Chậm Một Bước

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
22

❊ ❊ ❊

Ngày quá dài.

Rất nhiều bưu kiện, thư bảo đảm, giấy chuyển tiền từ nước ngoài. Gần mười bốn giờ gã mới xong được phần tính toán sẽ phải nộp vào hôm sau.

Trong cuộc đời trước của gã, công việc mất nhiều thời gian hơn dự định hẳn là đã làm gã cáu kỉnh. Giờ đây, gã không thấy gì nữa. Sự chuyển hóa đã, ngoài những điều khác, khiến gã trở nên vô nhiễm trước thời gian. ‘Quá khứ’ không còn tồn tại. ‘Tương lai’ cũng vậy. Không còn chút thời gian nào để mất; hay để được. Điều mà gã làm, đó là cái duy nhất có ý nghĩa. Không có điều gì khác quan trọng nữa cả.

Gã xếp cái túi đựng thư và cái két đựng tiền lại. Rồi gã tắm và thay đồ. Gã chưa ăn gì kể từ sáng, trước khi đến trung tâm chọn thư. Nhưng gã không đói.

Giống như hồi còn nhỏ. Khi một sự kiện gây kích thích đang chờ đợi, gã không còn thấy muốn ăn nữa.

Gã đi vào căn phòng cách âm và bật đèn lên. Giường đã được trải một cách cẩn thận. Gã ngồi xếp chân bằng tròn ở giữa tấm khăn trải giường màu xanh thẳm và xếp chồng thư thành một hình vành khuyên. Gã đã biết nội dung của chúng. Đó là bước đầu tiên: lựa chọn những bức thư hấp dẫn nhất, kín đáo mở chúng ra mà không làm hư hại phong bì, sao chụp chúng rồi, sau đó, đọc chúng. Gã không biết đã từng mở, đã từng sao và đọc bao nhiêu thư theo cách đó trong suốt năm vừa qua. Chắc là phải gần hai trăm cái. Phần lớn đều trung tính, tầm thường, nhàm chán - cho đến ngày gã mở bức thư đầu tiên của Lena Norman gửi cho Martin Boge.

Gã ngừng suy nghĩ đó lại. Ở phía đó tất cả đã kết thúc, không cần quay trở lại nữa. Bước cuối cùng phức tạp và mệt mỏi nhất: trước hết là chuyến đi dài đến Ostergotland, rồi cuộc đi dạo dài với đèn pin trong túi để tìm cho ra một chiếc tàu đủ lớn để đến được hòn đảo.

Rất phức tạp. Gã không thích những chuyện phức tạp. Lúc nào chúng cũng bao gồm luôn một thứ kháng lực, điều mà hơn mọi thứ trên đời gã muốn tránh khỏi.

Gã nhìn những lá thư đang nằm xung quanh mình.

Ý tưởng lựa chọn một cặp vợ chồng trẻ chưa từng lướt qua óc gã trước tháng Năm. Đó là một sự tình cờ tuyệt đối; cũng như không biết bao nhiêu cái khác trong cuộc sống. Ở cuộc đời trước; thời gã còn là kỹ sư, sự tình cờ đã bị loại bỏ hoàn toàn khỏi tồn tại của gã. Giờ đây, mọi thứ đã khác. Trò chơi may rủi và trùng hợp ngẫu nhiên giống như một chuỗi không ngừng những lời đề xuất mà cuộc đời dành cho gã. Gã được lựa chọn: gã có thể đón nhận chúng; hoặc để chúng trôi qua.

Cái cặp quần áo nhỏ - dấu hiệu cho thấy chủ của hộp thư muốn nói chuyện với gã - không hề tiết lộ điều gì. Nhưng, khi gõ cửa và bước vào cái bếp đó, gã tìm thấy hơn một trăm phong bì đựng giấy mới. Cô dâu sắp cưới đang ở đó, chính cô mở cửa cho gã. Gã không còn nhớ tên cô, chỉ nhớ niềm vui của cô. Niềm vui đó khiến gã điên tiết. Gã đã gửi đi những tờ giấy mời. Vào thời gian đó gã đang ngập chìm trong đống công việc chuẩn bị phức tạp cho một bữa tiệc đêm Saint-Jean mà gã phải tham gia. Nếu không, có thể là gã đã có mặt ở đám cưới đó, đám cưới mời đến không biết bao nhiêu người.

