Chậm Một Bước

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 42 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
32

❊ ❊ ❊

Điều đầu tiên đập vào các giác quan của ông là mùi vị.

Ông đã ngửi thấy nó ngay ở phòng để quần áo. Nyberg vẫn ở ngoài thềm. Cái mùi vây lấy ông, rất nặng.

Rồi ông hiểu ra: đó là mùi của sự lưu cữu.

Căn hộ đã không được thông gió từ rất lâu. Không khí đã hoàn toàn ủng ra.

Ông ra hiệu bảo Nyberg vào. Nyberg rất do dự. Nhưng cuối cùng ông cũng quyết định và đóng cửa lại sau lưng. Wallander bảo ông chờ trong khi đi vòng quanh căn hộ. Ba phòng và một bếp nhỏ.

Tất cả đều rất ngăn nắp. Ngược hẳn lại với chất lượng tồi tệ của không khí.

Một trong những cánh cửa khác hẳn với những cái khác. Có vẻ như là nó được đặt làm. Khi mở nó ra, Wallander nhận ra nó rất dày. Điều đó làm ông nhớ đến cửa các studio, khi có lúc ông được mời đến đài phát thanh. Ông bước vào. Cả căn phòng có cái gì đó rất lạ. Không có cửa sổ. Những bức tường dày ngang với cái cửa. Chỉ có một cái giường và một ngọn đèn. Giường thẳng thớm, nhưng chăn mang dấu vết rõ ràng của một người nằm. Mất một lúc ông mới hiểu ra cảm giác về sự lạ lùng đến từ đâu: căn phòng được cách âm. Một cái xe đi qua dưới phố. Ông đóng cửa lại. Âm thanh biến mất ngay lập tức. Tư lự, ông rời khỏi phòng và đi xem các phòng khác. Cái mà ông muốn tìm thấy trước hết là một bức ảnh chụp người đàn ông sống ở đây. Ông không tìm được cái nào. Ngược lại, vô số giá để những bức tượng sứ và những thứ đồ nhỏ nhặt sắp xếp một cách cẩn thận. Ông đứng im trong phòng khách. Một sự khó ở khác vừa chiếm lĩnh con người ông. Cảm giác đã hành động trái với quyền của mình. Ông đã phá cửa để vào một căn hộ nơi ông không có việc gì để làm. Ngoài không khí tù đọng, nơi này tạo ra cảm giác về sự yên tĩnh có trật tự. Ông phải đi khỏi đây. Nhưng điều gì đó đã giữ ông lại.

Ông ra gặp Nyberg vẫn đứng ở lối vào

— Năm phút nữa, – ông nói. – Không hơn.

Nyberg không trả lời. Wallander bắt đầu tìm kiếm. Ông biết mình tìm cái gì: một cái tủ quần áo. Ông tìm thấy ba cái, và lần lượt mở chúng ra. Hai cái đầu tiên chỉ đựng quần áo đàn ông. Ông sắp đóng cửa cái thứ ba lại thì một chi tiết làm ông chú ý. Ông đẩy vài cái mắc áo sơ mi ra; đúng, quả là có gia cố. Ông luồn một tay ra sau và lôi ra được một cái váy đỏ. Ông đứng sững, cái váy cầm trên tay. Chăm chú, cảnh giác. Ông bắt đầu lục tìm một cách có phương pháp các ngăn tủ. Lần mò bên trong các ngăn kéo - những thứ đồ lót được gấp cẩn thận. Cảm giác phải làm thật nhanh, thời gian rất gấp, không rời khỏi ông. Cuối cùng ông tìm được cái ông tìm: quần áo lót phụ nữ, được giấu rất kỹ. Ông quay lại những cái tủ quần áo, bò bốn chân và tìm ra được giày phụ nữ. Ông rất để ý không để lại dấu vết. Nyberg bước vào phòng khách. Wallander thấy rõ là ông đang rất giận dữ. Hoặc có thể là nỗi sợ. - Gần mười lăm phút rồi đấy. Chúng ta đang làm cái quái gì ở đây thế này?

Wallander không trả lời. Ông thử mở ngăn kéo bàn làm việc.

Khóa chặt. Ông ra hiệu cho Nyberg, người ngay lập tức phản đối.

Wallander bảo ông im miệng và cung cấp lời giải thích ngắn nhất mà ông có thể tìm ra.

— Đây là căn hộ của Louise, – ông nói. – Người phụ nữ trong ảnh. Người phụ nữ ở Copenhagen. Người phụ nữ không tồn tại. Cô ta sống ở đây.

— Lẽ ra anh phải nói sớm hơn chứ.

— Tôi vừa mới hiểu ra. Anh có thể phá cái ngăn kéo này mà không để lại dấu vết chứ?

