Chậm Một Bước

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 40 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
5

❊ ❊ ❊

Họ ngồi trong phòng dành cho các nữ y tá. Ba giờ chín phút. Wallander báo tin cho cô, không vòng vèo. Svedberg đã chết, bị giết bởi một hoặc nhiều phát súng săn. Ai giết, vì lý do gì, vào lúc nào, họ còn chưa biết gì hết. Ông tránh không nói các chi tiết. Ông vừa nói xong thì một y tá trực bước vào hỏi Ylva Brink điều gì đó.

— Có thể chờ được không? – Wallander can thiệp. – Tôi đến để báo tin cái chết của một người thân.

Khi nữ y tá chuẩn bị đi ra thì Wallander hỏi cô có thể mang cho một cốc nước không. Miệng ông khô đến mức lưỡi dính vào vòm miệng.

— Tất cả chúng tôi đều bị sốc, – ông nói tiếp sau khi nữ y tá đi khỏi. – Không thể hiểu nổi.

Ylva Brink không trả lời. Cô rất nhợt nhạt nhưng có vẻ bình tĩnh. Nữ y tá quay lại với một cốc nước.

— Tôi có thể làm được gì không? – cô hỏi.

— Hiện tại thì không, cám ơn.

Ông uống một hơi hết cốc nước. Ông vẫn thấy khát như lúc trước.

— Tôi không sao mà tin nổi, – Ylva Brink nói. – Tôi không hiểu.

— Tôi cũng vậy. Dù sao thì cũng phải cố. Ngay cả khi phải mất cả đời - và ngay cả như thế tôi cũng không chắc là có thể làm được.

Ông lục tìm các túi áo vest và tìm được một cái bút chì. Như thường lệ, ông không có sổ. Ông liếc nhìn sọt rác đựng giấy và nhặt một tờ giấy đã có ai đó vẽ những người bị treo cổ lên trên. Ông duỗi thẳng nó ra. Có một tờ báo để trên bàn; ông dùng nó làm cái lót.

— Tôi phải đặt vài câu hỏi cho chị. Cậu ấy có gia đình không? Tôi phải thú nhận là không biết ai khác ngoài chị.

— Bố mẹ cậu ấy đều đã mất. Cậu ấy không có anh chị em gì. Tôi là chị họ về phía nội của cậu ấy. Còn một người anh họ nữa về phía ngoại, tên là Sture Bjorklund.

Wallander ghi lại.

— Anh ấy sống ở đâu? Ystad à?

— Một trang trại gần Hedeskoga.

— Anh ấy là nông dân à?

— Giáo sư đại học Copenhagen.

Wallander ngẩng đầu lên, ngạc nhiên.

— Tôi không nhớ là Svedberg từng nói đến anh ấy.

— Có thể nói là họ không bao giờ gặp nhau. Nếu anh muốn biết các thành viên của gia đình mà cậu ấy giữ quan hệ, câu trả lời rất đơn giản, chỉ có một mình tôi.

— Dù sao cũng phải báo tin cho anh ấy. Tôi không cần phải nói cho chị rằng chuyện này sẽ ầm ĩ trên báo chí. Một cảnh sát bị giết trong những hoàn cảnh đầy bạo lực…

Cô chăm chú nhìn ông.

— Những hoàn cảnh đầy bạo lực? Anh muốn nói gì?

— Rằng rất có khả năng cậu ấy bị giết.

— Liệu có khả năng nào khác không?

— Đó chính là câu hỏi thứ hai của tôi. Chị có nghĩ là cậu ấy sẽ tự sát không?

— Tất cả mọi người đều có thể, trong một số trường hợp, anh không nghĩ thế à?

— Có thể lắm.

— Nhưng cảnh sát phải có khả năng xác định được đó là một vụ giết người hay một vụ tự tử chứ?

— Đúng thế. Nhưng dù vậy tôi vẫn phải đặt cho chị câu hỏi đó.

Cô suy nghĩ trước khi trả lời.

— Bản thân tôi sẵn sàng nghĩ đến khả năng tự sát. Trong những giai đoạn khó khăn, và Chúa mới biết tôi từng có bao nhiêu giai đoạn như thế. Nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ là Karl có thể làm việc đó.

— Tại sao? Cậu ấy không có lý do gì để làm vậy à?

— Đó không phải là một người bất hạnh, còn xa mới là như thế.

— Lần cuối chị liên hệ với cậu ấy là khi nào?

— Cậu ấy gọi điện cho tôi Chủ nhật vừa rồi.

— Cậu ấy thế nào?

— Bình thường.

— Tại sao cậu ấy gọi cho chị?