Nhưng những cơ hội mới không ngừng đổ dồn về. Những tình cờ, trùng hợp. Sáu cái phong bì ở trước mặt gã đều đựng một loại giấy mời đến một đám cưới. Gã đã đọc những lá thư trao đổi giữa cặp vợ chồng sắp cưới, gã đã làm quen với họ. Gã biết họ sống ở đâu, trông họ ra sao và nơi sẽ tổ chức các hoạt động tiệc tùng. Những tờ giấy mời nằm trên giường kia chỉ là một thứ giúp ghi nhớ tốt hơn.

Giờ đây, còn lại điều quan trọng hơn cả. Quyết định xem trong số đó đâu là cặp vợ chồng hạnh phúc nhất.

Gã lần lượt mở từng cái phong bì. Nhớ lại khuôn mặt của từng người trong số đó, những bức thư mà họ đã viết, cho nhau, hoặc cho bạn bè. Gã kìm giữ chậm nhất có thể được giây phút phải quyết định. Cảm giác khoan khoái thật mạnh mẽ.

Gã cố chế ngự. Trong căn phòng cách âm này, gã thoát được ra ngoài tất cả những gì từng làm gã quay cuồng trước đây. Cảm giác được ở một nơi cách biệt. Không ai hiểu. Ở đây, trong căn phòng này, thậm chí gã còn đủ sức nhớ lại thảm họa lớn. Ngày mà gã hoàn toàn bị loại bỏ, bị tuyên bố là vô tích sự.

Không gì còn khó khăn nữa. Ngoài kỷ niệm về cái cách gã bị nhục mạ trong suốt hơn hai năm: trả lời những quảng cáo nhận việc, gửi cv, đến không biết bao nhiêu cuộc tuyển trạch việc làm.

Cho đến ngày, đột nhiên, gã được giải thoát. Bằng cách từ bỏ tất cả. Bằng cách trở thành một con người khác.

Gã đã gặp may. Ngày nay, gã sẽ không bao giờ có thể trở thành người đưa thư thay thế. Có những barie dựng lên ở khắp nơi, hết người này đến người khác bị đuổi việc. Gã đã nhận ra điều đó khi được cử đến làm ở các bộ phận khác nhau, Nhưng con người phải ngồi nhà chờ đợi. Bị loại bỏ. Càng ngày họ càng đông hơn. Những người đó không biết là có thể thoát được tất cả những thứ……..

Cuối cùng, gã cũng quyết định được. Đó sẽ là cặp vợ chồng tổ chức đám cưới vào thứ Bảy 17 tháng Tám ở ngoại ô Kopingebro. Đây sẽ là một bữa tiệc lớn. Thậm chí gã còn không nhớ nổi số lượng giấy mời đã gửi đi. Nhưng khi bước vào ngôi nhà để lấy tất cả đống phong bì đó, cặp vợ chồng sắp cưới đều ở đó, và hạnh phúc của họ có vẻ là không có giới hạn. Khó khăn lắm gã mới tự kiềm chế được. Gã những muốn giết chết họ ngay. Nhưng gã đã giữ được bình tình như thường lệ. Gã đã chúc họ gặp nhiều hạnh phúc. Không ai có thể giải mã được những suy nghĩ thực của gã.

Đó chính là điều quan trọng nhất đối với một con người. Biết cách tự kiềm chế.

Đó sẽ là một ngày đáng nhớ. Chính xác giống như đêm Saint-Jean.

Không ai nghi ngờ điều gì hết. Lại thêm một lần nữa, gã sẽ thể hiện sự vượt trội tuyệt đối của mình trong nghệ thuật đào thoát.

Gà xếp đống phong bì lại và nằm dài xuống giường. Nghĩ đến tất cả những bức thư mà người ta đang viết vào đúng lúc này - những bức thư sẽ rơi vào tay gã, mà gã sẽ lựa chọn, mà gã sẽ mở ra và sẽ đọc.

Các cơ hội vẫn tiếp tục tràn đến. Gã chỉ cần làm một việc là gặt hái chúng.

• • •

Sáng thứ Sáu, Wallander bắt đầu nghiêm túc tập trung vào cuộc đời Svedberg. Ông đến sở không lâu sau bảy giờ và bắt tay vào việc với một cảm giác khó ở. Ông không biết mình đang tìm kiếm cái gì. Chỉ có một điều chắc chắn: đâu đó trong cuộc đời Svedberg, ông phải tìm ra được nguyên nhân vụ sát hại Svedberg. Thật buồn thảm khi phải lục lọi trong những bí mật của một người chết.

