Mưa ngừng không lâu sau nửa đêm.
Ngoài khơi, về phía Bomholm, vẫn còn nhìn thấy những ánh chớp. Nhưng cơn giông đã không đến được Scanie. Khi những giọt nước cuối cùng đã ngừng rơi, Wallander rời khỏi quầng sáng của những ngọn đèn chiếu và đi xuống về phía bóng tối của bờ biển. Quanh khu vực an ninh vẫn còn có người; phía xa hơn, bãi biển vắng như tờ. Ông quay đầu lại hướng mắt về phía những ngọn đèn chiếu sáng chói. Những cái xác đã được mang đi, nhưng Nyberg và người của mình vẫn tiếp tục làm việc.
Ông đi xuống bãi cát để làm việc ông đang cần phải làm hơn mọi việc khác: suy nghĩ, cố sức có được một ý tưởng về những gì đã xảy ra, và cách thức mà họ sẽ phải tiếp tục.
Mưa đã để lại một mùi hương mát dịu. Mùi tảo thối đã biến mất. Ông cảm thấy cái nóng vẫn còn đó, mặc cho cơn mưa rào. Gần như không nghe thấy tiếng sóng. Wallander đi tiểu xuống nước và tưởng tượng ra những viên đường nhỏ màu trắng giống như những tảng băng nhỏ trôi trong những mạch máu của mình. Miệng ông khô khốc một cách thường trực, thỉnh thoảng ông cảm thấy khó khăn trong việc tập trung nhìn các thứ đồ vật và ngỡ là lượng đường trong máu mình đang không ngừng tăng lên.
Tuy nhiên vào lúc này, ông không thể làm gì. Sau chuyện này - khi họ đã bắt được tên giết người - ông sẽ xin nghỉ ốm.
Trừ khi từ giờ đến lúc đó mình không chết vì một cơn đau tim. Ông nhớ lại cái đêm cách đây năm năm, khi ông bị đánh thức bởi một con đau ngực dữ dội, và cứ nghĩ rằng đó là một cơn nhồi máu. Ở bệnh viện, bác sĩ nói đến một ‘cảnh báo’ - mà Wallander đã tìm mọi cách để quên đi.
Cái nhìn của ông dừng lại trên mặt nước. Phía xa, ông nghĩ mình đang nhìn thấy phản chiếu của ánh sáng một con tàu lớn.
Rồi ông tự buộc mình quay trở lại làm cảnh sát. Ông bắt đầu đi dọc bờ nước, chậm rãi, suy nghĩ đến tất cả những chuyện đã xảy ra. Ông tiến lên thật cẩn thận, vì sợ quên mất điều gì đó hoặc đi chệch khỏi cái hướng cần phải theo ở bên trong mình. Ông xây dựng rồi phá bỏ nhiều giả thuyết, kết hợp và tách rời những suy nghĩ tản mát. Ông tưởng tượng mình đang lao theo dấu vết tên giết người; cố cảm thấy sự hiện diện của hắn ngay gần sát mình. Rydberg luôn nói về những dấu vết vô hình mà một tên giết người để lại.
Chúng thường mang tính quyết định.
Với Wallander, không có gì phải nghi ngờ rằng kẻ xuất hiện từ biển, kẻ tắm biển với cái khăn tắm kẻ sọc, chính là tên giết người mà họ đang tìm kiếm. Mặt khác, không có ứng cử viên nào khác. Chính hắn đã trốn trong khu bảo tồn, hắn là sau cái cây đó. Và cả trong căn hộ của Svedberg. Lần này, hắn hiện ra từ biển. - Trên bãi cát hắn đã chôn sẵn khẩu súng. Một chiếc xe đợi hắn ở gần kè.
Wallander đã nói về tất cả những cái đó với các cộng sự của mình, và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nhắc cho các nhân chứng rằng kẻ có cái khăn tắm kẻ sọc đã từng đến bãi biển ít nhất một lần trước đó, và có khả năng đã nhiều lần. Hắn đã ngồi ở đúng chỗ đó, hắn đã đào cát. Có thể việc đó đã diễn ra vào ban đêm, nhưng không nhất thiết. Họ cần có một dấu hiệu. Hắn có cao không? Hay thấp? Hắn có dáng đi đặc biệt không? Bất kỳ chi tiết nào cũng đều quan trọng.
Chắc chắn là hắn phải ở đâu đó, Wallander nghĩ, cuộc điều tra bên ngoài giao nhau với cuộc điều tra bên trong. Nếu không tìm được hắn ở một góc phố, sẽ phải phục kích hắn ở một góc suy luận. Cuối cùng hắn sẽ phải lộ diện, trong đống giấy tờ ngày càng dày thêm lên.