— Chúng tôi có thói quen nói chuyện với nhau một tuần một lần. Hoặc cậu ấy gọi cho tôi, hoặc tôi gọi. Có khi cậu ấy đến nhà tôi ăn tối, có khi tôi đến nhà cậu ấy. Chồng tôi hiếm khi ở đây, có thể là anh vẫn còn nhớ, anh ấy là lái trưởng trên một tàu chở dầu. Và các con tôi đều đã lớn.

— Vậy là Svedberg mời chị đến ăn tối?

— Tại sao lại không?

— Tôi chưa bao giờ tưởng tượng ra cảnh cậu ấy làm bếp.

— Cậu ấy nấu giỏi lắm. Nhất là món cá.

Wallander chọn cách quay ngược trở lại câu chuyện.

— Vậy là cậu ấy gọi cho chị vào Chủ nhật vừa rồi. Mồng 4 tháng Tám. Và mọi thứ đều bình thường.

— Đúng.

— Hai người đã nói chuyện gì?

— Đủ thứ chuyện. Nhưng tôi còn nhớ là cậu ấy than là mệt mỏi. Cậu ấy nói là nhiều việc quá.

— Cậu ấy đã thực sự nói thế à? Rằng cậu ấy ‘nhiều việc quá’?

— Phải.

— Nhưng cậu ấy mới đi nghỉ về cơ mà.

— Tôi còn nhớ rất rõ.

Wallander suy nghĩ trước khi hỏi tiếp.

— Chị có ý tưởng gì về những gì cậu ấy làm trong kỳ nghỉ không?

— Chắc anh cũng đã biết, cậu ấy không thích rời khỏi thành phố. Thường thì cậu ấy ở lại nhà. Có lẽ là chỉ trừ một chuyến đi ngắn sang Ba Lan.

— Ở nhà, nghĩa là ở căn hộ?

— Cậu ấy có những việc để giết thời gian.

— Những việc gì?

— Anh không biết à? Kalle có hai niềm say mê lớn trong đời: những vì sao và lịch sử người Anhđiêng châu Mỹ.

— Tôi đã nghe nói đến người Anhđiêng. Và về việc thỉnh thoảng cậu ấy đi Falsterbo để quan sát chim. Nhưng những vì sao thì không, điều này là mới.

— Cậu ấy có một cái kính viễn vọng rất đẹp.

Wallander không nhớ là đã nhìn thấy nó ở căn hộ.

— Nó ở đâu?

— Trong phòng làm việc của cậu ấy.

— Vậy là cậu ấy dành thời gian rỗi cho việc đó? Ngắm sao và đọc những cuốn sách về người Anhđiêng?

— Tôi tin là vậy. Nhưng hè này thì hơi khác.

— Theo cách nào?

— Thường thì chúng tôi gặp nhau rất nhiều trong mùa hè, nhiều hơn những mùa khác. Nhưng năm nay thì cậu ấy không có thời gian. Cậu ấy nhiều lần từ chối đến ăn tối.

— Tại sao?

Cô ngần ngừ một lúc trước khi trả lời.

— Có vẻ như là cậu ấy không có thời gian.

Bằng trực giác, Wallander đoán là họ đang đề cập một điểm quan trọng.

— Cậu ấy có nói tại sao không?

— Không.

— Nhưng hẳn là chị phải hỏi cậu ấy chứ.

— Không hẳn.

— Chị có nhận ra thay đổi nào ở cậu ấy không? Cậu ấy có tỏ ra lo lắng không?

— Cậu ấy vẫn thế. Nhưng không có nhiều thời gian.

— Khi nào thì chị nhận ra điều đó? Hoặc khi nào thì cậu ấy nói chuyện đó với chị lần đầu tiên?

Cô suy nghĩ.

— Không lâu sau ngày Saint-Jean. Nói cách khác là ngay đầu kỳ nghỉ của cậu ấy.

Nữ y tá lại xuất hiện. Ylva Brink đứng dậy.

— Tôi sẽ quay lại ngay, – cô nói.

Wallander cũng đi ra. Ông tìm thấy toalet, tiểu tiện và uống thêm hai cốc nước. Khi ông quay lại phòng, Ylva đã ngồi đó chà

— Tôi đi đây, – ông nói. – Những câu hỏi khác có thể chờ được.

— Nếu anh muốn, tôi có thể liên lạc với Sture. Chúng tôi sẽ phải tổ chức đám tang.

— Nếu chị có thể làm việc đó thật nhanh thì rất tốt. Chúng tôi sẽ phải thông báo cho báo chí trong buổi sáng, lúc mười một giờ.

— Mọi chuyện thật là khó tin.

Đột nhiên mắt cô đầy nước. Wallander cảm thấy mình cũng sắp quỵ xuống. Họ im lặng đứng đối diện nhau trong vài giây, mỗi người theo đuổi cảm xúc riêng của mình. Wallander cố gắng dán chặt cái nhìn của mình vào sự dịch chuyển của kim giây trên mặt đồng hồ treo tường trong phòng làm việc.

