Chậm Một Bước

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
19

❊ ❊ ❊

Linda hét lên.

Cô ở ngay cạnh ông, tiếng hét chạy xuyên qua giấc mơ của ông. Khi mở mắt trong bóng tối, ông không hiểu ngay là mình đang ở đâu. Nhưng mùi đèn dầu vẫn lơ lửng trong phòng. Như vậy không phải là Linda. Ông cảm thấy tim mình đập loạn nhịp. Tiếng rì rào nhẹ nhàng của lá cây ở phía bên kia cửa sổ mở hé. Ông dỏng tai lên. Có phải ông đã mơ? Ông chầm chậm ngồi dậy trên giường, lần tìm bao diêm đặt gần cái đèn. Vẫn không có tiếng động nào. Ông châm đèn và mặc quần áo thật nhanh. Ông đang đi giày thì lại nghe thấy nó. Thoạt tiên, ông nghĩ tiếng động đến từ bên ngoài. Cái gì đó va vào tường nhà, có thể là một sợi dây đập vào ống máng. Rồi ông hiểu là nó vọng đến từ tầng trệt. Ông đứng dậy, giày vẫn cầm trên tay, và đi ra đến cửa, thận trọng mở nó ra. Tiếng động đến từ bếp. Ông hiểu ra: cái cửa lật. Nỗi sợ trở lại, nhân lên gấp đôi. Ông đã không mơ. Ông đã không tưởng tượng ra những chuyện đó.

Thay vì đi chiếc giày thứ hai, ông cởi cái kia ra, cầm lấy ngọn đèn và đi xuống cầu thang. Nửa chừng, ông dừng lại lắng nghe.

Ánh đèn nhảy múa trên tường. Tay ông đang run. Ông không có gì để tự vệ khi cần. Ông cố suy nghĩ. Thật khó tin là có điều gì có thể xảy ra ở đây, trên đảo. Không có ai ngoài Isa và ông. Hẳn là ông đã mơ. Hoặc là một con chim đêm. Hoặc nữa, giả thuyết thứ ba, không phải là ông mơ, mà là Isa Edengren.

Ông xuống đến tầng trệt. Phòng ngủ của cô nằm cạnh bếp. Ông lại đứng bất động. Rồi ông gõ cửa. Không có tiếng trả lời. Ông cố nghe tiếng thở của ông. Sự im lặng quá sâu, ông nghĩ. Rồi ông cố mở cửa. Cửa khóa. Không do dự nữa, ông lấy hết sức đập cửa, quay nắm đấm. Cửa quá chắc. Ông đi vào bếp, đóng cánh cửa lật lại và lục các ngăn kéo tìm một thứ dụng cụ. Ông tìm được một cái tuôc-nơ-vit to. Rồi ông phá cửa phòng Isa. Giường trống không. Cửa sổ mở, nhưng không dựng thanh chống. Ông cố hiểu điều gì có thể xảy ra. Rồi ông nhớ đã nhìn thấy một cái đèn pin lớn trong bếp. Ông đi tìm nó, và một cái búa tìm thấy trong cùng ngăn kéo với cái tuôc-nơ-vit; ông cũng mang theo cả cái tuôc-nơ-vit. Ông mở cửa chính ra và dỏng tai lên. Khi đã ở trong sân, ông nhận ra mình đang đi chân trần. Một con chim bay vụt qua trong bóng tối. Gió làm lung lay những ngọn cây. Ông gọi Isa nhưng không có tiếng trả lời. Ông lại gần cửa sổ phòng cô và chiếu đèn xuống đất. Có vết chân, nhưng quá mờ để có thể lần theo. Ông quay lại, rọi đèn vào bóng tối của khu vườn. Gọi Isa một lần nữa. Tim ông đập rộn. Ông sợ. Ông quay lại cửa phòng bếp và chiếu vào ổ khóa. Đúng như ông lo ngại, cửa đã bị khóa. Nỗi sợ của ông tăng lên. Ông quay lại và giơ búa lên, nhưng không có ai hết. Ông trèo lên gác. Điện thoại của ông nằm trên bàn cạnh giường. Ông cố gắng hiểu điều đã xảy ra. Kẻ nào đó đã phá cửa bếp. Isa đã thức dậy vì có kẻ nào đó định vào phòng cô. Cô đã chạy trốn qua cửa sổ. Ông không tìm được cách giải thích khả dĩ nào khác. Ông bấm số nhà Martinsson. Anh nhấc máy ở lần đổ chuông thứ ba. Wallander biết là anh để một cái điện thoại bên cạnh giường.