Chắc chắn là hắn phải ở đâu đó.
Wallander cố gắng lần theo cái lôgic đơn giản nhất, cơ bản nhất. Họ biết rằng đó là cùng một kẻ; không có gì cho thấy có nhiều hơn một tên giết người. Họ cũng biết là hắn có rất nhiều thông tin về cuộc đời và các thói quen của các nạn nhân. Nhất là về các bí mật của họ. Wallander đã yêu cầu cảnh sát Malmo lục tìm trong studio của Rolf Haag, người thợ chụp ảnh. Cặp vợ chồng trẻ đã liên lạc với anh ta như thế nào? Họ đã chọn nơi chụp ảnh như thế nào? Cần phải tìm ra cái điểm quyết định sẽ gỡ rối cho toàn bộ cuộc điều tra. Như thể cuộc điều tra là một bức tường mà họ đang tìm kiếm điểm yếu.
Như vậy là tên giết người có rất nhiều thông tin. Nhưng bằng cách nào mà hắn có được các thông tin đó? Và động cơ của hắn là gì? Thứ hai, các vụ giết người ở khu bảo tồn và cặp vợ chồng trẻ chứa đựng một sự giống nhau đáng kinh ngạc trong cả hai trường hợp đều có những người giả trang. Còn có những ngòi nổ chung nào nữa không? Đó là câu hỏi quan trọng nhất. Bằng cách nào có thể kết nối Torbjorn Wemer và Malin Skander với, chẳng hạn, Astrid Hillstrom? Họ vẫn còn chưa biết. Nhưng họ sẽ sớm tìm ra.
Wallander cảm thấy giờ đây mình đã rất gần với việc tìm ra chìa khóa. Ông đã đi lướt qua bên cạnh nó; nhưng ông không thể nắm được nó. Chưa. Có thể lời giải thích hết sức đơn giản, ông nghĩ. Đơn giản đến mức mình không tìm ra nổi. Giống như khi người ta đi tìm cặp kính đang nằm ngay trên mũi.
Ông chậm rãi đi ngược trở lại. Những ngọn đèn chiếu sáng chói phía xa. Ông quyết định tạm thời thay đổi hướng đi và đi theo Svedberg. Anh đã để ai vào nhà? Louise là ai? Ai đã gửi những tấm bưu ảnh từ nhiều thành phố khác nhau ở châu Âu? Cậu biết gì, mẹ kiếp? Tại sao cậu không muốn nói cho tôi? Mà theo Ylva Brink, tôi chính là bạn thân nhất của cậu.
Ông lại đứng sững. Câu hỏi mà ông vừa đặt bỗng nhiên có một tầm quan trọng to lớn. Tại sao Svedberg không muốn nói gì với ông? Chỉ có một cách giải thích khả dĩ: Svedberg hy vọng là mình nhầm. Anh ngờ đến một sự thật khủng khiếp, và anh sợ những lo ngại của mình là đúng.
Không có khả năng nào khác.
Svedberg đã nhìn đúng. Những lo ngại của anh có cơ sở; anh đã bị giết vì lẽ đó.
Wallander quay lại khu vực an ninh, nơi những kẻ hiếu kỳ vẫn đứng xem đoạn vĩ thanh của cảnh tượng bi thảm mà họ không được chứng kiến tận mắt.
Đến chỗ mấy đụn cát, ông nhìn thấy Nyberg đang ghi chép vào trong cuốn sổ.
— Có dấu vết những bước chân. Chính xác hơn là những bàn chân, vì tên giết người không đi giày.
— Anh thấy gì?
Nyberg cho cuốn sổ vào túi.
— Người thợ chụp ảnh đã bị giết đầu tiên, điều đó thì không cần phải nghi ngờ. Viên đạn đi xuyên từ gáy lên. Điều đó có nghĩa là anh ta quay lưng về phía tên giết người. Nếu phát súng đầu tiên dành cho cặp vợ chồng, hẳn người thợ chụp ảnh đã phải quay đầu lại, và sẽ bị bắn vào giữa mặt.
— Sau đó?
— Khó nói lắm. Tôi cho là chú rể bị giết ngay sau đó - một người đàn ông xét về tiềm năng là đáng lo ngại hơn. Sau đó là cô gái.
— Điều gì khác?
— Không có gì ngoài những điều chúng ta đã biết. Kẻ giết người bắn rất giỏi.