Nyberg bắt tay vào việc. Wallander mở cái nắp.

Ông vẫn thường nghĩ rằng công việc của cảnh sát được đặc trưng hóa bởi một loạt những mong muốn không được thực hiện.

Ngay cả sau này, ông cũng không bao giờ nói được mình chờ đợi điều gì khi mở cái ngăn kéo. Dù sao thì cũng không phải là những gì mà ông phát hiện được.

Một cặp tài liệu nhựa đựng những bài báo được cắt ra. Tất cả các bài liên quan đến cuộc điều tra. Cũng như thông báo về cái chết của Svedberg, mà đến giờ Wallander mới nhìn thấy lần đầu. Nyberg đứng cách một quãng, chờ đợi.

— Chúng ta có hai khả năng, – Wallander nói. – Hoặc chúng ta đi khỏi đây và cho theo dõi tòa nhà. Hoặc chúng ta gọi vài cú điện thoại và lục soát căn hộ ngay tối nay.

— Hắn đã giết tám người. Hắn có vũ khí. Hắn nguy hiểm.

Thậm chí Nyberg không hề nghĩ đến sự nguy hiểm. Quyết định đến ngay lập tức: báo động ở mức độ cao nhất. Nyberg đóng cái ngăn kéo lại. Wallander đã nhìn thấy mấy cái cốc bẩn trong bếp.

Ông bọc một trong số chúng vào giấy thấm và cho vào túi. Ông sắp rời khỏi bếp thì nhận ra là có một cánh cửa phụ. Khi tiến lại gần, ông nhận ra là nó mở hé.

Nỗi sợ hiện ra ngay tức khắc. Ai đó có thể sẽ mở bật cánh cửa đó và chĩa một khẩu súng vào. Nhưng không có gì tương tự xảy ra. Wallander đẩy nó thật nhẹ. Cầu thang không một bóng người. Nyberg đã ra khỏi căn hộ bằng cửa bên kia. Wallander ra chỗ ông. Trên bậc thềm mọi thứ đều im phăng phắc. Nyberg cẩn thận đóng cửa lại và chiếu đèn pin lên nẹp cửa.

— Có vài vết xước. Nhưng khó nhìn lắm, tất nhiên là trừ khi người ta tìm kiếm chúng.

Wallander nghĩ đến cánh cửa mở hé. Nhưng ông không nói gì.

Họ xuống đến cái phố vắng tanh. Nyberg đã đỗ xe gần nhà hát. Họ im lặng quay về sở. Một giờ rưỡi.

— Chúng ta phải gọi điện cho ai đây? – Nyberg hỏi khi họ vào đến chỗ tiếp tân.

— Tất cả mọi người. Kể cả Thurnberg và Lisa Holgersson.

— Theo dõi tòa nhà chứ?

— Xe thường nhé, với những người hiểu được mức độ nghiêm trọng của tình hình. Chúng ta sẽ quyết định khi nào mọi người đều đã có mặt.

Họ chia nhau gọi điện. Wallander chạy về phòng và bắt đầu bằng việc gọi cho Martinsson. Người mà ông cần nhất là anh.

Trong mười phút sau đó, ông nói chuyện với nhiều người đang say ngủ nhưng tỉnh rất nhanh khi hiểu chuyện gì đang xảy ra. Martinsson đến đầu tiên, theo sau là Ann-Britt.

— Tôi gặp may, – cô nói. – Mẹ tôi đang ở đây, bà ấy có thể trông lũ trẻ.

— Tôi đã quay lại Harmonigatan bởi vì tôi cảm thấy việc đó không thể đợi được.

Hai giờ mười bốn phút, tất cả đã tập hợp trong phòng họp. Wallander nhìn xung quanh và tự hỏi Thurnberg tìm đâu được thời gian để thắt được cái nút cà vạt nghiêm chỉnh thế kia. Rồi ông nhanh chóng thông báo tin mới.

— Điều gì khiến anh nghĩ đến việc đi đến đó vào giữa đêm thế? – Hansson hỏi.

— Tôi thường nghi ngờ các trực giác của tôi, nhưng lần này thì nó đúng.

Toàn bộ sự mệt mỏi đã bay biến. Cả nhóm tập hợp lại. Giờ đây, họ đã biết hắn, họ sẽ chỉ dừng lại khi nào tên giết người đã bị bắt.

— Chúng ta không biết hắn đang ở đâu. Nhưng cánh cửa thoát hiểm vẫn mở. Nhìn vào những ổ khóa mà hắn đã lắp vào cửa ra vào nhà mình, tôi tin rằng hắn đã có đủ thời gian nghe thấy tiếng chúng tôi và đã đi khỏi. Một cách vội vã. Nói cách khác, hắn biết đang bị chúng ta theo sát.