— Kurt đây. Rất tiếc là đã đánh thức cậu.

— Có chuyện gì thế?

— Dậy đi. Đi rửa mặt. Tôi sẽ gọi lại trong ba phút nữa.

Martinsson phản đối. Wallander bỏ máy và nhìn đồng hồ đeo tay. Ba phút sau, ông gọi lại cho Martinsson, lo lắng với ý nghĩ điên thoại di động sắp hết pin. Dĩ nhiên là ông đã quên mang theo một cục pin dự trữ.

— Nghe rõ tôi nói đây, – ông nói. – Tôi không thể nói dài được, sắp hết pin rồi. Cậu có giấy bút không?

Lúc này Martinsson đã tỉnh ngủ hoàn toàn.

— Tôi nghe đây.

— Đêm nay đã xảy ra chuyện gì đó. Tôi không biết là chuyện gì, nhưng Isa Edengren đã hét lên. Điều đó làm tôi tỉnh dậy. Cô ấy đã biến mất. Cửa chính bị phá. Như vậy là có kẻ nào đó trên đảo. Tôi không biết là ai, nhưng hắn đã đến tìm cô ấy. Có một khả năng nhỏ là hắn còn chưa biết tôi cũng ở đây. Tôi thấy sợ cho cô ấy. Ngôi mộ ở khu bảo tồn được dự tính cho bốn người.

— Tôi có thể làm gì đây?

— Lúc này thì không có gì, ngoài việc tìm số điện thoại của các đội gác biển ở Fyrudden và đợi cho đến khi tôi gọi lại.

— Anh định làm gì?

— Tìm cô ấy.

— Có thể là rất nguy hiểm đấy. Anh cần được giúp đỡ.

— Cậu có nghĩ đến các đồng nghiệp Norrkoping không? Theo cậu thì mất bao nhiêu thời gian họ mới đến được đây?

— Dù sao thì anh cũng không thể một mình lục tìm cả hòn đảo chứ!

— Nó không rộng lắm đâu. Tôi bỏ máy đây. Sợ hết pin.

— Tôi đợi anh gọi lại. Cẩn thận nhé.

Wallander đi giày, cho điện thoại vào túi áo sơ mi và rời khỏi nhà sau khi dắt cái búa vào thắt lưng. Ông bắt đầu bằng việc xuống cầu tàu. Ông rọi đèn xuống mặt nước tối đen. Không có tàu. Ông vẫn không ngừng gọi tên Isa. Hai cái chòi trống không. Ông chạy quay lại ngôi nhà, đi vòng qua nó và đi vào lối đi xuất phát từ khu vườn. Những bụi rậm và những cái cây sáng lên trong luồng sáng mạnh của cái đèn pin. Ông mở cửa cái hầm đào sâu xuống đất.

Không có ai.

Ông tiếp tục hét gọi tên cô. Đến nơi có đường rẽ về phía bến cảng tự nhiên, ông đứng sững lại. Phải chọn đường nào đây? Ông rọi đèn xuống đất nhưng không tìm được vết chân nào. Ông quyết định đi tiếp về điểm cực Bắc của hòn đảo. Lên đến những tảng đá, ông thấy mình sắp hết hơi. Cơn gió nhẹ thổi từ biển vào làm ông sững người vì sự lạnh giá. Ông chiếu đèn xuống những tảng đá. Một đôi mắt sáng long lanh hiện ra; con thú rất nhỏ và biến đi ngay. Một con chồn hôi. Ông tiếp tục đi lên đến điểm tận cùng, vừa đi vừa chiếu đèn vào những đoạn khúc khuỷu. Không có gì. Ông lại gọi tên cô. Ông chuẩn bị quay lại thì một tiếng động làm ông đứng im. Ông lắng nghe. Sóng đang đập vào những tảng đá. Nhưng còn có điều gì đó khác nữa. Đột nhiên ông hiểu ra: động cơ tàu thủy. Tiếng động vọng đến từ phía Tây. Cái vũng! Lẽ ra ông phải đi đường kia. Ông bắt đầu chạy nhưng, khi đến những hàng cây cuối cùng, ông đứng khựng lại, dỏng tai lên và rọi đèn ra biển. Tiếng động cơ đã biến mất. Một con tàu vừa đi khỏi, ông nghĩ. Nỗi sợ càng tăng thêm lên. Điều gì đã xảy đến với Isa? Ông quay trở lại dọc theo lối đi và cố gắng nghĩ điều mình phải làm. Các đội gác biển có chó không? Hòn đảo không lớn, nhưng một mình ông sẽ không bao giờ lục tìm hết được. Ông cố gắng hình dung ra những phản ứng của Isa. Cô đã nhảy qua cửa sổ chạy trốn vì sợ. Kẻ định phá cửa phòng cô cũng cùng lúc chặn đường lên phòng của Wallander. Cô đã nhảy qua cửa sổ và chạy trốn vào bóng tối. Hẳn là cô không có đèn pin.