— Tay hắn không run à?
— Không chút nào.
— Như vậy là anh nhìn thấy một tên giết người lạnh lùng, hắn biết điều mà hắn muốn?
Nyberg nhìn thẳng vào mặt ông vẻ u ám.
— Tôi nhìn thấy một kẻ bệnh hoạn hoàn toàn băng giá.
Nyberg không còn chi tiết quan trọng nào để thông báo cho ông vào lúc này. Wallander đi về phía một chiếc xe cảnh sát và yêu cầu được đưa về Ystad. Sự có mặt của ông trên bãi biển không còn có ích gì nữa.
Về đến sở cảnh sát, ông nhận ra là các máy điện thoại trong phòng trực đổ chuông không ngừng. Một cảnh sát phụ trách nghe điện thoại ra hiệu bảo ông lại gần. Wallander chờ đợi trong khi anh ta nói xong câu chuyện. Có vẻ như là có một người bị dừng xe ở Svarte vì lái xe trong tình trạng say sưa, và người cảnh sát hứa sẽ cử một đội tuần tra đến nơi nhanh nhất có thể được. Wallander biết chiếc xe đó sẽ không bao giờ đến Svarte, ít nhất là trong hai mươi tư giờ nữa.
— Có một cú điện thoại của cảnh sát Copenhagen. Của một người tên là Kjaer. Hoặc Kraemp.
— Anh ta muốn gì?
— Nói chuyện với anh. Tôi nghĩ là về bức ảnh mà chúng ta đã gửi cho họ.
Wallander cầm lấy tờ giấy ghi tên và số điện thoại của người cảnh sát Đan Mạch. Không buồn cởi áo vest, ông ngồi xuống bàn làm việc của mình và bấm số. Người Đan Mạch đã gọi cho ông không lâu trước nửa đêm; có thể Krajer hoặc Kraemp vẫn còn ở đó. Một cảnh sát trực đêm nhấc máy. Wallander tự giới thiệu và kiên nhẫn chờ.
— Kjaer nghe đây.
Wallander bối rối; ông không hề chờ đợi nghe thấy giọng của một phụ nữ.
— Kurt Wallander từ Ystad. Cô đã tìm cách gặp tôi.
— Xin chào. Đó là về việc bức ảnh một phụ nữ có tên Louise. Có hai người đã thông báo nhận ra cô ta.
Nắm đấm của Wallander đập mạnh xuống bàn.
— Cuối cùng!
— Tôi đã đích thân nói chuyện với một người. Ông ta có vẻ rất chắc chắn. Ông ta tên là Anton Bakke và là người phụ trách truyền thông của một hãng sản xuất đồ nội thất văn phòng.
— Ông ta biết cô ta?
— Không. Nhưng ông ta khẳng định đã nhìn thấy cô ta, ở đây, Copenhagen. Trong một quán bar gần ga trung tâm. Ông ta đã nhìn thấy cô ta nhiều lần.
— Chúng ta nhất định phải nói chuyện với người phụ nữ đó.
— Cô ta bị nghi ngờ điều gì đó à?
— Cô ta xuất hiện trong khuôn khổ một vụ án mạng. Chính vì thế mà chúng tôi đã chuyển bức ảnh sang bên đó.
— Tôi đã nghe chuyện rồi. Các thanh niên tổ chức tiệc tùng trong một công viên. Và một cảnh sát.
Wallander thông báo các sự kiện trong ngày cho cô.
— Như vậy là ông nghĩ người phụ nữ đó có dính dáng?
— Không nhất thiết. Nhưng tôi có nhiều câu hỏi cần đặt cho cô ta.
— Nhiều đợt, Bakke hay đến quán bar đó nhiều lần trong tuần, ông ấy nhìn thấy cô ta gần như cứ hai lần một, ông ta nói thế.
— Cô ta chỉ có một mình à?
— Ông ấy không chắc, nhưng có vẻ như cô ta đi cùng ai đó.
— Cô có hỏi lần cuối ông ấy nhìn thấy cô ta là khi nào không?
— Có, lần cuối đó là vào giữa tháng Sáu.
— Cô nói là có một người thứ hai cũng báo tin à?
— Một tài xế taxi khẳng định đã chờ cô ta ở đây, Copenhagen cách đây vài tuần.
— Một tài xế taxi thường lẫn lộn những người khách của mình…
— Ông ấy nhớ cô ta vì cô ta nói tiếng Thụy Điển.
— Ông ấy có đến đón cô ta ở một địa chỉ nào đó không?