— Như vậy có nguy cơ hắn sẽ không về nhà, - Martinsson nói.

— Chúng ta còn chưa biết gì. Chúng ta sẽ cho theo dõi tòa nhà, bằng các nhóm hai người, và ít nhất là hai xe tăng cường ở các phố bên cạnh.

Ông đấm mạnh tay xuống bàn.

— Hắn là một kẻ nguy hiểm. Tất cả mọi người đều phải mang súng.

Hansson và một cảnh sát Malmo đứng dậy để đảm nhiệm ca gác đầu tiên. Nyberg đi theo họ để chỉ nhà cho họ và kiểm tra xem liệu các cửa sổ vẫn còn sáng đèn theo cùng cách đó hay không.

— Kjell Albinsson ở Rydsgard, – Wallander tiếp tục. – Phải đánh thức anh ta dậy và đưa anh ta đến đây, cho một xe đi đón đi.

Không ai biết Albinsson là ai. Wallander giải thích và tiếp tục.

— Ake Larstam có trong hồ sơ của chúng ta không? Đó sẽ là việc của Martinsson. Đang là nửa đêm, nhưng điều đó không quan trọng, đừng do dự việc đánh thức tất cả những ai có thể có ích. Albinsson có thể cung cấp cho chúng ta những thông tin cá nhân về Larstam. Nhưng, cứ giả sử rằng chúng chính xác, thì liệu chúng có đầy đủ không? Hắn cải trang thành phụ nữ. Hắn tự biến hóa. Có thể thậm chí tên hắn còn không phải là Larstam. Mặt khác, nghe giống như là một cái tên đi mượn ấy. Chúng ta phải tìm kiếm trên mọi mặt trận cả có thể nghĩ ra được lẫn không thể nghĩ ra được, để có thể hình dung một chút xem hắn là ai.

Ông đã đặt lên bàn một cái cốc bọc trong giấy thấm.

— Nếu may mắn, chúng ta sẽ tìm được dấu tay. Trừ khi tôi nhầm hết mọi chuyện, thì đó cũng sẽ là những dấu tay ở nhà Svedberg và ở khu bảo tồn, cũng như những dấu tay mà chúng ta không tìm được ở Nybrostrand.

— Sundelius, – Ann-Britt nói xen vào. – Liệu có phải đánh thức ông ta dậy không? Nếu chúng ta có lý do để tin rằng ông ta có biết Larstam theo một cách nào đó?

Wallander liếc nhìn Thurnberg đang không hề tỏ ý phản đối.

— Làm việc đó ngay đi. Tôi muốn chính cậu lo chuyện này. Không cần nương nhẹ ông ta. Tôi tin chắc là ông ta đã nói dối chúng ta, và chúng ta không còn thời gian để mất nữa.

Thurnberg đồng ý.

— Tôi nghĩ mọi chuyện đều ăn nhập với nhau. Chỉ có điều cần tự hỏi liệu có nguy cơ nhầm lẫn nào trong chuyện này hay không.

— Không. Không thể có nhầm lẫn.

— Anh hoàn toàn chắc chắn đó là hắn? Dù sao, chúng ta vẫn chưa có gì, ngoài mấy mẩu báo.

Wallander trả lời hết sức bình tĩnh.

— Tất nhiên đó là hắn. Không có gì phải nghi ngờ cả.

Điểm cuối cùng được nêu lên trong nhóm trước khi chia tay và bắt tay vào việc là biết được cần bao nhiêu thời gian trước khi quay lại căn hộ. Nếu Larstam đã vội vã bỏ đi, đúng như Wallander nghĩ, thì sẽ không có gì đảm bảo hắn sẽ tự ý quay lại, cho nên tại sao không quay lại đó ngay? Wallander không có câu trả lời thích đáng cho câu hỏi này; tuy nhiên, ông do dự. Theo đề nghị của Martinsson, họ quyết định đợi thêm ít nhất đến khi đã nói chuyện xong với Kjell Albinsson, hiện đang trên đường đến Ystad bằng xe cảnh sát.

— Tôi muốn biết ngoài hắn còn có ai sống ở căn hộ nữa không. Cho một người đến đó để xem có cái tên nào khác không. Tòa nhà thuộc quyền sở hữu của ai? Tôi cũng muốn xem xét hầm và kho chứa đồ.

Họ lập một đại bản doanh tạm thời ở phòng họp. Wallander ngồi tại chỗ của mình ở đầu bàn để chờ Kjell Albinsson đến. Anh rất nhợt nhạt và có vẻ như không hiểu vì lý do gì mà người ta lôi anh ra khỏi giường và dẫn đến Ystad. Wallander gọi cho anh một tách cà phê. Ông thoáng nhìn thấy Ann-Britt Hoglund trong hành lang, theo sau là Sundelius rất giận dữ.

