo xấu, ngôi nhà tồi tàn, nhưng là của tôi, thật sự của tôi. Như thế, là tự nhiên có phải không ạ?
Có lẽ thế. Được! Tháng sau, bác sẽ không ở với tôi nữa. Giọng anh ra vẻ không bằng lòng; rồi anh nói thêm: Có lẽ bác sẽ lầm, ai biết trước được!
Anh đứng dậy, đi lại trong phòng. Bác Tom nói:
– Ông còn cần đến tôi thì tôi còn ở lại. Khi tôi còn giúp việc ông được... Khi ông chủ còn phiền não...
– Hết phiền não làm sao được. - Augustine nói vậy, mắt buồn rầu nhìn ra ngoài cửa sổ.
– Khi nào ông chủ theo đạo Thiên chúa...
Câu chuyện trao đổi đến đây thì nhà có khách.
Tất cả những người nô lệ trong nhà Augustine không nguôi thương tiếc Eva. Biết bao lần Eva đã bênh vực họ, che chở họ khỏi bị bà chủ tàn nhẫn hành hạ. Nhất là bác Mammy, bác rất xót xa, bởi vì Eva là niềm an ủi của bác. Bây giờ, bác khóc ngày khóc đêm, vì vậy, bác chăm sóc bà chủ không được khéo léo như trước, lúc nào bác cũng bị chửi mắng.
Cô Ophelia cũng rất thương tiếc con bé. Nhưng, ở con người tốt và chân thực này, sự đau đớn mang lại những kết quả tốt. Cô dịu dàng hơn, đỡ khắt khe hơn. Cô tích cực dạy dỗ Topsy. Bây giờ, gần Topsy, cô không thấy ghê tởm nữa, cô không phải che giấu sự gớm ghiếc mà cô không còn cảm thấy. Nhờ Eva, cô thấy ở Topsy một linh hồn bất tử, mà Chúa đã dẫn đến cho cô để cô có thể đi trên con đường vinh quang của đạo lí. Không phải rằng bỗng chốc Topsy trở thành một vị thánh. Nhưng tấm gương và cái chết của Eva đã có tác động mạnh đến nó. Nó không vô tâm nữa; nó đã biết rung cảm, biết hi vọng, biết muốn làm điều tốt... tuy đó chỉ là những phút thoáng qua, nhưng bao giờ ý định tốt cũng thắng.
Một hôm, nghe tiếng cô Ophelia gọi, Topsy chạy lên nhà; nó giấu cái gì trong ngực. Rosa đang tìm nó, hét:
– Ranh con! Mày làm cái gì thế? Mày đã ăn cắp cái gì rồi, đố có sai!
Chị túm lấy tay con bé. Nhưng Topsy giằng ra, kêu:
– Chị Rosa, bỏ tôi ra, việc gì đến chị đấy!
– Đừng có láo! Tao thấy mày giấu cái gì. Tao còn lạ gì mày...
Rosa muốn lục xét con bé, nhưng Topsy giãy giụa để bảo vệ cái mà nó cho là thuộc quyền của nó. Cô Ophelia và Augustine thấy ồn ào, nhìn ra. Rosa mách:
– Nó ăn cắp đấy ạ.
Topsy vừa khóc vừa la:
– Không phải! Không phải!
Cô Ophelia cương quyết nói:
– Đưa ngay cô xem!
Topsy do dự một lúc, rồi rút ở áo khoác ra một cái gói bọc trong một chiếc bít tất cũ. Ophelia giở gói ra xem: một quyển sách nhỏ mà Eva đã cho nó, món tóc mà Eva tặng nó trước khi chết, cuốn trong một mảnh giấy!
Thấy thế, Augustine vô cùng xúc động; quyển sách bọc trong một miếng vải đen. Anh cầm lấy quyển sách, hỏi:
– Mày cuốn miếng vải này để làm gì?
– Tại vì... tại vì... của cô Eva. Ông chủ, ông đừng lấy của cháu.
Nó ngồi bệt xuống đất, lấy tạp dề che mặt khóc nức nở. Thật vừa cảm động, vừa buồn cười: một chiếc bít tất cũ, mảnh giẻ đen, quyển sách, món tóc vàng óng và con bé buồn rũ rượi. Augustine mỉm cười, nhưng mắt long lanh nước mắt.
– Thôi, thôi, đừng khóc nữa, giả cháu đây mà!
Anh nhặt nhạnh mọi thứ, vứt vào lòng Topsy rồi kéo Ophelia vào phòng khách:
– Tôi tin chắc là chị sẽ cải tạo được nó. Ai đã thật sự cảm thấy buồn rầu thì có thể trở thành tốt được. Bây giờ, chị hãy dẫn nó trên con đường của điều thiện.