— Tôi còn một câu hỏi nữa, – cuối cùng ông nói. – Svedberg sống độc thân. Tôi chưa bao giờ nghe nói cậu ấy có người đàn bà nào trong đời.

— Chắc là không có đâu.

— Chị không nghĩ rằng có thể đó là điều đã xảy ra vào mùa hè vừa rồi à?

— Gì cơ? Cậu ấy đã gặp một người phụ nữ à?

— Phải.

— Và vì thế mà cậu ấy ‘nhiều việc lắm’ ư?

Wallander nhận ra điều đó thật phi lý.

— Tôi phải đặt một số câu hỏi, – ông nhắc lại. – Nếu không chúng tôi sẽ quay tròn mãi thôi.

Cô đưa ông ra hành lang. Trước cánh cửa gắn kính, cô nắm lấy tay ông.

— Anh phải bắt kẻ đã làm chuyện đó, – cô nói.

— Giết một cảnh sát là một trong những điều tồi tệ nhất mà người ta có thể làm. Nói thế có nghĩa là chúng tôi sẽ làm tất cả mọi việc, thực sự là tất cả mọi việc, để tìm ra kẻ phạm tội.

Họ bắt tay nhau.

— Tôi sẽ gọi cho Sture, – cô nói. – Muộn nhất là vào sáu giờ.

Khi đi khỏi, Wallander nghĩ đến một câu hỏi khác. Một câu hỏi mấu chốt.

— Cậu ấy có thói quen để nhiều tiền ở nhà không?

Cô mở to mắt

— Tiền nào? Lúc nào cậu ấy cũng kêu ca tiền lương thấp quá mà.

— Trong ngành cảnh sát ai cũng kêu ca thế cả.

— Anh có biết một bác sĩ đỡ đẻ kiếm được bao nhiêu không?

— Không.

— Thế thì càng tốt cho anh. Câu hỏi không phải là ai kiếm được nhiều nhất, mà là ai kiếm được ít nhất.

Khi ra khỏi bệnh viện, Wallander hít thở thật sâu. Những con chim đang hót, đã gần bốn giờ sáng, một cơn gió nhẹ thổi qua. Trời vẫn còn nóng. Ông chậm rãi trở về khu Lilla Norregatan.

Một câu hỏi nổi bật hẳn lên trên những câu khác.

Tại sao Svedberg lại nói là mình ‘nhiều việc quá’? Trong khi cậu ấy vừa đi nghỉ xong…

Liệu điều đó có quan hệ gì với vụ giết người không?

Wallander đứng bất động trên vỉa hè chật hẹp. Trong suy nghĩ ông quay lại với thời điểm phát hiện cảnh tượng buồn thảm, ở cửa phòng khách. Ông ở trên bậc thềm, Martinsson ngay sau lưng. Ông đã nhìn thấy một người chết và một khẩu súng trường. Nhưng, gần như ngay lập tức, ông có cảm giác rằng điều gì đó không ổn.

Điều gì? Ông tập trung tất cả sức lực của mình để nắm bắt điều lúc này vẫn đang trượt thoát khỏi ông. Vô vọng.

Kiên nhẫn đi, ông nghĩ. Mình mệt mỏi quá. Đêm thì dài và vẫn còn chưa chấm dứt.

Ông tiếp tục bước đi. Tự hỏi khi nào thì có thời gian để ngủ. Và nghiên cứu các danh sách đồ ăn kiêng. Ông lại đứng khựng lại. Một câu hỏi vừa thành hình trong tâm trí ông.

Điều gì sẽ xảy ra khi mình chết đột ngột như Svedberg? Ai sẽ buồn? Người ta sẽ nói gì về mình? Rằng mình là một cảnh sát giỏi, người để lại một chỗ ngồi trống ở bàn họp? Nhưng ai sẽ thực sự thương tiếc mình? Mình, với tư cách con người? Có thể là Ann-Britt Hoglund. Có thể là cả Martinsson nữa.

Một con bồ câu sải rộng cánh bay lướt qua sát ông.

Chúng ta không biết gì về nhau, ông nghĩ. Trong thâm tâm mình nghĩ gì về Svedberg? Nếu mình cố trung thực hết mức. Liệu mình có thực sự nhớ cậu ấy không? Liệu người ta có thể khóc ai đó mà họ không biết không?

Ông tiếp tục bước đi. Nhưng ông biết là những câu hỏi đó sẽ không buông tha ông.