— Tôi sẽ nói chính xác tình hình cho anh, – ông bắt đầu. – Chúng tôi nghĩ rằng chính Ake Larstam đã giết một cảnh sát tên là Svedberg, vừa được chôn cất hôm qua.

Albinsson càng nhợt nhạt hơn.

— Không thể thế được.

— Chúng tôi cũng tin rằng hắn đã giết ba thanh niên ở khu bảo tồn Hagestad, cũng như một cô gái trên một hòn đảo ở quần đảo Ostergotland. Và cặp vợ chồng mới cưới ở Nybrostrand. Như vậy là chính hắn đã giết tám người trong một khoảng thời gian rất ngắn. Việc đó khiến hắn trở thành một trong những tên giết người đáng sợ nhất trong lịch sử Thụy Điển.

Albinsson lắc đầu.

— Chắc là có nhầm lẫn. Không phải Ake đâu.

— Tôi sẽ không nói cho anh điều đó nếu không hoàn toàn chắc chắn. Vì vậy tốt hơn hết là anh hãy tin tôi. Và trả lời thật chính xác những câu hỏi của tôi. Anh đã hiểu chưa?

— Rồi.

Thurnberg bước vào, đi quanh bàn và lẳng lặng ngồi xuống trước mặt Albinsson.

— Đây là công tố viên Thurnberg. Sự có mặt của ông ấy không hề hàm ý anh bị nghi ngờ về bất kỳ điều gì.

— Nhưng tôi có làm gì đâu, - Albinsson nói.

— Đó chính là điều tôi vừa nói. Bây giờ, anh tập trung và trả lời các câu hỏi của tôi nhé. Chúng sẽ không được trình bày theo một trật tự chặt chẽ, vì một số có tính khẩn cấp hơn những câu hỏi khác.

Albinsson im lặng gật đầu. Anh bắt đầu chậm chạp hiểu ra sự quay cuồng này không phải là một cơn ác mộng lạ lùng.

— Ake Larstam sống ở Harmonigatan, số 18. Chúng tôi biết rằng hiện giờ hắn không có ở đó. Chúng tôi nghĩ rằng hắn đang chạy trốn. Anh có ý tưởng nào về nơi hắn có thể đang ở không?

— Tôi không biết anh ấy rõ đến mức…

— Hắn có một ngôi nhà phụ không? Bạn thân?

— Tôi không biết.

— Hẳn là anh cũng phải biết điều gì đó chứ?

— Trong hồ sơ ở trung tâm lọc tin có vài thông tin.

Wallander rủa thầm. Lẽ ra ông đã phải nghĩ đến điều đó.

— Thế thì chúng ta sẽ đi tìm luôn.

Ông đứng dậy và ra hiệu bảo Albinsson đi theo. Một đội tuần tra ban đêm đang chuẩn bị làm báo cáo. Wallander giao Albinsson lại cho họ và giải thích tình hình. Rồi ông quay lại phòng họp. Thurnberg đang ghi chép vào một cuốn vở.

— Đúng ra thì anh đã vào căn hộ bằng cách nào?

— Cạy khóa. Nyberg có mặt. Nhưng tôi chịu toàn bộ trách nhiệm.

— Tôi hy vọng anh không nhầm lẫn trong những nghi ngờ dành cho Larstam. Trong trường hợp ngược lại, sẽ có rắc rối lớn đấy.

— Tôi ghen tị với ông vì ông vẫn còn thời gian để nghĩ đến chuyện đó.

— Cũng có lúc cảnh sát nhầm lẫn. Anh phải hiểu tại sao tôi tự hỏi điều đó chứ.

Phải cố gắng lắm Wallander mới chế ngự được bản thân.

— Tôi không muốn có thêm một vụ giết người nào cả. Chỉ đơn giản vậy thôi. Và Ake Larstam là kẻ mà chúng ta đang tìm.

— Không ai muốn có thêm một vụ giết người nào. Nhưng cảnh sát cũng không được phép phạm phải những nhầm lẫn vô ích.

Cá nhân mà nói Wallander cảm thấy mình đang bị khiển trách. Ông sắp hỏi Thurnberg người mà ông ta đang muốn nói đến là ai thì Martinsson bước vào.

— Nyberg vừa gọi điện. Có vẻ như là đèn trên nhà không hề thay đổi.

— Hàng xóm, – Wallander nói. – Ai ở trong tòa nhà đó? Nó thuộc về ai?