– Nó tiến bộ nhiều rồi. Tôi hi vọng lắm. Nhưng tôi hỏi cậu câu này nhé: Con bé này là của ai? Của cậu hay của tôi?
– Tôi đã cho chị rồi kia mà.
– Nhưng không hợp pháp. Tôi muốn nó thuộc về tôi, nhưng hợp pháp kia!
– Trời đất ơi! Chị mà là chủ nô lệ thì cái xã hội đòi thủ tiêu chế độ nô lệ của chị sẽ nói những gì!
– Cậu chẳng hiểu gì! Tôi muốn mang nó sang những nước tự do, để giải phóng nó, và để cho mọi công sức của tôi không trở thành vô ích... Nếu cậu đồng ý nó là của tôi, thì cậu làm giấy tờ hợp pháp đi.
– Được, được, tôi sẽ làm.
Nói vậy, Augustine ngồi xuống, định lấy tờ báo đọc, nhưng Ophelia nói ngay:
– Tôi muốn cậu làm ngay bây giờ kia.
– Sao vội thế chị?
– Thế sao lại hoãn lại? Đây, cậu cầm lấy cái bút này, cả giấy và mực đây nữa.
Augustine tùy thuộc loại người không thích làm việc gì dưới một áp lực nào, nhưng đành cầm lấy bút. Anh biết các công thức của pháp luật, nên giấy tờ làm xong ngay. Sau đó, anh kí rõ trịnh trọng, vạch một gạch dài dưới chữ kí. Anh nói đùa:
– Thưa bà Ophelia, giấy tờ đây. Giấy trắng mực đen rõ ràng.
Cô Ophelia mỉm cười:
– Khá lắm. Có cần người làm chứng không?
– Đúng rồi... Mary! - Anh vừa gọi vợ, vừa mở cửa phòng bên. - chị Ophelia xin chữ kí của em, em ra đây kí vào tờ giấy này.
Mary đọc qua loa tờ giấy, hỏi:
– Cái gì thế? Buồn cười thật! Tôi cứ tưởng chị ngoan đạo lắm, ai lại làm cái việc khủng khiếp này. Nhưng, - Mary vừa uể oải kí, vừa nói tiếp, - nếu chị thích thế, thì càng hay.
– Chị cầm lấy. Từ nay Topsy thuộc về chị, cả linh hồn lẫn thể xác.
Augustine trở về phòng khách đọc báo. Cô Ophelia cất cẩn thận giấy tờ, rồi theo em vào phòng khách. Cô hỏi:
– Augustine, cậu có nghĩ đến việc giải phóng các nô lệ của cậu không? Nếu cậu chết đi, họ sẽ ra sao?
Augustine mắt không rời tờ báo đáp:
– Không, tôi không nghĩ đến việc ấy.
– Thế thì một ngày kia, bao nhiêu lòng từ tâm của cậu sẽ trở thành sự độc ác ghê gớm.
Sự thật, Augustine đã nghĩ đến việc ấy; nhưng anh lãnh đạm nói:
– Tôi định rồi sẽ giải phóng cho họ.
Nhưng nếu cậu chết trước khi ấy thì sao?
– Chị Ophelia, sao lại thế? - Augustine đặt tờ báo xuống nhìn chằm chằm Ophelia. - Chị cho là tôi có triệu chứng bệnh sốt rét hay dịch tả chăng? Chị hỏi săn hỏi đón những công việc sau khi người ta chết!
– Chúng ta lúc nào cũng bị cái chết đe dọa.
Augustine đứng dậy. Anh lơ đãng vứt tờ báo xuống bàn rồi đi ra cái cửa hành lang; anh không muốn nghe câu chuyện làm anh khó chịu. Như một cái máy anh nhắc lại: "Cái chết!..." Anh tì vào lan can, nhìn tia nước phun, những bông hoa, cây cối, những chậu cảnh ngoài vườn, và nhắc lại cái tiếng dùng rất bình thường hằng ngày, nhưng có có một uy lực khủng khiếp: cái chết...
Augustine trầm tư đi lại dọc hành lang. Anh không chú ý đến mọi việc xung quanh... Bữa ăn, anh vẫn lơ đãng. Anh lặng lẽ theo Mary và Ophelia vào phòng khách.
Mary nằm trên đi-văng, trong một cái màn lụa, một lát thì ngủ rất say. Ophelia ngồi đan, không nói một lời. Augustine ngồi đánh dương cầm; anh chơi một điệu mơ màng, buồn rầu. Rồi, anh mở ngăn kéo, lấy một quyển sách cũ, đã ngả màu vàng; anh lật từng trang. Anh bảo Ophelia:
– Quyển sách này là của mẹ tôi. chị lại mà xem, mẹ tôi chép tay một đoạn bản "Requiem"[13] của Mozart. Mẹ tôi hay hát đoạn này lắm, đến nay tôi tưởng còn như nghe thấy.