— Không, cô ta đã vẫy xe ông ấy trên phố, giữa đêm. Đúng hơn là lúc sáng sớm, khoảng bốn giờ rưỡi. Cô ta phải bắt chuyến phà đầu tiên đi Malmo.
Wallander cố gắng có được một quyết định. Người phụ nữ đó, Louise, vẫn rất quan trọng. Nhưng đến mức độ nào? Sau một lúc suy nghĩ, ông quyết định mình phải tìm được cô ta nhanh chóng nhất có thể được. Việc này không thể chờ được nữa.
— Chúng tôi không thể yêu cầu bên đó bắt cô ta, – ông nói. – Nhưng các bạn phải mang cô ta về sở và giữ cô ta lại cho đến khi ai đó trong số chúng tôi đến được nơi. Chúng tôi cần nói chuyện với cô ta. Hiện tại thì chỉ có thế. Chúng ta sẽ biết chuyện này dẫn đến đâu.
— Cái đó thì không có vấn đề gì, nhưng sẽ phải có một lý do…
— Báo tin cho tôi ngay khi cô ta xuất hiện trở lại ở quán bar nó. Mà nó tên là gì?
— L’Amigo.
— Tiếng tăm thế nào?
— Tốt, theo chỗ tôi biết. Ngay cả khi nó nằm ở khu Istedgade, sau nhà ga.
— Cám ơn vì sự giúp đỡ.
— Chúng tôi sẽ gọi lại cho anh ngay khi cô ta xuất hiện. Chúng tôi cũng có thể báo trước cho nhân viên của quán. Biết đâu ai đó biết cô ta sống ở đâu chăng?
— Không, nguy cơ cô ta biến mất là quá lớn.
— Anh đã nói rằng cô ta không bị nghi ngờ điều gì?
— Đúng thế. Nhưng tôi có thể nhầm.
Kjaer đã hiểu. Wallander ghi lại tên đầy đủ của cô - tên cô là Lone – và nhiều số điện thoại.
Ông bỏ máy. Khi đó là một giờ rưỡi. Ông nặng nề đứng dậy và đi vào toalet. Rồi ông uống nước ở căng tin.
Vài chiếc sandwich khô khốc nằm lăn lóc trên một cái đĩa. Ông cầm lấy một cái vào đúng lúc nghe thấy trong hành lang giọng Martinsson nói chuyện với một cảnh sát Molmo. Họ bước vào căng tin nơi Wallander đang đứng ăn chiếc sandwich.
— Có gì mới không?
— Không ai nhìn thấy gì hết, ngoài người đàn ông từ biển hiện ra.
— Chúng ta có dấu hiệu gì chưa?
— Chúng tôi đang chuẩn bị ráp nối các thông tin đây.
— Những người khác đâu rồi?
— Hansson vẫn ở bãi biển. Ann-Britt Hoglund phải về nhà, con gái cô ấy bị nôn.
— Cảnh sát Đan Mạch gọi điện. Họ đã tìm thấy Louise.
— Chắc chắn không?
— Có vẻ.
Wallander lấy một cốc cà phê. Martinsson chờ đoạn sau.
— Họ bắt được cô ta chưa?
— Không đủ chứng cứ. Nhưng cô ta đã bị nhìn thấy bởi một tài xế taxi và trong một quán bar. Việc đăng bức ảnh trên báo đã mang lại kết quả.
— Cô ta tên là Louise thật à?
— Cái đó thì chúng ta chưa thể biết được.
Wallander ngáp, Martinsson ngáp. Một trong các cảnh sát Malmo dụi mắt.
— Phải tóm tắt tình hình. – Wallander nói.
— Cho chúng tôi mười lăm phút để ráp nối tất cả các thông tin. Hơn nữa tôi nghĩ Hansson sắp về đến nơi rồi đấy. Nếu cần chúng ta có thể gọi điện về nhà Ann-Britt.
Wallander cầm cốc cà phê về phòng mình. Ông vẫn chưa cởi áo vest. Khi ngồi xuống, ông làm đổ cà phê xuống ống tay áo. Ông đặt mạnh cái cốc xuống, cởi áo vest ra và ném nó vào một góc. Trên thực tế, ông nghĩ, mình đang nghĩ nó là tên giết người.
Ông kéo về phía mình một tập giấy trên đó những đoạn ghi chép xen kẽ với hình những người bị treo cổ. Ông tìm thấy một trang giấy trắng và ghi vào ba câu hỏi:
Làm thế nào mà hắn có được thông tin?
Động cơ của hắn là gì?
Tại sao lại là Svedberg?