Trước đó, ông đã gõ cửa - phòng Ann-Britt Hoglund. Cô có ở đó, dù vẫn còn rất sớm. Ông đưa cho cô bài diễn văn mà ông đã viết hồi đêm và bảo cô cho ý kiến, dù sao cô cũng sẽ là người đọc nó. Trong hành lang, Ông nghĩ có lẽ mình nên nói chuyện với Thurnberg, nhưng ông bỏ ý định đó đi ngay. Ai đó khác sẽ làm những chuyện này thay cho ông. Những lời đồn lan truyền rất nhanh trong sở cảnh sát.

Ông bắt đầu bằng việc gọi điện thoại cho Ylva Brink, vừa về đến nhà sau một ca trực đêm ở bệnh viện. Ông đề nghị sẽ gọi lại sau. Nhưng cô nói là ý nghĩ về chuyện xảy đến cho người em họ làm cô không ngủ nổi, và rồi cô cảm thấy sợ. Tuần tới chồng cô sẽ về, đến khi đó hẳn là mọi việc sẽ khá hơn. Thật không may là anh không thể về kịp để dự đám tang.

Wallander nói là ông hiểu. Rồi ông bảo cô nói về Svedberg. Bố mẹ, anh, tuổi thơ của anh. Ông những muốn nói chuyện trực tiếp với cô hơn là qua điện thoại như thế này. Ông đã suýt đề nghị cô đến chỗ mình – ông có thể điều một chiếc xe đến đón cô - nhưng rồi lại thôi. Ông ghi chép không ngừng, hết trang này đến trang khác, bằng lối chữ nguệch ngoạc của mình. Martinsson hai lần xuất hiện ở cửa, Nyberg một lần. Ông ra hiệu bảo họ quay lại sau. Cuộc nói chuyện kéo dài gần một giờ, trong đó ông chỉ lên tiếng để bảo cô nói chậm hơn hoặc kiểm tra lại một cái tên. Dần dần ông hiểu ra là về phần mình - cô - đã suy nghĩ rất nhiều - để tìm lại các kỷ niệm, và có thể là cũng để tìm ra một lời giải thích. Khi bỏ máy, ông nhận ra má mình đẫm mồ hôi. Ông vào toalet và rửa mặt. Rồi ông đọc lại nhanh các ghi chép và gạch chân lên những người cần hỏi. Người mà ông quan tâm hơn cả tên là Jan Soderblom. Ylva Brink, Svedberg rất hay gặp gỡ với anh ta hồi còn đi nghĩa vụ quân sự và thời gian đầu làm cảnh sát. Sau đó Soderblom lấy vợ và chuyển đi sống ở nơi khác, ở Malmo hoặc ở Landskrona cô không nhớ rõ nữa. Chi tiết đáng quan tâm, Soderblom cũng vào làm cảnh sát. Wallander chuẩn bị gọi cho sở cảnh sát Malmo thì Nyberg - - lại xuất hiện, lần này trên tay vung vẩy một tờ fax. Theo dáng điệu của ông, Wallander đoán ra ngay là có tin mới.

— Thế nào?

— Trước hết là vũ khí. Khẩu súng ngắn ăn cắp ở Ludvika cùng lúc với khẩu súng săn cũng rất có thể chính là khẩu đã được sử dụng ở khu bảo tồn.

— Rất có thể?

— Trong ngôn ngữ của tôi, điều đó có nghĩa chính là nó.

— Tốt lắm. Chúng ta đang cần.

— Về các dấu vết, chúng ta có một dấu ngón tay cái phải trên khẩu súng trường. Ngoài ra còn có một ngón tay cái khác trên một trong mấy cái ly đặt trên mảnh vải nơi tìm thấy mấy thanh niên.

— Cùng ngón tay trỏ đó?

— Phải.

— Nó có trong hồ sơ không?

— Không có trong hồ sơ Thụy Điển. Nhưng anh có thể yên tâm, ngón tay cái đó sẽ được đi vòng quanh thế giới.

— Như vậy đó là cùng một kẻ, – Wallander chậm rãi nói. – Bớt hẳn được một sự không chắc chắn to lớn.

— Trên kính viễn vọng không tìm được dấu tay nào khác ngoài của Svedberg.

— Như vậy có nghĩa là chính cậu ấy đã giấu cái kính à?