Khi quay về đến căn hộ của Svedberg, ông có cảm giác đang quay vào trong một cơn ác mộng. Kết thúc đêm hè, kết thúc những con chim. Ở đây chỉ có sự chết chóc ngự trị, được chiếu sáng bởi những ngọn đèn chiếu công suất lớn. Lisa Holgersson đã về sở. Wallander ra hiệu cho Ann-Britt Hoglund và Martinsson bảo đi theo mình. Ông suýt hỏi có ai nhìn thấy Svedberg không nhưng kịp dừng lại đúng lúc. Họ ngồi cả vào bàn bếp. Mặt Ann-Britt và Martinsson đều xám lại. Wallander tự hỏi trông chính ông ra sao.

— Nào, – ông nói. – Có gì mới không?

— Liệu có thể là gì khác một vụ trộm không? – Ann-Britt đáp.

— Có thể là rất nhiều thứ. Một vụ trả thù. Một thằng điên. Hai thằng điên. Ba thằng điên. Chúng ta không biết. Khi mà không biết gì, chúng ta phải xuất phát từ những gì mà chúng ta thấy.

— Và cả từ một chi tiết nữa, – Martinsson nói. – Việc Svedberg là cảnh sát.

Wallander đồng ý.

— Có dấu vết gì không? Bên chỗ Nyberg có gì? Bác sĩ nói gì?

Hai người giở sổ. Ann-Britt là người bắt đầu.

— Hai nòng khẩu súng đều đã bắn. Bác sĩ gần như chắc chắn rằng hai phát đạn đã được bắn rất nhanh, gần như cùng một lúc. Nyberg cũng chắc chắn về điều đó - bằng cách nào ông ấy biết thì vượt quá sức của tôi. Dù thế nào đi nữa, tên giết người đã nhắm vào đầu.

Giọng cô run lên. Cô hít vào thật sâu trước khi tiếp tục.

— Họ không biết liệu khi đó có phải Svedberg đang ngồi không, cũng không biết cậu ấy ở cách tên giết người bao xa. Xét kích thước phòng và cách bố trí đồ đạc, không thể quá được bốn mét. Nhưng cũng có thể bị gí thẳng vào đầu.

Martinsson vội đứng lên và lẩm bẩm gì đó trước khi biến mất vào toalet. Họ chờ đợi. Martinsson quay trở lại sau vài phút.

— Lẽ ra tôi phải bỏ nghề từ cách đây hai năm rồi mới phải, – anh nói. – Lẽ ra tôi đã phải dừng lại vào lúc nảy ra quyết định làm điều đó.

— Sự có mặt của chúng ta cần thiết hơn bao giờ hết, – Wallander đáp lại, khô khốc.

Nhưng ông hoàn toàn hiểu cảm giác của Martinsson.

— Svedberg vẫn mặc nguyên quần áo, – Ann-Britt nói tiếp. – Điều đó khiến chúng ta có thể nghĩ là cậu ấy không bị bắt gặp khi đang nằm trên giường. Nhưng chúng ta vẫn không biết được là vào mấy giờ…

Wallander quay sang Martinsson.

— Tôi đã thẩm vấn những người hàng xóm nhiều lần. Không ai nghe thấy gì cả.

— Trên phố ồn ào quá à?

— Tôi thấy rất khó có chuyện tiếng xe cộ đi lại có thể làm chìm lấp được âm thanh của hai phát súng.

— Vậy là chúng ta không biết chuyện đó xảy ra vào lúc nào. Chúng ta biết là Svedberg vẫn mặc quần áo. Điều này có vẻ như loại trừ nửa đêm. Cá nhân mà nói, tôi luôn có cảm giác Svedberg đi ngủ từ rất sớm.

Martinsson đồng ý với điều này. Ann-Britt không có ý kiến gì.

— Tên giết người đã vào căn hộ như thế nào? Chúng ta có biết không?

— Ổ khóa có vẻ không bị phá, trừ do chúng ta.

— Ở khía cạnh khác, – Wallander phản đối, – rất dễ để phá nó.

— Tại sao hắn để lại vũ khí? Sợ hãi quá? Hay là gì?

Không ai có câu trả lời cho những câu hỏi của Martinsson. Wallander nhìn các đồng nghiệp kiệt sức và nhàu nhĩ của mình.

— Tôi sẽ nói ý kiến riêng của tôi, – ông nói. – Còn quá sớm để biết liệu nó có giá trị gì hay không. Nhưng ngay khi bước vào căn hộ này và khi nhìn thấy cảnh tượng trong phòng khách, tôi đã có cảm giác mọi chuyện đều không ổn. Tôi không biết. Đó là một vụ giết người, rất giống một vụ kẻ trộm đột nhập. Nhưng nếu đó không phải là một vụ trộm, thì có thể là gì khác? Một vụ trả thù? Hoặc liệu chúng ta có thể tưởng tượng rằng một ai đó đến, không phải là để ăn cắp, mà để tìm cái gì đó, được không?

Ông đứng dậy, lấy một cái cốc ở khay và rót đầy.