— Anh muốn tôi bắt đầu từ đâu? Hồ sơ cảnh sát? Tìm kiếm thông tin về Larstam? Những người hàng xóm?

— Tốt hơn hết là cả ba cái. Nhưng nếu tìm được Larstam trong hồ sơ lưu trữ, thì có thể có thêm những chi tiết về cuộc đời của hắn, mà lúc này chúng ta đang rất cần.

Martinsson đi khỏi. Wallander không nói gì nữa. Thurnberg ghi chép. Tiếng một con chó sủa. Wallander lơ đãng tự hỏi không biết đó có phải là Kall không. Ba giờ kém ba phút. Ông đi lấy một cốc cà phê khác. Cửa phòng Ann-Britt đóng. Cô đang thẩm vấn Sundelius.

Ông suýt đi vào nhưng dừng lại kịp. Một người mang đến cho ông điện thoại di động, và Hansson thông báo rằng cuộc theo dõi tòa nhà đã bắt đầu được mười phút.

— Tất cả đều đã hiểu rằng đó là một kẻ nguy hiểm rồi chứ?

— Tôi đã nhắc đi nhắc lại điều đó.

— Nói thêm một lần nữa. Nhắc họ rằng chiều nay chúng ta vừa chôn một đồng nghiệp.

Ông quay lại phòng họp. Thurnberg không có ở đó. Wallander đọc những gì ông ta viết trong cuốn vở.

Những vần để làm thơ. Cải lọ, con bọ, bọn họ. Wallander lắc đầu. Năm phút trôi qua. Albinsson xuất hiện trở lại, bớt nhợt nhạt hơn lúc trước một chút. Anh cầm trên tay một cặp tài liệu màu vàng.

— Đây là các thông tin mật. Tôi sẽ phải gọi điện cho sếp tôi để được phép mở ra.

— Trong trường hợp đó, tôi sẽ gọi công tố viên đến, – Wallander nói. – Và xin lệnh bắt anh vì tội đồng lõa với tên giết người.

Có vẻ như là Albinsson tin lời ông. Wallander chìa tay ra và Albinsson đưa ông cặp hồ sơ. Chỉ có vài trang, trong đó có một danh sách dài những công việc đã thực hiện. Wallander nhanh chóng nhận ra rằng, trong hai năm vừa rồi, Larstam đã làm việc ở tất cả các khu vực mà cuộc điều tra đang bao phủ, trừ một nơi. Đúng là Albinsson đã nói rất chính xác: từ đầu tháng Ba cho đến giữa tháng Sáu, Larstam đã làm ở vùng Skarby. Tháng Bảy, hắn đưa thư ở Nybrostrand.

Ông chuyển sang các thông tin cá nhân. Ake Larstam sinh ngày 10 tháng Mười một năm 1952 ở Eskilstuna. Tên đầy đủ của hắn là Ake Leonard Larstam. Hắn học xong tú tài ở Eskilstuna vào năm 1970. Năm 1971, hắn đi nghĩa vụ quân sự trong một trung đoàn thiết giáp ở Skovde. Năm 1972, hắn bắt đầu học kỹ sư ở Chalmers, một trường nổi tiếng của Goteborg. Hắn lấy bằng vào năm 1979. Cùng năm đó, hắn được nhận vào làm trong một văn phòng kỹ sư-tư vấn ở Stockholm, Strand Consulting. Hắn làm việc ở đó đến năm 1985. Rồi hắn bỏ việc và theo một khóa đào tạo người đưa thư. Cùng năm đó, hắn chuyển đến Hoor, rồi Ystad. Tiếp theo là một danh sách dài các công việc đã làm. Hắn độc thân và không có con. Ở mục ‘người liên lạc khi cần’ chỉ có một đường gạch chéo.

— Hắn không có bà con gì à? – Wallander nghi ngờ hỏi.

— Có vẻ như là không.

— Nhưng hắn cũng phải hay gặp ai đó chứ?

— Anh ta rất dè dặt, tôi đã nói với ông rồi.

Wallander đặt hồ sơ xuống. Tất cả các thông tin này sẽ được kiểm tra kỹ lưỡng. Nhưng, trước hết, ông cần biết lúc này Larstam đang ở đâu, trong cái đêm thứ Ba 20 sáng thứ Tư 21 tháng Tám này.

— Không có con người nào cô độc đến mức đó. Hắn nói chuyện với ai? Hắn uống cà phê với ai? Hắn không bao giờ có ý kiến về bất kỳ điều gì à? Hẳn là phải có ai đó biết về hắn nhiều hơn cái hồ sơ này chứ.