Đột nhiên ông hiểu ra. Trong khi đi dạo trên đảo, cô đã nói với ông về một chỗ trốn nơi cô từng chơi đùa với người anh Jorgen của mình khi còn nhỏ. Ông cố nhớ họ ở đâu khi cô chỉ cho ông cái tảng đá lớn tạo thành điểm cao nhất của cả hòn đảo. Xa hơn một chút, sau chỗ rẽ, gần về đến nhà. Con đường ở chỗ đó đi giữa hai vách đá. Cô đã dừng lại và nói với ông: ở đây này. Ông vội rảo bước, quay lại chỗ vách đá, chiếu đèn lên bờ dốc theo hướng cô đã chỉ. Rồi ông rời khỏi lối đi và đi vào giữa những khối đá lớn, những bụi cây, những cái cây ngả xuống. Lên đến trên cao, ông đoán đằng sau những cây dương xỉ cao có một khoảng đất bằng. Ông thận trọng tiến lên, rẽ đám dương xỉ ra và chiếu đèn vào vách đá dựng ngược.

Cô nằm co quắp sát vách đá, trong chiếc sơ mi mặc đi ngủ, hai tay quấn quanh đầu gối và đầu nghiêng vào vai. Có vẻ như là cô đang ngủ. Nhưng ông hiểu ngay là cô đã chết. Kẻ nào đó đã giết cô. Một viên đạn vào trán.

Wallander ngồi phịch xuống đất. Ông có cảm giác toàn bộ máu trên người đang dồn lên đầu. Ông nghĩ mình sắp chết. Và điều đó không có chút quan trọng nào. Ông đã không bảo vệ nổi Isa. Không gì có thể bảo vệ được cô, cả đến cái chỗ trốn nơi cô vẫn thường chơi khi còn là một bé gái. Ông đã không nghe thấy phát đạn. Như vậy là súng có nòng giảm thanh.

Ông đứng dậy, dựa lưng vào một thân cây. Điện thoại di động rơi ra từ túi áo sơ mi của ông. Ông nhặt nó lên, lảo đảo quay trở về nhà, ngồi xuống một cái ghế trong bếp và gọi cho Martinsson.

— Tôi đã đến quá muộn.

— Cái gì?

— Cô ấy chết rồi. Bị bắn, giống như những người khác.

Martinsson tỏ ra không hiểu. Wallander nhắc lại điều ông vừa nói.

— Chúa ơi, – Martinsson nói. – Kẻ nào đã làm điều đó?

— Một kẻ đi tàu đến. Gọi cho các đồng nghiệp ở Norrkoping đi. Họ phải đến. Nói với các đội gác biển. Đánh thức những người khác dậy, Lisa Holgersson, tất cả mọi người. Pin sắp hết sạch rồi. Tôi sẽ gọi cho cậu ngay khi có người đến.

Cuộc nói chuyện kết thúc. Cái đèn pin chiếu sáng một bức tranh treo trên tường thêu dòng chữ Home sweet home. Sau một lúc, ông tự buộc mình phải đứng dậy và đi tìm một cái chăn trong phòng ngủ của Isa. Rồi ông quay ra vào bóng tối. Trên đó, ông đắp chăn cho cô.