— Tôi đã nói chuyện với Ylva Brink ở bệnh viện, – ông nói tiếp. – Svedberg không có nhiều người thân lắm. Hai anh chị em họ, trong đó có cô ấy. Cô ấy gặp cậu ấy thường xuyên, cô ấy nói với tôi thế. Cô ấy đã nói đến một chi tiết làm tôi phải hỏi lại. Cô ấy đã nói chuyện với Svedberg vào Chủ nhật vừa rồi, và cậu ấy than phiền là nhiều việc quá. Làm sao có thể như thế được? Khi mà cậu ấy vừa nghỉ xong?

Ann-Britt và Martinsson đợi đoạn tiếp theo.

— Tôi không biết liệu điều đó có quan trọng không, Wallander tiếp. Chúng ta phải hiểu được cái đó che giấu điều gì.

— Hồi đó cậu ấy lo vụ gì nhỉ? – Ann-Britt hỏi.

— Bọn trẻ mất tích, – Martinsson nói.

— Chắc là phải có chuyện gì khác nữa, – Wallander phản đối. – Hồi đó không có điều tra chính thức nào về bọn trẻ mất tích đó, chúng ta chỉ theo dõi vụ việc thôi. Hơn nữa, Svedberg đã nghỉ ngay sau khi bố mẹ chúng bày tỏ sự lo ngại với chúng ta vài ngày.

Ann-Britt và Martinsson không có gì để thêm vào chủ đề này.

— Phải quan tâm đến cái này, – ông nói.

— Anh nghĩ là có thể anh ấy có một bí mật à? – Martinsson thận trọng hỏi.

— Tất cả mọi người đều có, không phải à?

— Thế thì đó là cái mà chúng ta phải tìm hiểu à? Bí mật của Svedberg?

— Chúng ta phải tìm ra kẻ giết người. Chỉ vậy thôi.

Họ quyết định sẽ gặp nhau ở sở vào tám giờ để xem xét tình hình. Martinsson quay lại nhà người hàng xóm để tiếp tục thẩm vấn những người sống trong tòa nhà. Ann-Britt nán lại trong bếp. Wallander nhìn khuôn mặt hằn sâu vì mệt mỏi và lo lắng của cô.

— Cậu vẫn thức khi tôi gọi điện à?

Ông hối tiếc ngay. Chuyện này đâu có liên quan đến ông. Nhưng cô không có vẻ gì là để ý đến sự tọc mạch của ông.

— Đúng thế, tôi không ngủ.

— Cậu đến rất nhanh. Tôi kết luận là chồng cậu đang ở nhà trông lũ trẻ?

— Khi cậu gọi, chúng tôi đang cãi nhau. Một cuộc cãi nhau nho nhỏ ngu ngốc. Như thể người ta cố tình tạo ra khi không đủ sức đối mặt với những cuộc cãi vã lớn quan trọng.

Wallander không trả lời. Chỉ còn nghe thấy giọng Nyberg thỉnh thoảng vang lên trong phòng khách.

— Tôi không hiểu. Ai có thể muốn làm hại Svedberg?

— Ai biết cậu ấy rõ nhất?

Cô nhìn ông vẻ ngạc nhiên.

— Tôi vẫn nghĩ đó là cậu.

— Không. Tôi không biết cậu ấy rõ đâu.

— Nhưng cậu ấy ngưỡng mộ cậu lắm.

— Tôi không nghĩ thế.

— Cậu không nhận ra đấy thôi, nhưng tôi thì có, và những người khác cũng vậy. Cậu ấy luôn luôn đứng về phía cậu. Ngay cả khi cậu nhầm lẫn.

— Điều này không trả lời vào câu hỏi. Ai biết cậu ấy rõ nhất?

— Không ai cả.

— Thế thì bây giờ chúng ta phải làm quen với cậu ấy.

Nyberg bước vào bếp, một cốc cà phê trên tay. Lúc nào Nyberg cũng mang theo một cái phích Thermos đựng nước nóng, đề phòng trường hợp bị gọi đi đâu đó vào nửa đêm.

— Mọi chuyện thế nào? – Wallander hỏi.

— Rất giống một vụ đột nhập. Chúng tôi chỉ tự hỏi tại sao tên giết người để lại khẩu súng.

— Chúng tôi muốn biết cậu ấy chết lúc mấy giờ.

— Các bác sĩ sẽ làm việc đó.

— Ý kiến của anh?

— Tôi không thích đoán mò.

— Tôi biết. Nhưng anh có kinh nghiệm. Tôi hứa là nếu anh nhầm, điều đó sẽ không được dùng để chống lại anh.

Nyberg gãi gãi bộ râu đang bắt đầu mọc. Mắt ông vằn tia máu.

— Có thể là hai mươi tư giờ rồi. Dù sao thì cũng không thể kém được.