— Đã có lúc chúng tôi nói chuyện với nhau về chuyện này: đó là một người thực sự không thể nắm bắt. Nhưng vì lúc nào anh ta cũng tỏ ra dễ mến, lúc nào cũng sẵn sàng giúp đỡ người khác, nên chúng tôi cũng không bận tâm nữa. Người ta cũng có thể đánh giá cao ai đó dù không biết chút gì về anh ta chứ.

Wallander suy nghĩ về mấy câu nói đó một lúc. Rồi ông chọn một hướng đi khác.

— Hắn đã thực hiện những cuộc thay thế. Đôi khi rất ngắn, có lúc dài hơn. Có bao giờ hắn từ chối một đề nghị không?

— Không bao giờ.

— Như vậy là hắn không làm gì khác à?

— Theo chúng tôi biết thì không. Anh ta lúc nào cũng sẵn sàng làm việc. Khi cần, chúng tôi gọi điện cho anh ta và hai tiếng sau là anh ta đã bắt đầu làm rồi.

— Nghĩa là lúc nào cũng có thể gọi cho anh ta?

— Đúng vậy.

— Thế nghĩa là gì? Lúc nào hắn cũng ở nhà ngồi canh điện thoại à?

Albinsson trả lời, không hề mỉm cười.

— Đã có lúc tôi có cảm giác đó.

— Anh đã miêu tả một người cẩn thận, làm việc tốt, lúc nào cũng sẵn sàng. Và rất dè dặt. Không bao giờ hắn làm các anh ngạc nhiên à?

Albinsson suy nghĩ.

— Thỉnh thoảng anh ta hát.

— Hắn hát?

— Đúng. Hoặc đúng hơn là hát khe khẽ trong miệng.

— Hắn hát gì? Vào dịp nào? Anh nói rõ ràng hơn đi. Hắn hát có hay không?

— Tôi nghĩ đó là các bài thánh vịnh. Anh ta lẩm nhẩm chúng trong khi lọc thư, trong lúc đi ra xe. Tôi không rõ là anh ta có hát hay hay không. Dù sao thì anh ta cũng hát rất nhỏ. Hẳn là anh ta không muốn làm phiền người khác.

— Có vẻ lạ đấy. Hắn hát các bài thánh vịnh à?

— Chắc chắn là những khúc hát tôn giáo.

— Hắn có theo đạo không?

— Làm sao tôi biết được?

— Anh phải trả lời các câu hỏi của tôi, chứ không phải là đặt chúng.

— Ở đất nước này tất cả mọi người đều được tự do tín ngưỡng. Ake Larstam có thể theo đạo Phật mà không ai hay biết cả.

— Tín đồ Phật giáo không giết những cặp vợ chồng mới cưới, – Wallander khô khốc đáp lại. – Hắn có những điểm đặc biệt gì khác không?

— Anh ta rất hay rửa tay.

— Gì nữa?

— Những lần duy nhất tôi thấy anh ta ở tâm trạng xấu, là khi những người khác vui vẻ. Nhưng chỉ thoáng qua thôi.

Wallander mở to mắt.

— Anh có thể nói rõ hơn điều đó không?

— Không thực sự. Đúng như tôi vừa nói đấy.

— Hắn không thích những người vui vẻ à?

— Cái đó thì tôi không biết. Nhưng khi người khác cười - tôi cứ giả định rằng việc đó cho thấy là họ đang vui - thì rõ ràng là anh ta thấy bị làm phiền.

Wallander nghĩ đến điều Nyberg đã nói ở Nybrostrand, ở nơi tìm thấy xác cặp vợ chồng mới cưới và người thợ chụp ảnh: tên giết người này không thích những người hạnh phúc.

— Có bao giờ hắn tỏ ra có xu hướng bạo lực không?

— Không bao giờ.

— Những điều đặc biệt khác?

— Không có gì. Anh ta không có gì đặc biệt. Đó là một người không khiến ai chú ý.

Wallander có cảm giác Albinsson muốn nói thêm điều gì đó. Ông chờ đợi.

— Có thể đó chính là chỗ đặc biệt của anh ta đấy. Bằng mọi giá anh ta không muốn bị để ý. Và không bao giờ ngồi quay lưng ra một cánh cửa.

— Anh muốn nói gì?

— Lúc nào anh ta cũng chọn vị trí nhìn được những người ra vào.

Wallander đoán ra điều Albinsson định nói. Ông nhìn đồng hồ đeo tay. Bốn giờ kém mười chín phút. Ông gọi cho Ann-Britt.

— Cậu vẫn hỏi Sundelius à?

— Phải.

— Thế thì ra gặp tôi ngoài hành lang đi.

Wallander đứng dậy.

— Tôi về được chưa? – Albinsson hỏi. – Chắc là vợ tôi lo lắm.