Ông ngồi xuống một tảng đá bên cạnh đám dương xỉ che khuất mất những đoạn khúc khuỷu phía sau. Đồng hồ đeo tay của ông chỉ ba giờ hai mươi phút.

Gió bắt đầu thổi vào lúc bình minh. Wallander đã đi xuống cầu tàu khi nghe tiếng động cơ tàu của đội gác biển. Trên boong, các cảnh sát mặt mày căng thẳng nhìn ông vẻ nghi ngờ. Ông hoàn toàn hiểu họ. Một cảnh sát Scanie đến những hòn đảo của họ để làm gì? Nếu vẫn còn là kỳ nghỉ thì còn đi một nhẽ… Ông dẫn họ lên nơi xảy ra án mạng và quay đầu đi khi họ lật cái chăn ra. Một trong số các cảnh sát Norrkoping tiến về phía ông và đòi xem thẻ của ông. Wallander mất hoàn toàn sự bình tĩnh của mình. Ông rút mạnh ví ra và ném thẻ của mình xuống chân người cảnh sát. Rồi ông bỏ đi. Nỗi tức giận nhanh chóng nhường chỗ cho một sự mệt mỏi tê liệt. Ông ngồi xuống chỗ mấy bậc thang ở thềm nhà, tay cầm một chai nước.

Harry Lundstrom lợi dụng lúc đó để đến chỗ ông. Ông có mặt ở trên đó khi Wallander bùng nổ cơn giận dữ. Bản thân ông cũng hết sức tức giận trước đòi hỏi của người đồng nghiệp: một sự thiếu tế nhị đến quá đáng. Dù sao, lệnh báo động cũng được phát đi từ sở cảnh sát Ystad, và thông điệp không thể không rõ ràng hơn: Kurt Wallander đang ở trên đảo Bamso, ông đã phát hiện xác một cô gái trẻ và cần được giúp đỡ.

Harry Lundstrom năm mươi bảy tuổi. Ông sinh ở Norrkoping, và tất cả mọi người - trừ ông - đều coi ông là cảnh sát giỏi nhất thành phố. Ông không biết hoàn cảnh diễn ra các sự kiện trên đảo Bamso. Thông tin đến từ Ystad không đầy đủ, vì những lý do dễ hiểu. Ông đã hiểu rằng chuyện có liên quan đến những vụ giết người ở Scanie - người đồng nghiệp bị sát hại ở nhà và ba thanh niên bị giết tại một khu bảo tồn thiên nhiên. Ngoài những dữ liệu đó ra, ông không biết gì nữa cả.

Nhưng Harry Lundstrom là người có óc tưởng tượng: ông hiểu rất rõ hiệu ứng gây ra bởi việc tìm thấy một cô gái trẻ mặc áo sơ mi ngủ nằm co quắp bên một vách đá, trán bị một phát đạn xuyên thủng.

Ông đợi vài phút. Rồi đến chỗ Wallander và ngồi cạnh ông trên bậc thang.

— Đòi anh cho xem thẻ như thế là hơi thô lỗ, – ông nói.

Rồi ông chìa tay và tự giới thiệu. Ngay lập tức Wallander thấy tin tưởng ông.

— Tôi phải nói chuyện với anh phải không?

Harry Lundstrom gật đầu.

— Thế thì chúng ta vào nhà đi.

Họ ngồi trong phòng khách. Wallander hỏi mượn điện thoại di động của Lundstrom. Ông nói chuyện ngắn gọn với Martinsson; phải báo cho bố mẹ Isa.

Ông mất gần một tiếng đồng hồ để giải thích cô gái bị giết là ai và đã chết trong hoàn cảnh nào. Lundstrom lắng nghe mà không ghi chép lại. Thỉnh thoảng, một cảnh sát đến hỏi ý kiến ông về một việc gì đó. Lundstrom trả lời bằng một mệnh lệnh đơn giản và rõ ràng. Khi Wallander đã nói xong, ông đặt hai hoặc ba câu hỏi. Wallander nghĩ rằng ở địa vị của Lundstrom ông cũng sẽ hỏi như vậy.

Khi đó là bảy giờ sáng. Họ đi ra ngoài. Tàu của đội gác biển đang dập dờn bên cầu tàu.