— Không nhất thiết. Người đã làm điều đó rất có thể đeo găng.

— Ngón tay trên khẩu súng trường: có tìm được ở đâu khác trong căn hộ của Svedberg không? Sẽ rất quan trọng nếu biết được ai đã làm xáo trộn cả căn hộ, kẻ giết người hay Svedberg.

— Cái đó thì chắc là còn phải chờ thêm một chút. Nhưng họ sẽ lo chuyện này.

Wallander, đã đứng lên, giờ dựa lưng vào tường. Ông cảm thấy còn có một cái gì đó khác.

— Khẩu súng lục như thế nào?

— Một khẩu Astra Constable. Chắc là có nhiều loại đó trên khắp Thụy Điển lắm. Ở Đức cũng nhiều.

— Và ở Ludvika người ta không nghi ngờ ai à?

—Tôi đã nói chuyện nhiều lần với Wester. Đôi khi khó mà hiểu nổi thứ phương ngữ của anh ta, nhưng anh ta đã gửi cho tôi tất cả những thứ giấy tờ mà anh ta có thể tìm được. Cuối cùng họ đã xếp hồ sơ lại. Ngược lại, họ gắn chúng vào một vụ trộm vũ khí khác, xảy ra vài ngày trước đó, ở Orsa. Nhưng cả ở vụ đó cũng không có ai bị tình nghi.

— Một khẩu súng có thể được bán lại rất dễ dàng.

— Đúng, họ đã thử tìm nó trong các hồ sơ, để xem liệu nó có được sử dụng vào một dịp khác hay không. Cướp ngân hàng chẳng hạn, cái đó rất có thể cung cấp cho chúng ta một dấu vết.

— Dù thế nào đi nữa, chúng ta có thể loại trừ khả năng Svedberg ăn cắp súng ở Ludvika và Orsa. Hoặc cậu ấy mua lại vũ khí, hoặc chúng không thuộc về cậu ấy.

— Người ta không tìm thấy dấu tay của Svedberg trên khẩu súng trường. Điều đó có thể có nghĩa gì đó, nhưng không nhất thiết.

— Dù sao thì chúng ta cũng tiến lên được một bước dài. Cùng một kẻ đã giết tất cả.

— Có thể là chúng ta nên báo tin cho công tố viên, để cho ông ta vui.

—… hoặc làm ông ta thất vọng, vì chuyện này đi ngược lại với cái danh tiếng xấu xa mà ông ta muốn đổ lên đầu chúng ta. Nhưng tất nhiên là chúng ta sẽ gửi một báo cáo cho ông ta.

Nyberg rời khỏi phòng. Wallander cầm lấy điện thoại gọi cho Malmo. Ở đó đúng là có một cảnh sát tên là Jan Soderblom, chủ yếu phụ trách các vụ xâm phạm đất đai. Wallander xin được nói chuyện thẳng với anh, nhưng anh lại đang đi nghỉ trên một hòn đảo ở Hy Lạp và thứ Tư tới mới quay về. Wallander để lại một tin nhắn - ông muốn nói chuyện với anh sớm nhất có thể - và ghi lại cả số điện thoại nhà mình. Ông vừa bỏ máy thì Ann-Britt gõ vào cánh cửa đang mở hé. Cô cầm diễn văn của ông trên tay.

— Tôi đọc rồi, và tôi thấy nó vừa trung thành vừa cảm động. Mặt khác, viết rất tốt. Không ai cảm động vì những lời giả tạo về sự vĩnh cửu và sự chiến thắng của ánh sáng trước bóng tối.

— Không dài quá chứ?

— Tôi đã đọc to ở trong phòng. Mất chưa đến năm phút. Tôi không có thói quen đọc diễn văn ở các đam tang, nhưng tôi nghĩ là nó rất hoàn hảo.

Wallander nói lại cho cô các thông tin của Nyberg.

— Chúng ta đã tiến được một bước dài, cô nói khi ông đã nói xong. Chỉ cần tìm ra được kẻ hoặc những kẻ đã ăn cắp những thứ vũ khí đó.

— Sẽ khó đấy. Chúng ta có nên đăng ảnh cả khẩu súng lục lẫn khẩu súng trường không?