— Gọi cho cô ấy đi. Nói chuyện với cô ấy bao lâu tùy thích, Nhà nước sẽ trả tiền, nhưng chúng tôi không thể để anh đi ngay bây giờ được.

Wallander đi ra và khép cửa lại. Ann-Britt đang đợi ông trong hành lang.

— Sundelius nói gì?

— Ông ta chối đã từng nghe nói về Ake Larstam. Ông ta nhắc đi nhắc lại rằng Svedberg và ông ta chưa bao giờ làm việc gì khác ngoài ngắm sao cùng nhau và đến gặp một chuyên gia trị liệu bằng phương pháp thiên nhiên. Ông ta rất tức tối. Ông ta không thích thú gì việc bị một phụ nữ tra hỏi.

Wallander tư lự gật đầu.

— Tôi nghĩ là chúng ta có thể cho ông ta về. Hẳn là ông ta không biết Larstam. Trong sự hỗn loạn này, tôi nghĩ là chúng ta có hai dạng bí mật. Larstam đột nhập những bí mật của người khác; Svedberg có một bí mật mà cậu ấy giấu cả Sundelius.

— Thế à, bí mật gì thế?

— Suy nghĩ đi.

— Cậu muốn nói là có một câu chuyện tình tay ba bi thảm đằng sau câu chuyện này à?

— Không phải đằng sau. Ở chính giữa.

Cô gật đầu.

— Tôi sẽ nói ông ta có thể đi. Khi nào thì Hansson cần thay?

Wallander đã có quyết định.

— Họ có thể ở lại đó. Chúng ta sẽ đến sau. Đêm nay Ake Larstam sẽ không về đâu. Hắn đang trốn, nhưng ở đâu? Câu trả lời chỉ có thể tìm được trong nhà hắn.

Ông quay lại phòng họp. Albinsson vẫn đang nói chuyện điện thoại với vợ. Wallander ra hiệu bảo anh dừng cuộc nói chuyện lại.

— Anh đã nghĩ được ra điều gì chưa? – sau đó ông hỏi. – Một ý tưởng về nơi Larstam đang trốn?

— Tôi không biết. Nhưng cả cái đó nữa cũng có thể là một cách để miêu tả anh ta..

— Thế nào cơ?

— Đó là một người không ngừng tìm kiếm những nơi ẩn trốn.

Wallander gật đầu.

— Chúng tôi sẽ đưa anh về nhà. Nhưng nếu anh nghĩ ra chuyện gì khác thì phải gọi ngay cho tôi.

Ông đưa anh ra đến chỗ tiếp tân và nói vài câu với một cảnh sát trực. Rồi ông đi tìm Nyberg và thông báo với ông quyết định quay lại căn hộ của mình.

— Sẽ nhanh thôi, vì bây giờ tôi biết rõ mấy cái ổ khóa rồi.

Họ vào lại được căn hộ của Ake Larstam vào lúc bốn giờ mười lăm phút. Wallander tập hợp các đồng sự của mình lại trước cửa căn phòng cách âm.

— Chúng ta tìm câu trả lời cho hai câu hỏi. Hiện tại hắn đang trốn ở đâu? Liệu hắn có chuẩn bị thực hiện một vụ giết người mới không? Nếu tìm được một bức ảnh thì sẽ rất tốt.

Ông kéo Nyberg ra một chỗ.

— Các dấu tay, – ông nói. – Thurnberg đang lo lắng. Chúng ta cần một bằng chứng không thể chối cãi để gắn kết Larstam với những vụ giết người kia, ít nhất là vụ giết người ở khu bảo tồn và Svedberg. Việc của anh đấy. Anh có toàn bộ quyền ưu tiên.

— Tôi sẽ làm những gì có thể.

— Phải hơn thế. Cứ gọi cho cả sếp lớn nếu cần.

Wallander đến ngồi trên chiếc giường của căn phòng cách âm.. Hansson hiện ra ở cửa. Ông ra hiệu nói mình không muốn bị làm phiền. Hansson biến mất.

Tại sao người ta lại cách âm một căn phòng? ông nghĩ. Để chặn âm thanh lọt vào. Hoặc để ngăn chúng thoát ra. Nhưng với mục đích gì tại một thành phố như Ystad, nơi lượng xe cộ đi lại rất nhỏ? Ông nhìn xung quanh. Cùng lúc, ông nhận ra cái giường rất cứng. Ông đứng dậy và nhấc chăn lên. Không có đệm. Người nằm trên chiếc giường này ngủ trực tiếp trên giát lò xo. Một kẻ thích nhục bình, ông nghĩ. Ông quỳ gối xuống và nhìn dưới gầm giường.