Ông ngồi sâu vào ghế phôtơi và nhìn những gì mình vừa viết. Ông không thấy hài lòng. Ông lại cúi xuống và viết thêm bốn dòng.
Tại sao kính viễn vọng của Svedberg lại ở nhà ông anh họ? Tại sao hắn lại căm thù những người cải trang?
Tại sao Isa Edengren?
Điểm quyết định là gì?
Đã rõ ràng hơn. Nhưng còn thiếu điều gì đó.
Louise thường sang Copenhagen. Cô ta nói tiếng Thụy Điển. Một giáo phái?
Bror Sundelius.
Lennart Westin đã nói gì trong khoang lái?
Được rồi, ông đã tóm tắt được tình hình. Một kẻ rời khỏi mặt nước. Một kẻ không run tay. Một xạ thủ giỏi.
Wallander đi đến tường và nhìn bản đồ Scanie. Trước hết là Hagestad. Giờ đây là Nybrostrand. Giữa hai nơi: Ystad. Một vùng rất hẹp, tự bản thân không có chỉ dẫn nào. Wallander lấy sổ và đi vào phòng họp. Những khuôn mặt kiệt sức. Những quần áo nhàu nhĩ, những cơ thể nặng nề. Và có thể là tên giết người đang ngủ, ông nghĩ. Trong khi chúng ta dò dẫm tìm những dấu vết của hắn.
Họ tóm tắt tình hình. Không ai nhìn thấy chiếc xe nào. Không có kẻ giết người tiềm năng nào xuất hiện, điều tự bản thân nó rất quan trọng. Không ai có thể trốn mãi ở nơi những bức ảnh vừa được chụp, cũng không thể đến được nơi có vẻ như là chiếc xe đã được đỗ lại. Hai nhân chứng, những người ở khu cắm trại, đã nhìn thấy cặp vợ chồng đến cùng người thợ chụp ảnh, và không có ai khác.
Vào lúc đó, không có ai, chỗ đó vắng như tờ.
Vấn đề đặc điểm nhận dạng phức tạp hơn nhiều. Họ đã tìm cách ráp nối tất cả những chỉ dẫn mà các nhân chứng cung cấp. Nhưng hình ảnh tổng thể vẫn còn mờ nhạt. Kẻ mà họ đang tìm kiếm vẫn vuột đi mất. Nhiều lần Martinsson gọi điện cho Ann-Britt Hoglund ở nhà cô để bàn về các thông tin mà về phần mình cô có được.
Cuối cùng, họ buộc phải đi đến điều hiển nhiên: họ không tiến lên được nữa. Wallander liếc qua các ghi chép của mình.
— Nói tóm lại, chúng ta có được một dấu hiệu rất mâu thuẫn, tóc hắn ngắn hay hắn bị hói? Có nhiều ý kiến về vấn đề này. Giả sử hắn có tóc, thì chúng ta cũng không biết là màu gì. Về khuôn mặt, có vẻ như là tất cả mọi người đều nhất trí rằng nó không tròn, mà hơi dài. ‘Kiểu mặt ngựa’ là từ xuất hiện hai lần. Hơn nữa, tất cả mọi người đều khẳng định da hắn không rám nắng. Hắn có chiều cao trung bình; cái đó cũng gần như chiếm tuyệt đại đa số các ý kiến. Nhưng cũng không ích gì, ngoài việc biết được đó không phải là một thằng lùn, cũng không phải một tên khổng lồ. Có vẻ hắn không béo. Dáng đi của hắn không có gì đặc biệt. Dĩ nhiên là không ai nhìn thấy màu mắt hắn. Một người đàn ông dắt chó đi dạo đã đi qua cách hắn khoảng năm mét. Không ai nhìn thấy hắn từ khoảng cách gần. Về tuổi tác thì hoàn toàn rối tung. Các miêu tả đi từ hai mươi đến sáu mươi tuổi. Một đa số không tuyệt đối xếp hắn ở giữa ba mươi lăm và bốn mươi lăm. Nhưng vẫn còn lại một giả thuyết.
Wallander đẩy cuốn sổ ra.
— Nói một cách khác, chúng ta không có dấu hiệu nào cả. Chúng ta biết rằng đó là một kẻ không có dấu hiệu đặc biệt nào, da không rám nắng. Tất cả những gì còn lại đều mâu thuẫn.
Im lặng đè nặng xuống bàn như một cái áo lễ. Wallander hiểu là mình phải làm biến đổi bầu không khí này ngay lập tức.