— Tôi phải lên trên kia, – Lundstrom nói. – Anh không cần đi theo tôi. Những gì anh nhìn thấy đã là quá đủ rồi.

Giờ đây gió đã thổi mạnh. Wallander rùng mình.

— Gió thu, – Lundstrom bình luận. – Bắt đầu chuyển mùa rồi.

— Tôi chưa bao giờ đến quần đảo này, – Wallander nói. – Đẹp thật đấy.

— Khi còn trẻ tôi từng chơi bóng ném. Tôi có một bức ảnh màu chụp đội tuyển Ystad trong phòng ngủ, nhưng tôi chưa bao giờ đến Scanie.

Họ đang đi trên lối đi. Có tiếng chó sủa từ xa.

— Tôi đã nghĩ có lẽ tốt hơn là lục tìm cả đảo, – Lundstrom nói. – Trong trường hợp nhỡ đâu tên giết người vẫn còn ở đây.

— Hắn đã đến bằng tàu. Hắn đã cập bờ phía Tây của hòn đảo, ở cái vũng nhỏ.

— Nếu có nhiều thời gian hơn, chúng ta đã có thể cho theo dõi tất cả các bến cảng xung quanh. Giờ thì muộn quá rồi.

— Ai đó có thể nhìn thấy điều gì đó.

— Phải, ai đó có thể đã nhìn thấy một con tàu cập vào đây đó trong đêm. Chúng tôi sẽ lo chuyện đó.

Lundstrom đi khỏi để đến nói chuyện với các đồng nghiệp của mình. Một lúc sau, ông khuất hẳn sau đám dương xỉ. Wallander thấy buồn nôn. Ông muốn rời xa khỏi cái hòn đảo này mau chóng nhất có thể được. Cảm giác có trách nhiệm về cái chết của Isa rất mạnh. Dĩ nhiên là lẽ ra họ đã phải rời khỏi hòn đảo ngay từ tối hôm qua. Lẽ ra ông phải dự đoán được nguy hiểm. Họ đang phải đối mặt với một tên giết người lúc nào cũng có vẻ đi trước những người truy đuổi một đoạn rất dài. Nhất là thật sai lầm khi để cô ngủ dưới tầng trệt.

Ông biết là những lời buộc tội đó không có cơ sở. Nhưng điều đó mạnh hơn ông.

Lundstrom hiện ra giữa đám dương xỉ. Ông chặn một cảnh sát dắt chó lại.

— Có gì mới không?

— Trên đảo không có ai. Con chó đã đánh hơi thấy mùi dẫn đến một vũng nước nhỏ, ở phía Tây đảo. Đến đó thì mất dấu.

Lundstrom đưa mắt nhìn Wallander.

— Anh đã có lý. Hắn đến bằng tàu, và đi khỏi cũng bằng cách đó.

Họ quay vào nhà. Wallander suy nghĩ.

Con tàu rất quan trọng. Hắn đã lấy ở đâu?

— Tôi cũng đang nghĩ đến điều đó. Nếu kẻ đó không quen thuộc vùng này, mà chắc là như vậy, bằng cách nào mà hắn có tàu?

— Hắn ăn cắp.

Lundstrom đứng sững lại trên lối đi.

— Đồng ý. Vậy làm cách nào mà hắn đi lại được trong quần đảo vào ban đêm?

— Có lẽ là hắn biết hòn đảo. Và biết lái tàu.

— Hắn đã từng đến đây rồi à?

— Chúng ta không thể loại trừ khả năng đó.

Lundstrom tiếp tục đi.

— Tàu ăn cắp hoặc mượn tạm. Có lẽ hắn đã làm việc đó ở mấy vùng xung quanh. Fyrudden, Snackvarp hoặc Gryt. Trừ khi hắn đến một cầu tàu thuộc sở hữu tư nhân.

— Hắn không có nhiều thời gian. Isa trốn khỏi bệnh viện vào sáng hôm qua.

— Những tên trộm vội vã là những kẻ dễ tìm thấy nhất.

Họ đã trở lại cầu tàu. Lundstrom trao đổi vài câu với một người đồng nghiệp; Wallander hiểu là về chuyện con tàu bị đánh cắp.