Không có gì. Ngay cả bụi cũng không. Ông ngồi lại chỗ cũ. Trên tường không treo gì. Ngoài một ngọn đèn, không có gì khác nữa cả.

Ông tìm cách cảm thấy sự hiện diện của tay đàn ông. Ake Larstam, bốn mươi tư tuổi. Sinh ở Eskilstuna. Cựu học sinh trường Chalmers. Kỹ sư, sau đổi sang làm nghề đưa thư.

Đột nhiên, mi ra khỏi nhà và giết tám người. Ngoài người cảnh sát và người thợ chụp ảnh, tất cả đều cải trang. Người thợ chụp ảnh không có liên quan. Anh ta chỉ tình cờ mà có mặt ở đó. Và người cảnh sát, mi đã giết anh ta bởi vì anh ta đã phát hiện ra bí mật của mi. Nhưng những người khác đều cải trang. Họ đều đang vui vẻ. Tại sao mi lại giết họ? Có phải là tại đây, trong phòng ngủ cách âm của mi, mi đã nghiền ngẫm từ trước mọi việc?

Tên đàn ông vuột đi mất. Ông đứng dậy và quay lại phòng khách. Những bức tượng sứ nhỏ ở khắp nơi. Những con chó, những con gà trống, những quý bà thời đầu thế kỷ, những thằng lùn và những con ma. Giống như một ngôi nhà búp bê, ông nghĩ. Một ngôi nhà búp bê với một thằng điên sống ở trong. Một thằng điên có thẩm mỹ tồi tệ. Mi phủ đầy cuộc đời mi bằng những món đồ vặt vãnh. Câu hỏi: mi ở đâu? Giờ đây khi chúng ta đã bắt mi rời khỏi hang ổ?

Ann-Britt Hoglund hiện ra ở cửa bếp. Ngay lập tức Wallander thấy rằng cô đã phát hiện được điều gì đó.

— Tôi nghĩ cậu phải đến đây xem, - cô nói.

Wallander đi theo cô. Một cái ngăn kéo được đặt trên mặt bàn. Ann-Britt đã bới những gì có trong đó, hóa đơn, tờ rơi. Còn lại một tờ giấy kẻ carô nhỏ, xé từ một cuốn sổ. Một câu viết bằng bút chì đen. Chữ viết - có phải là của Larstam? - không đều đặn. Wallander đeo kính. Số 9. Thứ Tư 21. Vận may mỉm cười và sau đó đi khỏi. Giống như một bài thơ chết chóc, nhưng Wallander hiểu ra ngay, cũng như Ann-Britt trước đó.

— Hắn đã giết tám người. Ở đây hắn nói đến người thứ chín.

— Hôm nay là ngày 21. Và là một thứ Tư.

— Phải bắt được hắn trước khi hắn hành động.

— Cái câu nói về vận may có nghĩa là gì?

— Có nghĩa là Ake Larstam không chịu đựng nổi những người được vận may mỉm cười.

Ông thuật lại cho cô những lời bình luận của Albinsson.

— Làm thế nào để tìm được một người may mắn đây? – cô hỏi.

— Chúng ta không tìm được. Mà là đi kiếm.

Ông lại cảm thấy dạ dày co thắt lại.

— Thật lạ, – cô nói. – Hắn nói đến con số 9. Một người duy nhất. Cho đến giờ, ngoài Svedberg, hắn toàn giết cả một nhóm.

— Và Svedberg không phải là mục tiêu của hắn. Cậu có lý, đây là một điều mới. Quan trọng đấy.

Bốn giờ hai mươi phút. Wallander tiến lại gần cửa sổ và nhìn ra bên ngoài. Bình minh còn chưa ló rạng. Ake Larstam đang ở đâu đó. Wallander cảm thấy nỗi sợ trào lên. Chúng ta sẽ không bắt được hắn, ông nghĩ. Hắn sẽ lại tiếp tục. Và chúng ta sẽ đến quá muộn.

Hắn đã định ra một nạn nhân mới. Ai? Chúng ta không hề hay biết. Chúng ta đi dò dẫm trong bóng tối. Thậm chí chúng ta còn không biết phải tìm kiếm theo hướng nào. Chúng ta không biết gì hết cả.

Ông quay sang Ann-Britt. Rồi ông đi một đôi găng tay cao su vào và bắt đầu lục tìm trong ngăn kéo.

không mất nhiều thời gian để phát hiện Svedberg là một nhà sưu tầm. Những chiếc giày và áo vest cũ xơ ra này hẳn đã có tuổi thọ ít nhất là hai mươi năm. Ông tiếp tục cuộc tìm kiếm của mình, một cách có hệ thống. Trong một cái vali, ông tìm
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.