Họ im lặng ghi nhận thông tin này. Ít nhất là hai mươi tư giờ, Wallander nghĩ. Tối thứ Tư. Hoặc trong ngày thứ Năm.

Nyberg ngáp và rời khỏi bếp.

— Tôi nghĩ là cậu nên về nhà, – Wallander nói với Ann-Britt. – Tám giờ là đã phải đủ sức để tổ chức cuộc điều tra này.

Đồng hồ treo tường chỉ năm giờ mười lăm phút.

Ann-Britt cầm áo vest và đi khỏi. Wallander nán ngồi lại ở bàn bếp. Nhiều hóa đơn đặt chồng lên nhau ở bệ cửa sổ. Ông lơ đãng lật giở chúng. Phải bắt đầu từ đâu đó, ông nghĩ. Tại sao lại không phải là các hóa đơn đặt trên bệ cửa sổ. Một hóa đơn tiền điện, một phiếu rút tiền ở máy tự động và hóa đơn của một cửa hàng bán quần áo nam. Wallander đeo kính vào. Svedberg đã rút tiền vào ngày 3 tháng Tám: 2.000 curon. Sau khi rút, trong tài khoản của anh còn 19.314 curon. Sẽ phải nộp tiền điện vào cuối tháng Tám. Theo một hóa đơn khác, Svedberg đã mua một cái áo sơ mi vào ngày 3 tháng Tám - cùng ngày với lần rút tiền. Cái sơ mi giá 695 curon. Đắt đến đáng ngạc nhiên, Wallander nghĩ. Ông đặt đống giấy xuống bệ cửa sổ. Rồi đi ra gặp Nyberg, mượn ông một đôi găng tay nylông và quay lại bếp. Chậm rãi, ông nhìn xung quanh. Rồi ông lần lượt mở các tủ đựng đồ và ngăn kéo. Bếp của Svedberg cũng ngăn nắp giống như phòng làm việc của anh ở sở. Có vẻ như không thiếu thứ gì; không có gì làm ông chú ý. Ông quay lại phòng khách, mượn một cái đèn pin để soi vào lỗ thoát nước của bồn rửa. Ông không hề biết mình hy vọng tìm thấy gì. Ông đi vào phòng làm việc. Phải có một cái kính viễn vọng ở đâu đó, ông nghĩ. Ông ngồi xuống ghế phô tơi và nhìn xung quanh. Nyberg bước vào để thông báo là họ sắp mang xác Svedberg đi. Ông có muốn nhìn anh lần cuối không? Wallander lắc đầu. Hình ảnh Svedberg với một nửa cái đầu in sâu vào trí nhớ ông như một bức ảnh. Không chừa cho ông một chi tiết nào. Ông tiếp tục dõi mắt xem xét căn phòng: các giá sách, những quyển sách bị vứt ra, nằm lỏng chỏng trên sàn nhà; cái bàn với máy nhắn tin ở trên, một cái ống cắm bút chì, vài chú lính chì, một cuốn sổ agenda. Wallander cầm lấy cuốn sổ, lật ra xem theo từng tháng. Ngày 11 tháng Giêng vào lúc chín giờ rưỡi, Svedberg có hẹn ở chỗ nha sĩ. Ngày 7 tháng Ba là sinh nhật Ylva Brink. Ngày 18 tháng Tư, Svedberg ghi một cái tên: Adamsson. Cái tên trở lại vào các ngày 5 và 12 tháng Năm. Không có ghi chép gì trong tháng Sáu và Bảy.

Svedberg nghỉ làm. Cậu ấy than phiền là mình nhiều việc quá. Wallander tiếp tục lật giở cuốn sổ, chậm rãi hơn. Không có chữ nào.

Những ngày cuối đời Svedberg trắng tinh. Ngày 18 tháng Mười là sinh nhật Sture Bjorklund. Ngày 14 tháng Chạp, tên của Adamsson xuất hiện trở lại. Sau đó không còn gì hết. Wallander đặt cuốn sổ về chỗ cũ. Nếu muốn, người ta có thể kết luận rằng Svedberg là một người rất cô độc. Nhưng thật ra thì một cuốn sổ agenda có nghĩa gì? Wallander nghĩ đến cuốn sổ của mình, cả nó cũng không ghi gì nhiều nhặn. Ông nhắm mắt. Thật êm ái, cái ghế phôtơi này. Ông nhận ra là mình rất mệt. Và khát. Adamsson là ai? Ông cúi về phía trước và nhấc tấm lót bàn lên, phát hiện vài mẩu post-it và các vidit.

Một người buôn đồ cổ tên là Boman, ở Goteborg. Số điện thoại của người đại lý xe Audi ở Malmo. Svedberg rất trung thành với xe Audi, giống như Wallander trung thành với xe Peugeot. Một tấm các với cái tên Indian Heritage, doanh nghiệp nằm ở Minneapolis.