— Mười một giờ có một cuộc họp báo. Lisa bị cánh báo chí bao vây kinh quá. Có lẽ là nên nói cho họ về mấy khẩu súng. Chúng ta có mất gì khi chính thức công nhận có liên quan giữa vụ sát hại Svedberg và vụ giết mấy thanh niên đâu? Chuyện này sẽ tạo ra một kiểu giết người hàng loạt rất lâu rồi chưa thấy có trên cái đất nước này.

— Cậu có lý. Tôi sẽ có mặt ở đó vào mười một giờ.

Cô nán lại thêm.

— Người phụ nữ, – cô nói. – Cái cô Louise bí ẩn mà có vẻ như là chưa từng có ai nhìn thấy. Tôi vừa nói chuyện với Martinsson. Chúng ta có rất nhiều thông tin từ dân chúng, nhưng không có gì cho thấy là có ai đó nhận diện được cô ấy.

— Thật là không sao hiểu nổi. Chúng ta đã nói đến chuyện mở rộng tìm kiếm sang Đan Mạch…

— Tại sao lại không phải là trên toàn châu Âu?

— Phải, tại sao không? Nhưng cứ bắt đầu bằng Đan Mạch đã. Bây giờ, ngay lập tức.

— Tôi phải đi Lund để xem xét căn phòng thuê của cô sinh viên Lena Norman. Nhưng tôi sẽ bảo Hansson lo chuyện đó.

— Không. Hansson đi tìm mấy cái xe mất tích rồi. Chắc là phải có ai đó nữa chứ…

— Chi viện từ Malmo chắc sẽ không thừa đâu. Theo Lisa thì chiều nay họ sẽ đến.

— Chúng ta nhớ Svedberg. Chỉ đơn giản là như vậy thôi. Chúng ta còn chưa quen được với sự vắng mặt của cậu ấy.

Họ im lặng một lúc. Rồi Ann-Britt đi khỏi. Wallander mở cửa sổ. Trời vẫn nóng. Điện thoại đổ chuông. Đó là Ebba, vẻ mệt mỏi. Những năm gần đây bà đã già đi rất nhiều. Trước đây, lúc nào cũng có thể trông chờ vào bà để được lên dây cót tinh thần. Giờ đây bà thường xuyên tỏ ra buồn bã. Đã có lúc bà quên không chuyển vài tin nhắn. Hè tới bà sẽ về hưu, Không ai muốn nghĩ đến chuyện đó cả.

— Một người tên là Larsson từ sở cảnh sát Valdemarsvik, – bà nói. – Mọi người bận hết rồi, anh tiếp anh ta nhé?

Larsson là một trợ lý có cái giọng Ostergotland rất nặng.

— Harry Lundstrom ở Norrkoping nói rằng anh sẽ quan tâm đến chuyện biết được liệu có chiếc tàu nào bị ăn cắp ở Gryt trong hai mươi tư giờ trước cái chết của cô gái ở Bamso hay không.

— Đúng vậy.

— Có lẽ là chúng tôi đã tìm được một cái. Nó biến mất khỏi Snackvarp, người chủ không thể biết chính xác nó không còn ở nhà mình từ khi nào, nhưng hôm qua người ta đã tìm thấy nó trong một vũng biển phía Nam Snackvarp. Một con tàu nhựa dài sáu mét với bục lái.

Wallander không biết gì về tàu bè.

— Có thể đi đến Bamso bằng cái tàu đó à?

— Nếu không có gió, thậm chí còn có thể đến tận Gotland.

Wallander suy nghĩ.

— Liệu có lấy được dấu tay không?

— Chúng tôi đã làm việc đó rồi. Có một vết dầu trên vôlăng nên chúng tôi lấy được mấy cái dấu rõ lắm, và đã gửi đi thông qua Norrkoping. Harry là người điều hành toàn bộ.

— Có đi được ôtô đến chỗ tìm lại được cái tàu không?

— Nó được giấu trong đám sậy. Nhưng có một lối đi trải sỏi. Mười phút đi bộ là đến được Snackvarp.

— Đây là những thông tin quan trọng.

— Các anh sẽ tìm được tên giết người chứ?

— Chắc chắn rồi. Nhưng chắc là sẽ mất thời gian.

— Tôi chưa bao giờ gặp cô gái. Nhưng cách đây vài năm, tôi có chuyện với bố cô ấy, Edengren.

— Về vấn đề gì?

— Ông ta đặt lưới và lờ câu lươn ở chỗ nhà người khác.

— Câu cá bị cấm à?