Lundstrom quay lại chỗ ông trước bãi để tàu khuất gió.

— Không có lý do nào để giữ anh lại đây. Tôi cho là anh muốn về rồi.

Wallander cảm thấy một nhu cầu đột ngột được nói ra những gì ông đang cảm thấy.

— Lẽ ra chuyện đó không được phép xảy ra. Đó là lỗi của tôi. Lẽ ra chúng tôi đã phải đi từ tối qua.

— Nghe này. Tôi cũng sẽ làm giống hệt anh. Cô ấy đã về đây, nhà cô ấy, một nơi lý tưởng để khiến được cô ấy nói. Anh không thể biết điều gì sẽ xảy ra.

Wallander lắc đầu.

— Lẽ ra tôi phải dự đoán trước được nguy hiểm.

Họ lại đi về phía ngôi nhà. Lundstrom hứa sẽ làm giảm nhẹ những khó khăn trong việc hợp tác giữa Norrkoping và Ystad.

— Chắc một số người sẽ lên tiếng phàn nàn vì không được thông báo về sự có mặt của anh ở chỗ chúng tôi. Nhưng tôi sẽ trông coi để việc đó không đi xa hơn nữa.

Wallander đi tìm cái túi. Tàu của đội gác biển sẽ đưa ông về Fyrudden. Wallander lên boong và vẫy tay chào. Lundstrom đứng trên cầu tàu nhìn con tàu đi xa dần.

Đến cảng, Wallander cho cái túi vào xe và trả tiền đỗ xe. Khi ra khỏi phòng chỉ huy, ông nhìn thấy con tàu của bưu điện đang vào bến và đến mé nước đợi. Khuôn mặt Westin đầy vẻ nghiêm trang.

— Tôi cho là anh đã biết tin, – Wallander nói khi ông đặt chân lên mặt đất.

— Isa đã chết.

— Chuyện xảy ra vào đêm qua. Tiếng hét của cô ấy đánh thức tôi dậy, nhưng đã quá muộn.

Westin nhìn thẳng vào ông một lúc trước khi trả lời.

— Anh muốn nói là chuyện đã không xảy ra nếu bọn anh đi vào tối qua?

Nó đây rồi, Wallander nghĩ. Lời buộc tội mà mình không thể tự biện minh.

Ông rút ví ra.

— Tôi phải trả anh bao nhiêu tiền?

— Không đồng nào.

Westin bắt đầu công việc chuyển đồ xuống. Wallander nhớ ra là mình còn một câu hỏi.

— Giữa 19 và 22 tháng Bảy, tôi nghĩ là anh đã chở một người đến Bamso.

— Tháng Bảy thì ngày nào tôi cũng chở người.

— Một cảnh sát nói giọng Scanie còn nặng hơn tôi. Karl Evert Svedberg. Anh có nhớ cậu ấy không?

— Anh ta có mặc đồng phục cảnh sát không?

— Chắc chắn là không rồi.

— Anh có thể miêu tả anh ta không?

— Đầu hói. Cao gần bằng tôi. Người to lớn. Nhưng không béo. – Westin suy nghĩ.

— Giữa 19 và 22 tháng Bảy à?

— Hẳn là cậu ấy đã lấy tàu trong buổi chiều hoặc buổi tối ngày 19. Tôi không biết khi nào thì cậu ấy đi khỏi đó, nhưng chậm nhất là ngày 22.

— Tôi phải kiểm tra đã. Có thể là tôi đã ghi lại.

Westin trèo lên tàu và đi từ phòng lái ra với một cuốn sổ trên tay.

— Tôi không ghi gì cả, nhưng tôi nhớ mang máng là đã nhìn thấy anh ta trên tàu. Hôm đó có rất nhiều người. Tôi có thể lẫn lộn anh ta với một người khác.

— Nếu anh có máy fax, chúng tôi có thể gửi cho anh một bức ảnh.

— Có một cái ở văn phòng của bưu điện đấy.

Đột nhiên Wallander nghĩ đến một khả năng khác.

— Có thể là anh đã nhìn thấy ảnh cậu ấy trên báo, hoặc vô tuyến. Đó chính là người cảnh sát đã bị sát hại ở Ystad cách đây mấy ngày.

Westin nhíu mày.