Hai chị em bàn đến vấn đề đạo Thiên chúa.
Augustine nói:
– Tôi nghĩ về đạo Thiên chúa như thế này; không được có một người nào tuyên truyền cho nó mà không hiến tất cả cuộc đời mình để phản kháng cái chế độ bất công hiện nay là cơ sở của toàn thể xã hội chúng ta, dù là phải hi sinh trong chiến đấu. Có lẽ, tôi chỉ có thể trở thành người theo đạo khi tôi hành động như thế. Nhưng tôi biết nhiều người theo đạo Thiên chúa đã lùi bước trước nhiệm vụ. Thú thật rằng thái độ lãnh đạm, tiêu cực của họ trước sự bất công làm cho tôi khủng khiếp và càng thêm nghi ngờ.
– Cậu nghĩ thế, tại sao cậu hành động như thế?
– Bởi, vì tôi chỉ mới có được cái thiện ý nằm dài trên đi-văng để chê bai nhà thờ và giáo sĩ. Chị biết, còn gì dễ hơn là ra lệnh cho người khác hi sinh.
– Thế bây giờ cậu có định thay đổi thái độ sống không?
– Có trời biết sau này sẽ ra sao. Tôi bây giờ can đảm hơn, bởi vì tôi đã mất tất cả. Ai không còn gì để mất, thì có thể xông vào làm bất cứ việc gì.
– Cậu định làm gì?
– Làm nhiệm vụ đối với những người nghèo, những người bị khinh rẻ trong xã hội, trước hết là những người nô lệ của tôi, mà cho đến giờ, tôi chưa làm được gì cả. Rồi, có lẽ, sau này, tôi sẽ làm được cái gì cho tất cả những người nô lệ. Tôi sẽ cố gắng làm cho xứ sở của tôi mất hẳn cái vị trí nhục nhã mà hiện nay tất cả các nước văn minh đánh giá nó.
– Cậu có tin rằng cả một nước sẽ đồng tình tự nguyện giải phóng nô lệ không?
– Tôi không biết. Nhưng bây giờ là thời đại của những sự nghiệp vĩ đại. Ở một số nơi, đã trỗi dậy chí khí anh hùng và tinh thần xả thân. Những người quý tộc Hung-ga-ri đã giải phóng hàng triệu nông nô, dù phải hi sinh những quyền lợi vật chất lớn. Biết đâu, trong chúng ta, không có những tâm hồn cao cả dám không đánh giá danh dự và công lí bằng đô la.
– Tôi không tin. - Cô Ophelia nói.
– Giả dụ rằng ngày mai, ta sẽ giải phóng hàng triệu người nô lệ, lấy ai dạy cho họ sử dụng quyền tự do của họ? Ở miền Nam chúng tôi, họ sẽ chẳng làm nên công chuyện gì. Chúng tôi quá lười biếng, ít thực tiễn quá, không thể làm cho họ có đủ nghị lực cần thiết để trở thành những con người chân chính. Họ sẽ phải lên miền Bắc, nơi lao động đã thành phong trào, thành thói quen... chị hãy nói cho tôi biết: ở các bang miền Bắc các chị, có bao nhiêu người có tình thương yêu nhân loại để nhận trách nhiệm giáo dục ấy? Các ông, các bà bỏ ra hàng nghìn đô la cho các hội truyền giáo nước ngoài, nhưng các ông, các bà có chịu nhận những người da đen vào ở thành phố, làng mạc của các ông, các bà không? Có chịu dành thì giờ, tiền bạc để nâng họ lên ngang hàng với các người theo đạo Thiên Chúa không? Nếu chúng tôi giải phóng họ, các ông, các bà có chịu giáo dục họ không? Chị xem đấy, tôi đòi hỏi công lí; nhưng chúng tôi gặp hoàn cảnh khó khăn. Bề ngoài, những người miền Nam chúng tôi là những kẻ áp bức người da đen; nhưng những thành kiến của người miền Bắc cũng không hơn mấy tí.
– Tôi hiểu điều đó. Chính tôi, tôi cũng đã có thành kiến ấy, cho đến khi tôi hiểu nhiệm vụ của tôi là phải khắc phục nó...