— Cũng tùy chỗ. Cơ bản là ông ta không tìm hiểu trước. Ông ta không thèm quan tâm. Nói mọi chuyện một cách thẳng thắn, ông ta coi trời bằng vung. Nhưng bây giờ thì chắc là không oai được mãi rồi, sau khi con gái ông ta chết.

— Không còn gì khác ngoài vụ câu cá à?

— Theo tôi biết thì không.

Wallander cảm ơn. Rồi ông tìm cách gọi cho Harry Lundstrom ở Norrkoping. Người ta cho ông một số điện thoại di dộng.

Lundstrom đang ở đâu đó, trong xe, Wallander kể cho ông là họ đã nhận dạng được vũ khí trong vụ khu bảo tồn, và sẽ sớm biết liệu nó có được dùng ở Bamso hay không, Lundstrom cho ông biết rằng họ không tìm được gì trên đảo; nhưng ông thấy gần như chắc chắn rằng chiếc tàu bị đánh cắp ở Snackvarp đã được tên giết người sử dụng.

— Bây giờ thì người sống ở quần đảo sợ hãi lắm. Các anh phải tìm ra hắn.

— Vâng. Chúng tôi sẽ tìm được hắn.

Ông đi lấy một cốc cà phê. Đã chín giờ rưỡi. Một ý nghĩ vừa thoáng qua óc ông. Ông quay lại phòng mình và tìm số điện thoại của Lundberg ở Skarby. Người vợ trả lời máy. Wallander nhận ra là mình chưa hề nói chuyện với họ kể từ khi Isa chết. Cho nên trước hết ông tỏ lời chia buồn.

— Erik đang ngủ, ông ấy không đủ sức để dậy nữa. Ông ấy nói sẽ bán nhà đi khỏi đây. Kẻ nào có thể làm được chuyện đó với một đứa trẻ cơ chứ?

Chính thế đấy, Wallander nghĩ. Isa giống như con của họ. Lẽ ra mình phải nghĩ đến chuyện này sớm hơn.

Ông không biết trả lời câu hỏi đó thế nào, nhưng ông nhận ra bà không hề buộc tội ông.

— Tôi đang tự hỏi không biết bố mẹ cô ấy đã về chưa, – cuối cùng ông nói.

— Rồi, tối qua.

Ông lại chia buồn với bà lần nữa trước khi bỏ máy.

Ông có ý định trực tiếp đến Skarby sau cuộc họp báo. Nếu có thể ông đã đi ngay nhưng ông sẽ không về kịp lúc mười một giờ. Ông gọi cho Thurnberg. Không bình luận gì về những gì ông nghe được vào tối qua, ông tóm tắt ngắn gọn các kết luận kỹ thuật. Thurnberg im lặng lắng nghe. Wallander kết thúc bằng thông tin quyết định, giờ dây họ chỉ phải tìm một tên giết người. Thurnberg đòi có một báo cáo viết. Wallander hứa sẽ gửi.

— Có một cuộc họp báo vào lúc mười một giờ, ông kết luận. Tôi nghĩ chúng ta sẽ phải thông báo các thông tin này cho báo chí. Tôi cũng cho là cần đăng ảnh hai khẩu súng.

— Đã có ảnh luôn chưa?

— Muộn nhất là ngày mai.

Thurnberg không phản đối gì. Ông ta cũng sẽ đến dự cuộc họp báo. Cuộc nói chuyện mang tính hình thức và ngắn gọn, nhưng Wallander nhận ra là mình toát mồ hôi.

• • •

Cuộc gặp báo chí diễn ra trong phòng họp lớn. Wallander không nhớ lần cuối cùng báo chí quan tâm nhiều đến vậy là bao giờ. Như thường lệ, sự căng thẳng bao trùm lên ông khi bước lên bục phát biểu. Trước sự ngạc nhiên của ông, Thurnberg là người lên tiếng đầu tiên. Chuyện này chưa từng bao giờ xảy ra, Per Akesson vẫn luôn nhường công việc đó cho Wallander hoặc cảnh sát trưởng. Thurnberg có vẻ đã quen nói chuyện với báo chí. Thời đại mới rồi, Wallander nghĩ - chỉ bởi sự độc ác thuần túy hay là vì ghen tị? Ông tự hỏi mình điều đó trong khi chăm chú lắng nghe Thurnberg nói. Không thể phủ nhận rằng tay công tố viên này nói năng rất giỏi.