— Tuy nhiên, thật đáng chú ý vì chúng ta đã có thể tập hợp được tất cả những thông tin đó trong từng đó thời gian. Tiếp tục làm việc vào ngày mai, chúng ta sẽ có thể dựng lại được rất nhiều điều. Hơn nữa, chúng ta có thể khẳng định một cách chắc chắn là chúng ta vẫn tìm kiếm hắn, và cái đó vô cùng quan trọng. Thậm chí đã là một đột phá mang tính quyết định.
Cái đó là điểm đầu tiên. Sau đó, ông tóm tắt cho họ cuộc nói chuyện với Lone Kjaer ở Copenhagen. Người phụ nữ trong bức ảnh chân dung vẫn chưa được nhận diện, nhưng người ta đã xác định được vị trí của cô ta! Đó là điểm thứ hai.
Khi đó là ba giờ kém hai mươi phút. Họ nhanh chóng chia tay nhau. Chỉ có Martinsson nán lại. Thiếu ngủ khiến mặt anh xám xịt.
— Interpol và FBI đã bắt đầu gửi tài liệu về Divine Movers cho chúng ta. Có lẽ đó là một nhóm ly giáo thoát thai từ một giáo phái khác có cái tên rất kỳ cục, ‘Những người con gái của chúa Jesus’, và cái đó đến lượt nó lại bắt nguồn từ một phong trào khác, thần thoại Hy Lạp và những thứ khác nữa. Sáng lập là một thầy tu Thiên chúa giáo Uruguay đã bị tước bỏ các chức vụ vì bị điên. Trong trại điên, ông ta nhìn thấy nhiều viễn tượng và khải ngộ. Sau một thời gian, ông ta được thả ra, đừng hỏi tôi tại sao, và đã lập ra phong trào đó.
— Điều mà chúng ta quan tâm, – Wallander ngắt lời, – là bạo lực. Thành viên của giáo phái này trước đây đã từng gây ra các vụ hành hung chưa?
— Theo các thông tin mà tôi có thì chưa, nhưng tôi sẽ nhận được nhiều hơn, cả từ Washington và Brussels. Tôi đang định xem thêm sau cuộc họp.
— Không, cậu về nhà ngủ đi.
— Tôi cứ nghĩ chuyện đó quan trọng?
— Đúng. Nhưng chúng ta không có thời gian để làm mọi chuyện. Bây giờ chúng ta phải tập trung vào Nybrostrand. Lần này thằng điên của chúng ta không đi trước nhiều đâu.
— Anh đổi ý rồi à?
— Tại sao?
— Anh nói đến một thằng điên.
— Một kẻ giết người là một kẻ loạn óc điên khùng. Nhưng hắn cũng có thể rất tính toán và hèn nhát. Hắn rất có thể cũng giống hệt cậu và tôi.
Martinsson gật đầu nhưng không nén nổi một cái ngáp.
— Tôi về đây, – anh nói. – Tại sao tôi lại trở thành cớm nhỉ?
Wallander không trả lời. Ông đi lấy một cốc cà phê khác trong khi đã bắt đầu thấy đau bụng, nhặt áo vest và đứng một lúc, đầy do lự, ông quá kiệt sức để có thể suy nghĩ. Nhưng chắc chắn là cũng quá kiệt sức để có thể ngủ.
Ông ngồi lại xuống ghế phôtơi. Cạnh điện thoại, đột nhiên ông nhìn thấy một tin nhắn nói ông phải gọi lại cho Linda. Có thể là quán nơi cô làm việc vẫn còn mở chăng? Ông quyết định không thử. Ông không còn đủ sức nữa.
Dưới mấy thứ tài liệu, ông nhìn thấy bức ảnh chân dung Louise. Ông nhìn nó. Cảm giác có điều gì đó không ổn trở lại. Một cách lơ đãng, ông nhét bức ảnh vào túi áo vest và gác chân lên bàn.
Ông nhắm mắt lại để cho chúng nghỉ ngơi khỏi ánh đèn và thiếp đi gần như ngay lập tức.
• • •
Ông bật dậy. Vào một lúc, trong lúc ngủ, ông đã rút chân khỏi bàn; một cơn chuột rút đã đánh thức ông. Khi đó là bốn giờ kém mười phút. Ông đã ngủ gần một tiếng. Cả người ông đau nhức. Ông ngồi bất động một lúc lâu, đầu không nghĩ gì. Rồi ông vào toalet và rửa mặt. Trước đó, ông đã lục hết các ngăn kéo mà không tìm ra một cái bàn chải đánh răng.