Nét mặt Augustine lại mơ màng, buồn rầu. Anh thì thầm nói:
– Tôi không hiểu tại sao hôm nay tôi nhớ mẹ tôi quá. Tôi tưởng như mẹ tôi ở ngay bên cạnh tôi; tôi nhớ rành rọt những lời mẹ tôi nói. Đôi khi, quá khứ bỗng sống dậy hết sức mạnh mẽ, như thế chẳng lạ lùng lắm sao?
Anh đi vài bước và nói tiếp:
– Để tôi ra ngoài một lát xem có chuyện gì ở ngoài phố không.
Anh cầm mũ bước ra ngoài. Bác Tom đi theo anh ra đến sân, xin đi cùng với anh.
– Không cần, một giờ nữa tôi sẽ về.
Bác Tom trở vào ngồi ở hành lang. Một buổi tối đẹp trời, ánh trăng chiếu sáng tia nước phun; bác lắng nghe tiếng nước khe khẽ rì rào. Bác nghĩ đến gia đình; bác sẽ là người tự do, bác sẽ trở về nhà. Bác sẽ làm việc; có tiền, bác sẽ chuộc vợ bác, các con bác. Nghĩ đến đây, bác sung sướng nắn nắn những bắp thịt khỏe mạnh nơi cánh tay. Thế rồi, bác nghĩ đến cậu chủ có tấm lòng tốt. Bác còn nghĩ đến Eva, tưởng như trông thấy khuôn mặt xinh đẹp, mớ tóc óng vàng của cô bé trong tia nước. Bác ngủ thiếp đi, thấy cô bé trong giấc mơ, tóc cài một bông nhài, mắt ngời sáng... Cô bé biến mất, bác thức giấc. Có tiếng gõ cửa, tiếng người nói ồn ào ngoài cổng lớn.
Bác Tom chạy ra mở cổng. Mấy người đàn ông bước vào, tay khiêng một cái cáng, trên có một người quấn trong áo khoác. Ánh sáng ngọn đèn chiếu vào mặt người bị thương; bác Tom thốt lên một tiếng kêu kinh khủng, tuyệt vọng. Mấy người đàn ông khiêng cáng về phía phòng khách cửa còn mở. Cô Ophelia đang ngồi đan.
Augustine vào quán cà phê để đọc tờ báo buổi chiều. Hai người hơi say rượu đánh nhau. Augustine và hai người khác lại để can. Augustine tìm cách giằng con dao găm của một người ra, thì bị một nhát vào sườn.
Cả nhà vang rền tiếng khóc, tiếng kêu la. Những người nô lệ bứt tóc, lăn xuống đất, hoặc chạy nhốn nháo, rên khóc. Chỉ có bác Tom và cô Ophelia là giữ được bình tĩnh. Theo lệnh cô Ophelia, người ta đặt người bị thương trên đi-văng. Augustine phần vì đau đớn, phần vì mất sức, bất tỉnh nhân sự. Anh mất nhiều máu quá. Sau khi cô Ophelia đổ cho anh một liều thuốc bổ, anh hồi tỉnh; anh mở mắt nhìn mọi người. Rồi anh nhìn quanh phòng, ngắm bức chân dung của mẹ.
Thầy thuốc đến thăm người bị thương. Nét mặt ông ra vẻ thất vọng. Bác Tom và cô Ophelia phụ việc băng bó vết thương. Những người nô lệ xúm xít ngoài cửa, khóc nức nở. Thầy thuốc ra lệnh:
– Bảo họ đi chỗ khác. Sống được hay không lúc này, là tuy trong nhà có được yên tĩnh hay không.
Augustine mở mắt; anh nhìn những người khốn khổ đang bị xua đuổi ra bên ngoài.
– Tội nghiệp! - Anh thì thào nói; trên khuôn mặt anh, thấy có một vẻ hối hận chua chát.
Adolph nhất định không chịu ra. Sự việc khủng khiếp quá, khiến anh ta như mất trí; anh ta lăn xuống đất, không ai bảo anh ta đứng dậy được. Những người khác đành chịu nghe lời cô Ophelia, cô bảo ông chủ có sống được hay không là do chính họ có nghe lời và im lặng hay không.
Augustine hầu như không nói được nữa. Mắt anh nhắm, nhưng người ta đoán biết bên trong, anh đang chống lại cái chết. Anh đặt bàn tay vào tay bác Tom đang quỳ bên cạnh.
– Bác Tom... Tội nghiệp... Tôi không sống được...
Mặt anh tái dần, nhưng rất bình thản, giống như khuôn mặt một đứa trẻ mệt lả, ngủ thiếp đi... Mắt anh lại mở, ngời sáng, sung sướng như vừa nhận ra một người thân yêu nào. Anh gọi thầm: "Mẹ..." Thế rồi anh tắt thở.