Sau đó, đến lượt ông. Ông đã ngoáy vài điểm quan trọng trên một mẩu giấy, và tất nhiên là bây giờ không thấy nó đâu nữa. Ông nói về mấy khẩu súng, nói đến vụ ăn cắp ở Ludvika, mối liên hệ giả định với một vụ trộm khác ở Orsa, và kết luận rằng họ đang đợi lời khẳng định rằng, khẩu súng cũng đã được sử dụng ở bamso. Vừa nói ông vừa nghĩ đến Westin và con tàu của bưu điện. Tại sao ? Ông cũng nói đến việc phát hiện ra con tàu bị ăn cắp. Khi ông nói xong, có cả một cơn lũ câu hỏi. Thurnberg trả lời phần lớn trong số đó. Thỉnh thoảng, Wallander nói rõ hơn một cách ngắn gọn, Martinsson lắng nghe, hai tay khoanh trước ngực, lưng dựa vào tường ở cuối phòng.

Để kết thúc, một nữ phóng viên mà Wallander chưa bao giờ nhìn thấy xin được hỏi. Cô hướng thẳng về phía ông:

— Nếu tôi hiểu đúng, cảnh sát không biết được chắc chắn?

— Chúng tôi đang làm việc theo nhiều hướng, nhưng chưa thực hiện được một đột phá quyết định.

— Dù sao tôi cũng nghĩ là phải nhận xét rằng cảnh sát đang giẫm chân tại chỗ. Chẳng lẽ không có một nguy cơ rất lớn là tên giết người sẽ tiếp tục hoành hành sao? Có vẻ như rõ ràng đó là một kẻ loạn óc.

— Chúng tôi còn chưa biết được. Chính vì lẽ đó mà chúng tôi đang tìm cách tìm kiếm trên diện rộng, không đặc biệt thiên về giả định nào hết.

— Nghe ông nói thì có vẻ như là có một chiến lược, nhưng có phải nói đúng hơn đó là biểu hiện sự bất lực của các ông không?

Wallander liếc nhìn Thurnberg, người gật đầu ra hiệu rất kín đáo bảo ông trả lời.

— Trong trường hợp đó, chúng tôi sẽ không còn là cảnh sát nữa.

— Nhưng ông cũng đồng ý với tôi về việc các ông đang tìm kiếm một kẻ loạn óc chứ?

— Không.

— Thế thì là ai?

— Chúng tôi còn chưa biết.

— Ông có nghĩ là sẽ bắt được kẻ đã gây ra những chuyện đó không?

— Có.

— Hắn sẽ có tiếp tục giết người không?

— Chúng tôi không biết được.

Wallander lợi dụng khoảng im lặng ngắn ngủi tiếp theo đó để đứng dậy. Mọi người đều hiểu rằng cuộc họp đã kết thúc. Thurnberg hẳn là muốn kết luận một cách chính tắc hơn, nhưng, khi ông ta kịp quay sang Wallander thì ông đã đi ra khỏi phòng. Ở chỗ tiếp tân, ông bị các phóng viên muốn phỏng vấn chặn lại; ông bảo họ nên đi hỏi Thurnberg. Sau đó Ebba kể lại cho ông rằng ông ta đã đứng trước máy quay với vẻ khoái trá rất rõ.

Wallander đi tìm áo vest và nghĩ mình phải ăn cái gì đó trước khi đi Skarby. Tại sao hình ảnh Westin lại hiện ra trong tâm trí ông trong cuộc họp báo? Hẳn là điều đó phải có một ý nghĩa nào đó. Ông ngồi xuống bàn và tìm cách nhớ lại mà không được. Vừa mặc xong áo vest thì điện thoại di động rung lên trong túi áo ông. Đó là Hansson.

— Tôi tìm được xe của Norman và Boge rồi! Một chiếc Toyota 91 và một chiếc Volvo, dùng lâu hơn một năm. Chúng nằm trên một bãi đỗ xe gần Sandhammaren. Tôi đã nói chuyện với Nyberg. Ông ấy đang đến.

— Tôi cũng thế.