Ông vẫn tiếp tục cảm thấy sự do dự nặng nề đó. Ông phải ngủ, dù chỉ vài giờ. Ông cần tắm và thay quần áo. Ông rời khỏi sở.
Cơn gió rất ấm. Ông đi bộ qua thành phố hoang vắng. Khi về đến Mariagatan, ông quyết định lùi giấc ngủ lại sau. Khi đó là bốn giờ sáng. Ông sắp có thể đến bấm chuông nhà Bror Sundelius. Cựu chủ ngân hàng đã rất rõ ràng về các thói quen buổi sáng của mình: lúc nào cũng thức, cạo râu và mặc quần áo ngay từ năm giờ. Wallander không từ bỏ hướng đi liên quan đến mối liên hệ giữa Svedberg, Sundelius và một lá đơn khiếu nại của mười một năm trước; có thể điều đó sẽ đưa ông đến gần với bí mật của Svedberg chăng?
Quyết định đó kích thích xuất hiện một quyết định khác. Ông lấy xe và rời khỏi thành phố, đi về hướng Nybrostrand. Vào giờ này những kẻ hiếu kỳ chắc đã đi khỏi. Chỉ có những cảnh sát trực còn ở đó. Wallander biết mình thường phát hiện những chi tiết mới khi quay trở lại, một mình, tại hiện trường một vụ án.
Ông chỉ mất vài phút đi đường. Đúng như dự đoán, tất cả đều yên tĩnh quanh khu vực an ninh. Một người đang ngủ sau vôlăng. Bên ngoài, một cảnh sát đang hút thuốc. Khi tiến lại gần để chào, Wallander nhận ra đó chính là người đã đứng gác ở lối vào khu bảo tồn vài hôm trước. Trong cuộc điều tra này một số chi tiết không ngừng quay trở lại.
— Mọi thứ bình thường chứ?
— Những người tò mò cuối cùng đã đi khỏi cách đây một lúc. Tôi không biết họ chờ đợi gì nữa.
— Theo tôi thì không có gì. Chỉ là cảm giác ở liền kề sự kinh hoàng và biết là nó không động chạm gì đến mình.
Ông nhảy qua sợi dây ngăn. Một cái máy chiếu đơn độc đang rọi sáng mặt cỏ bị giẫm lên đến nhàu nhĩ. Wallander đứng ở nơi người thợ chụp ảnh đã đứng. Rồi ông chậm rãi quay trở lại và xuống đến cái hố đào trong cát - cũng rất nhỏ và được phủ lên một mảnh bạt. Kẻ ngồi ở đó, trên cái khăn tắm kẻ sọc, biết tất cả, Wallander nghĩ. Hắn không chỉ có rất nhiều thông tin; hắn còn biết chi tiết mọi chuyện sẽ diễn ra như thế nào; như thể chính hắn tham gia xây dựng kế hoạch vậy.
Liệu có thể là như thế chăng? Giả định rằng Rolf Haag có một trợ lý biết chi tiết kế hoạch buổi chụp ảnh, thì tay trợ lý đó làm cách nào để biết về bữa tiệc trong khu bảo tồn? Làm thế nào mà hắn biết được đảo Bamso? Và hắn có thể có quan hệ gì với Svedberg?
Wallander tạm thời gác ý nghĩ đó lại, nhưng vẫn không quên hẳn đi. Ông đi về phía những đụn cát và cố sức hình dung ra một dạng nạn nhân - những người trẻ tuổi ăn mặc giả trang - trong đó Svedberg là ngoại lệ. Nhưng ngoại lệ này có thể giải thích được: Svedberg không thực sự là một nạn nhân, anh không thuộc vào kế hoạch của tên giết người. Chỉ đơn giản là anh trở thành vật ngáng đường của hắn; anh đã vượt qua một ranh giới vô hình.
Đột nhiên Wallander nghĩ rằng có thể đó cũng là trường hợp của người thợ chụp ảnh. Anh ta không thuộc vào số những nạn nhân được lên kế hoạch; anh ta chỉ đơn giản là một trở ngại trong mắt tên giết người. Còn lại sáu người trẻ tuổi ăn mặc giả trang. Sáu người hạnh phúc đang tổ chức tiệc tùng. Ông nghĩ đến những lời của Nyberg. Chắc là thằng điên đó không thích những người hạnh phúc. Cho đến lúc này, mọi chuyện đều ăn nhập với điều đó. Một bộ mặt tương thích. Nhưng điều đó chưa đủ. Ông đi ngược lại đến con đường nơi tên giết người hẳn là đã để xe. Cả nơi đó nữa cũng được chọn rất khéo. Không có ngôi nhà nào ở gần. Không có nhân chứng.