— Tôi đã nghe nói chuyện đó. Nhưng tôi không nhớ mặt anh ta.

— Thế thì tôi sẽ gửi ảnh. Nếu anh đưa tôi số máy fax. – Westin ghi số vào cuốn sổ và xé tờ giấy.

— Isa có ở Bamso giữa ngày 19 và 22 tháng Bảy không?

— Tôi không nhớ. Nhưng cô ấy rất hay đến đảo.

— Như vậy là có thể?

— Đúng.

Wallander rời khỏi Fyrudden. Ở Valdemarsvik, ông dừng xe để đổ xăng. Rồi ông lấy đường ven biển đi về phía Nam. Bầu trời trong suốt. Ông hạ cửa kính xuống. Khi đến gần Vastervik, ông hiểu là mình không còn đủ sức để đi tiếp nữa. Ông phải ăn. Và ngủ. Ông dừng xe trước một quán cà phê ven đường, gọi một suất trứng rán, một chai nước và một tách cà phê. Người phụ nữ tiếp ông ở quầy mỉm cười với ông.

— Ở tuổi anh thì rất nên ngủ đêm.

Wallander ngẩng đầu lên.

— Trông rõ thế cơ à?

Cô cúi đầu xuống, lấy từ trong cái túi xách để phía dưới quầy ra một cái gương nhỏ. Cô nói đúng. Trông ông thật nhợt nhạt. Đầu tóc bù xù. Mắt có quầng thâm.

— Đồng ý. Tôi sẽ ăn trứng và ngủ một lúc trong xe.

Ông đi ra ngồi dưới một cái ô to. Cô nhanh chóng xuất hiện cùng cái khay.

— Tôi có một căn phòng sau bếp, – cô nói. – Có một cái giường đấy. Anh có thể ngủ ở đó nếu muốn.

Cô đi khỏi mà không đợi câu trả lời. Wallander ngạc nhiên đưa mắt nhìn theo cô.

Sau khi ăn xong, ông tiến lại gần bếp. Cửa mở.

— Lời đề nghị của cô vẫn còn hiệu lực chứ?

— Tôi không có thói quen thay đổi ý kiến.

Cô chỉ cho ông căn phòng. Một cái giường cắm trại đơn giản, cùng một cái chăn.

— Thế nào thì cũng tốt hơn là ghế ôtô. Nhưng cảnh sát thì ngủ ở đâu cũng được, phải không nào?

— Làm sao cô biết tôi là cảnh sát?

— Khi anh thanh toán, tôi đã nhìn thấy cái thẻ trong ví anh. Tôi từng có chồng là cảnh sát, nên tôi nhận ra ngay.

— Tôi tên là Kurt. Kurt Wallander.

— Erika. Chúc ngủ ngon.

Wallander nằm xuống cái giường. Cả người ông đau nhức, và đầu trống rỗng. Ông phải gọi cho Ystad, báo là ông sắp về. Nhưng ông không đủ sức. Ông nhắm mắt lại và thiếp đi.

Khi tỉnh dậy, ông tự hỏi không biết mình đang ở đâu. Ông nhìn đồng hồ đeo tay. Mười chín giờ. Ông bật ngồi dậy. Ông đã ngủ hơn năm tiếng! Ông chửi thề và bấm số Martinsson. Không có ai. Ông thử bấm số Hansson, anh nhấc máy ngay.

— Anh ở đâu thế, mẹ kiếp! Cả ngày hôm nay chúng tôi chỉ tìm cách gọi cho anh! Tại sao anh không bật điện thoại di động?

— Chắc là có vấn đề về pin. Có chuyện gì không?

— Không, ngoài việc từ sáng đến giờ chúng tôi tự hỏi không biết anh ở đâu.

— Tôi đang trên đường. Tôi đang ở Vastervik, tôi sẽ về đến Ystad vào khoảng hai mươi ba giờ.

Wallander bỏ máy luôn. Ông nhảy dựng khi người phụ nữ có tên Erika hiện ra ở cửa.

— Tôi đã nghĩ là anh cần ngủ, – cô nói.

— Một tiếng là đủ rồi. Lẽ ra tôi phải nhờ cô đánh thức.

— Có cà phê đấy, nhưng không có đồ ăn nóng; tôi đóng cửa quán rồi.