Wallander dừng lại trước một ki-ôt để ăn. Mua những chai nước lớn đã trở thành một thói quen của ông. Dĩ nhiên là ông đã quên uống thuốc mà Goransson kê cho. Thậm chí ông còn không nhớ ra mà mang theo. Rất tức tối, ông quay về Mariagatan, lái xe quá nhanh. Ở lối vào có thư. Một tấm bưu ảnh của Linda, đang đến thăm bạn ở Hudiksvall, và một cái khác của em gái Kristina của ông - cái này thì nằm trong một chiếc phong bì. Wallander mang thư từ vào bếp. Ở sau phong bì, chị ông viết một địa chỉ khách sạn ở Kemi. Đó là một nơi nằm ở phía Bắc Phần Lan; ông tự hỏi chị mình làm gì ở đó. Được rồi, ông sẽ đọc chúng sau. Ông lấy một cốc nước để uống thuốc. Khi đi khỏi, ông đứng sững lại một lúc trên ngưỡng cửa phòng bếp để nhìn mấy cái thư để trên bàn. Hình ảnh Westin quay trở lại. Lần này, ông đã nhìn được rõ hơn.

Đó là vài lời mà Westin đã nói trong chuyến đi đến Bamso.

Ông cố nhớ lại cuộc nói chuyện như nó đã diễn ra, trong tiếng ồn của động cơ. Họ đang ở trong khoang lái. Westin đã nói điều gì đó quan trọng. Điều gì? Ông quyết định gọi điện cho Westin. Nhưng trước hết ông muốn nhìn thấy hai cái xe mà Hansson vừa tìm thấy.

Nyberg đã có mặt ở đó. Chiếc Toyota và chiếc Volvo đỗ cạnh nhau, bên trong một vòng dây vừa được đựng vội. Người ta đang chụp ảnh chúng, cửa và cốp mở toang. Wallander tiến lại gần Nyberg.

— Cám ơn về tối qua nhé, – ông nói.

— Năm 1973, tôi có bạn từ Stockholm đến và buổi tối chúng tôi đã ra quán. Tôi nghĩ là kể từ đó chưa bao giờ có chuyện đó nữa cả.

Wallander nhớ ra là mình còn chưa trả tiền cho Edmundsson.

— Dù thế nào đi nữa thì đó cũng là một buổi tối rất tuyệt.

— Đã có tin đồn rằng chúng ta suýt bị bắt khi định ăn quỵt.

— Thì cứ hy vọng rằng chuyện đó sẽ không đến tai Thurnberg, rất có khả năng ông ta sẽ coi nó là nghiêm túc đấy!

Wallander đến gặp Hansson đang ghi chép vào một cuốn sổ.

— Có gì phải nghi ngờ không?

— Chiếc Toyota là của Lena Norman. Chiếc Volvo thuộc về Martin Boge.

— Chúng ở đây từ bao lâu rồi?

— Không biết được. Vào tháng Bảy, bãi xe lúc nào cũng kín đặc. Chỉ đến tháng Tám người ta mới bắt đầu nhận ra hai cái xe cứ nằm ì mãi ở đây.

— Có cách nào để biết liệu có phải chúng đã ở đây từ ngày Saint-Jean không?

— Cái đó thì phải hỏi Nyberg.

Wallander quay lại chỗ Nyberg, hiện đang xem xét chiếc Toyota.

— Điều quan trọng nhất, – Wallander nói, – là các dấu tay. Hẳn là kẻ nào đó đã phải lái nó từ khu bảo tồn đến đây.

— Nếu hắn không thèm đeo găng tay thì hẳn là dấu tay không hề nằm trong hồ sơ cảnh sát nào và hắn biết điều đó.

— Tôi đã nghĩ đến chuyện này. Cứ hy vọng là anh nhầm đi.

Wallander lên xe. Khi đến chỗ rẽ vào Loderup, ông không thể ngăn ham muốn liếc nhìn qua ngôi nhà của bố ông. Một tấm pannô báo nó đang được chào bán. Ông không dừng lại; tấm pannô khiến ông cảm thấy khó ở. Sắp về đến Ystad thì điện thoại của ông rung lên ở ghế bên cạnh. Đó là Ann-Britt.

— Tôi đang ở Lund, trong căn hộ của Lena Norman. Tôi nghĩ là cậu phải đến đây đi.

— Tại sao?

— Rồi cậu sẽ thấy. Tôi nghĩ là quan trọng đấy.

Wallander ghi lại địa chỉ và rẽ về hướng Lund.

không mất nhiều thời gian để phát hiện Svedberg là một nhà sưu tầm. Những chiếc giày và áo vest cũ xơ ra này hẳn đã có tuổi thọ ít nhất là hai mươi năm. Ông tiếp tục cuộc tìm kiếm của mình, một cách có hệ thống. Trong một cái vali, ông tìm
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.