Cũng có một mẩu quảng cáo cắt từ một tờ tạp chí - Ortagarden, sức khỏe nhờ cây cối - với một địa chỉ ở Karlshamn. Wallander để cái lót bàn xuống. Hai ngăn kéo bàn làm việc bị giật ra và nằm trên đất.

Hai cái khác mở hé. Cái đầu tiên đựng vài tờ giấy khai thuế; cái thứ hai, thư từ và bưu ảnh. Wallander bới đống thư. Phần lớn là thư từ cách đây hơn mười năm. Gần như đều là thư của mẹ anh. Ông xếp chúng tại. Xem chỗ bưu ảnh, ông ngạc nhiên nhìn thấy một cái mà chính ông đã gửi, từ Skagen, Đan Mạch. Những bãi biển ở đây thật tuyệt vời, ông đã viết. Wallander ngồi đó, tấm bưu ảnh cầm trên tay.

Đã ba năm. Hồi đó, ông xin nghỉ ốm và không hề chắc chắn có trở lại làm việc hay không. Những ngày đó ông một mình đi trên những bãi biển mùa thu vắng người ở Skagen. Ông không nhớ là đã viết tấm bưu ảnh này. Ông còn giữ rất ít kỷ niệm về quãng thời gian đó. Nhưng có vẻ như là ông đã viết cho Svedberg. Cuối cùng thì ông đã quay về Ystad và tiếp tục công việc. Đột nhiên, ông nhớ lại buổi sáng hôm đó. Cuộc họp sáng thứ Hai, ngày đầu tiên quay lại sở. Bjork chào mừng ông trở lại giữa một sự im lặng chung - không ai trong số đồng nghiệp của ông nghĩ là ông sẽ trở về. Svedberg đã lên tiếng. Wallander còn nhớ từng từ. Thật may là anh ở đây, bọn tôi không thể giải quyết công việc thêm được một ngày nữa nếu không có anh, đó là sự thật.

Wallander dừng lại một lúc ở kỷ niệm đó, cố nhìn thấy Svedberg hồi đó. Rụt rè. Nhưng cũng có khả năng, tốt hơn bất kỳ ai khác, phá vỡ một sự im lặng đầy bối rối, tìm ra câu nói mang tính cứu rỗi cho phép cởi nút một tình huống khó khăn. Đó là một cảnh sát có năng lực. Không đặc biệt xuất sắc. Có năng lực. Bướng bỉnh, chu toàn. Không nhiều trí tưởng tượng lắm. Không giỏi viết lách lắm. Những báo cáo rối rắm của anh có khi làm cả các công tố viên thấy bực mình. Nhưng anh hoàn thành nhiệm vụ của mình trong nhóm, anh có trí nhớ tốt và một ý thức rõ ràng về tầm quan trọng của công việc của mình.

Một hình ảnh khác hiện ra trong tâm trí ông. Vài năm trước, họ điều tra một vụ giết người phức tạp, trong đó chủ nhân lâu đài Farnholm đóng một vai trò trung tâm và đáng sợ. Một hôm Svedberg đã nói: Một người giàu như thế không thể là người trung thực được. Cũng trong cuộc điều tra đó, Svedberg đã tiết lộ cho ông một mơ ước cá nhân. Anh hy vọng, anh nói, một ngày nào đó hạ gục được một trong những ông chủ lớn cứ nghĩ mình đứng trên pháp luật ở cái đất nước này.

Wallander đứng dậy và quay vào phòng ngủ. Không có dấu vết nào của một cái kính viễn vọng. Ông quỳ gối nhìn xuống dưới gầm giường. Svedberg dọn dẹp nhà cửa rất kỹ. Không có bụi. Và không có kính viễn vọng. Ông lật mấy cái gối lên. Ông mở tủ quần áo. Đống quần dài và áo sơ mi của Svedberg treo ngay ngắn trên những cái mắc. Có cả một ngăn để giày. Wallander rẽ đống quần áo để nhìn vào tận sâu bên trong. Không có gì. Ông quay sự chú ý của mình sang tủ nhỏ. Nó chứa quần áo lót và ga trải giường. Ông lấy tay thò vào đáy các ngăn kéo. Ngồi lên giường. Một cuốn sách mở trên bàn cạnh giường: một cuốn lịch sử về người Sioux. Bằng tiếng Anh. Svedberg không giỏi tiếng Anh lắm, Wallander nghĩ. Nhưng có thể là anh đọc tốt hơn nói.