— Gì cơ? Cô đợi tôi dậy à?

— Thì vẫn phải làm mấy việc kiểm kê sổ sách mà.

Họ đi vào cái quán không người. Cô phục vụ ông một tách cà phê và bánh sandwich, rồi ngồi xuống trước mặt ông.

— Tôi đã nghe tin trên đài. Một cô gái bị giết ở vùng quần đảo, được một cảnh sát Scanie phát hiện. Tôi cho rằng đó là anh?

— Đúng. Nhưng tôi không muốn nói chuyện đó lắm. Cô đã từng có chồng là cảnh sát à?

— Thời đó tôi sống ở Kalmar. Sau khi ly dị tôi mới đến đây và mua lại cái quán.

Cô kể cho ông những năm đầu tiên của mình, những khó khăn, cái quán không mang lại nhiều lợi nhuận. Giờ thì mọi việc đã khá hơn. Wallander lắng nghe cô nói. Đúng hơn là ông nhìn cô nói. Nếu dám, ông đã quàng tay ôm lấy cô. Để được neo vào một con người có thật.

Ông ở lại đó nửa giờ. Rồi ông trả tiền và quay ra xe. Cô đi theo ông.

— Tôi không biết phải cảm ơn cô thế nào, – ông nói.

— Tại sao lúc nào cũng phải cảm ơn? Đi đường cẩn thận nhé.

• • •

Wallander về đến Ystad vào lúc hai mươi ba giờ, đúng như dự định, và đi thẳng đến sở nơi công việc đang dồn đống lên. Ông tập hợp các cộng sự của mình vào phòng họp lớn. Nyberg và Lisa Holgersson cũng có mặt. Khi từ Vastervik về, trong đầu ông đã xem xét lại tất cả các sự kiện kể từ khi bắt đầu - kể từ cái đêm ông, thức dậy và lần đầu tiên nghĩ rằng đã có chuyện gì đó xảy ra với Svedberg. Ý nghĩ đã phản bội Isa Edengren không rời khỏi ông. Và ông cũng cảm thấy giận dữ - nhiều lần, khi đang ở trên đường, ông đã tăng tốc mà không hay biết.

Sự giận dữ của ông không chỉ gắn liền với sự kinh hoàng của cuộc giết chóc phi lý đó. Mà còn với một cảm giác thất bại. Họ vẫn không biết phải đi theo hướng nào. Và giờ đây, Isa Edengren đã bị giết, gần như ngay trước mắt ông.

Wallander thuật lại cho họ những sự kiện xảy ra trên đảo. Sau khi đã trả lời những câu hỏi của họ và lắng nghe tóm tắt về tình hình ở Ystad, ông nhìn đồng hồ đeo tay. Đã quá nửa đêm. Đã đến lúc phải kết luận.

— Ngày mai, phải bắt đầu lại mọi việc từ con số không, – ông nói. – Và tiếp tục từ đó. Sớm hay muộn, chúng ta cũng sẽ bắt được kẻ đã làm tất cả những chuyện đó. Chúng ta không có lựa chọn. Nhưng, lúc này, tôi nghĩ là tốt hơn hết là phải ngủ. Cuộc điều tra cho đến giờ rất khó khăn, và không có gì hứa hẹn là sẽ không tiếp tục như vậy.

Ông ngừng lời. Martinsson có vẻ định nói gì đó nhưng rồi lại thôi.

Wallander đi khỏi trước những người khác và đóng cửa phòng lại sau lưng. Sẽ không ai không hiểu là ông muốn được ở một mình.

Ông ngồi vào ghế phô tơi và suy nghĩ đến điều ông đã không nói trong cuộc họp.

Isa Edengren đã chết. Điều đó có nghĩa là kẻ giết người đã đạt được mục đích? Hay hắn sẽ còn tiếp tục?

Không hơn gì các đồng sự của mình, ông không hề hay biết câu trả lời.

không mất nhiều thời gian để phát hiện Svedberg là một nhà sưu tầm. Những chiếc giày và áo vest cũ xơ ra này hẳn đã có tuổi thọ ít nhất là hai mươi năm. Ông tiếp tục cuộc tìm kiếm của mình, một cách có hệ thống. Trong một cái vali, ông tìm
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.