Ông quay lại bằng con đường đó. Người cảnh sát vẫn hút thuốc.
— Tôi vừa nghĩ đến những gì chúng ta nói lúc nãy. (Anh ta dụi điếu thuốc xuống cát.) Tất cả những người tò mò đó: tôi cho là chúng ta cũng sẽ làm vậy nếu không phải là cảnh sát.
— Hẳn rồi. – Wallander nói.
— Chúng tôi nhìn thấy nhiều tay kỳ cục lắm. Một số thậm chí còn vờ tỏ ra là không mấy quan tâm, nhưng điều đó không ngăn cản họ ngồi lại đó nhiều giờ liền. Một trong số những người cuối cùng đi khỏi là một phụ nữ; cô ta đã ở đó khi tôi đến thay ca.
Wallander lơ đãng lắng nghe. Khi phải chờ đến năm giờ thì tại sao lại không phải là ở đây?
— Thoạt đầu, tôi cứ nghĩ đó là một người mà tôi có quen, người cảnh sát tiếp tục. Mà tôi đã nhìn thấy. Nhưng hóa ra lại không phải.
Những câu nói đó chầm chậm thấm vào tâm trí Wallander.
— Cậu vừa nói gì?
— Tôi nghĩ là có nhận ra người phụ nữ nhìn tôi ở bên kia dây ngăn. Nhưng tôi đã nhầm.
— Cậu tin là đã nhìn thấy cô ta, cậu đã nói thế phải không?
— Tôi cứ nghĩ cô ta là ai đó trong gia đình tôi.
— Khác hẳn chứ, nhận ra ai đó và đơn giản là nghĩ đã từng nhìn thấy người đó?
— Trông cô ta quen lắm. Cái đó thì chắc chắn.
Wallander nghĩ điều này thật là điên rồ. Tuy thế ông vẫn rút bức ảnh chân dung của Louise ra.
— Nhìn bức ảnh này đi.
Người cảnh sát có một cái đèn pin. Anh ta chiếu vào bức ảnh và nhìn nó. Rồi anh ta nhìn lên Wallander.
— Làm sao anh biết được chính là cô ta?
Wallander nín thở.
— Cậu có chắc không?
— Vâng, tất nhiên rồi. Tôi tin là đã nhìn thấy cô ta mà.
Wallander thầm chửi thề. Một cảnh sát nhiều kinh nghiệm hơn hẳn là đã có thể nhận diện được cô ta và tìm cách giữ cô ta lại. Cùng lúc, ông biết rằng điều đó là bất công. Có rất nhiều người quanh vòng dây; dù sao thì anh chàng thanh niên này cũng đã nhận ra cô ta và nhớ được mặt.
— Cô ta ngồi ở chỗ nào?
Người cảnh sát soi đèn vào một chỗ, về phía bờ nước.
— Cô ta ở đây trong bao lâu?
— Nhiều giờ.
— Cô ta chỉ có một mình à?
Người cảnh sát suy nghĩ.
— Vâng.
Anh ta có vẻ chắc chắn vào câu trả lời của mình.
— Và cô ta là người cuối cùng đi khỏi?
— Dù thế nào thì cũng là một trong những người cuối cùng.
— Theo hướng nào?
— Về phía khu cắm trại.
— Cậu có thấy cô ta đi về phía một cái lều hay một cái xe caravan không?
— Tôi không nhìn được chính xác cô ta đi đâu. Nhưng trông cô ta không giống những người đến các khu cắm trại.
— Những người đến các khu cắm trại trông như thế nào? Đúng hơn là trông cô ta thế nào?
— Cô ta mặc đồ màu xanh. Tôi nghĩ là giống như một bộ vest. Những người ở khu cắm trại thường mặc đồ mỏng.
— Khi cô ta trở lại, báo ngay cho tôi. Chuyển thông tin này cho người đến thay anh một lúc nữa. Anh có ảnh cô ta trong xe không?
— Tôi có thể đánh thức anh ấy dậy để hỏi.
— Không cần đâu.
Wallander đưa cho anh ta bức ảnh mà ông đang cầm trên tay. Rồi ông đi khỏi. Sắp năm giờ. Sự mệt mỏi của ông đã giảm bớt mức độ. Cảm giác chạm đến đích giờ đây đã rất mạnh.
Người phụ nữ có tên Louise không phải là người mà họ tìm kiếm.
Nhưng cô ta biết danh tính tên giết người.