Trong khi lơ đãng giở cuốn sách, ông rơi trúng một bức ảnh chân dung đẹp và đầy kiêu hãnh của thủ lĩnh Sitting Bull. Ông nhìn bức ảnh một lúc. Rồi ông vào phòng tắm và mở cửa tủ thuốc có gắn gương bên ngoài. Không có gì đặc biệt, không khác gì tủ của ông. Ông rời khỏi phòng tắm. Còn lại lối vào và phòng khách. Ông bắt đầu bằng lối vào. Ngồi lên một cái ghế thấp và mở ngăn kéo cái tủ nhỏ đặt dưới gương. Ông tìm thấy vài đôi găng và mũ bonnê, trong đó có một cái in quảng cáo cho một hãng đài phát thanh có ở khắp Scanie.

Wallander đứng dậy. Chỉ còn lại phòng khách. Ông không muốn vào đó; nhưng ông không có lựa chọn. Thoạt tiên ông vào bếp và uống một cốc nước. Gần sáu giờ sáng. Ông rất mệt. Rồi ông vào phòng khách. Nyberg đã buộc hai tấm cao su bảo vệ đầu gối và bò bốn chân gần cái sofa bằng da đen kê sát tường. Ghế phô tơi đổ vẫn nằm nguyên ở chỗ đó. Không ai dịch chỗ khẩu súng trường. Chỉ có xác của Svedberg là đã biến mất. Wallander đưa mắt nhìn quanh. Thử nghĩ xem mọi chuyện đã diễn ra như thế nào. Chuyện gì đã xảy ra ngay trước khi kết thúc? Trước những phát súng? Nhưng ông không nhìn thấy gì hết. Cảm giác về sự kỳ quặc quay trở lại. Ông đứng bất động, nín thở, tìm cách tóm lại trực giác đang cố thoát đi. Nyberg đứng dậy. Họ nhìn nhau.

— Anh hiểu ra điều gì đó rồi à?

— Không. Giống như một bức tranh kỳ lạ ấy.

Wallander nghi hoặc nhìn ông.

— Một bức tranh?

Nyberg hỉ mũi và cẩn thận gấp cái khăn mùi soa lại.

— Sự hỗn độn, – ông nói. – Những cái ghế bị xô đổ, những cái ngăn kéo bị kéo ra, giấy tờ và đồ lặt vặt vứt khắp nơi. Nhưng không có nhiều xáo trộn.

Wallander hiểu ra, dù cho ông chưa hề nghĩ đến điều đó.

— Dàn cảnh à?

— Dĩ nhiên là tôi không có bằng chứng nào hết.

— Điều gì khiến anh nghĩ vậy?

Nyberg chỉ một con gà trống nhỏ bằng sứ nằm trên mặt đất.

— Tôi đoán chỗ của con gà trống này là ở đây, ông chỉ lên một cái giá. Tôi không thấy có chỗ nào khác. Nhưng nếu nó rơi xuống bởi vì có ai đó giật bừa một cái ngăn kéo, thì làm thế nào mà nó lại nằm ở tận đầu kia phòng được?

Wallander gật đầu. Ông hiểu.

— Chắc chắn là phải có một cách giải thích phù hợp nào đó, ông nói tiếp. Việc của anh là tìm ra nó.

Wallander không trả lời. Ông nán lại ở phòng khách thêm vài phút nữa. Rồi ông rời khỏi căn hộ. Trên phố, trời đã sáng rõ. Một chiếc ôtô cảnh sát đỗ trước tòa nhà, nhưng không có người tụ tập. Hẳn là cảnh sát đã được lệnh không được đưa thông tin gì ra ngoài; ông không cảm thấy đủ sức để kiểm tra chuyện đó.

Ông đứng lại, thở thật sâu nhiều lần. Ngày sẽ rất đẹp.

Cùng lúc, lần đầu tiên ông cảm thấy rằng cái chết của Svedberg thực sự gây cho ông một nỗi buồn lớn lao. Ông cũng hiểu là sự đau đớn đó - dù cho nó là chân thành hay xuất phát từ suy nghĩ về cái chết của chính ông - sẽ còn đeo đẳng ông rất lâu. Ông cũng cảm thấy sợ. Cái chết đã đi lướt qua rất gần ông. Không giống như cái chết của bố ông. Khác hẳn.

Điều đó làm ông kinh hãi.

Sáu giờ hai mươi lăm phút, thứ Sáu mồng 9 tháng Tám. Wallander chậm rãi đi ra xe. Một xe trộn bê tông bắt đầu hoạt động trên phố vắng người.

Mười phút sau, Wallander bước vào sở cảnh sát.

không mất nhiều thời gian để phát hiện Svedberg là một nhà sưu tầm. Những chiếc giày và áo vest cũ xơ ra này hẳn đã có tuổi thọ ít nhất là hai mươi năm. Ông tiếp tục cuộc tìm kiếm của mình, một cách có hệ thống. Trong một cái vali, ông tìm
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.