Thứ Tư ngày 7 tháng Tám 1996, Kurt Wallander suýt bỏ mạng trong một tai nạn giao thông ngay ở rìa phía Đông Ystad.
Chuyện xảy ra vào sáng sớm, không lâu sau sáu giờ. Ông đang trên đường đi Osterlen, vừa quá đoạn Nybrostrand. Đột nhiên ông nhìn thấy một cái xe tải chình ình ngay trước chiếc Peugeot của mình. Ông suýt đâm phải nó nếu không kịp đánh mạnh tay lái.
Ông dừng xe lại bên lề đường. Mãi đến khi đó nỗi sợ mới ập đến tóm lấy ông. Tim đập loạn, buồn nôn, chóng mặt. Ông nghĩ là mình sẽ ngất. Ông dùng hết sức nắm chặt lấy vôlăng.
Khi đã bình tĩnh lại một chút, rất chậm chạp, ông bắt đầu hiểu điều gì vừa xảy ra.
Ông đã ngủ gật khi cầm lái. Một khoảnh khắc ngắn ngủi là đủ để chiếc xe cũ kỹ của ông vượt sang bên kia vạch trắng.
Chỉ cần thêm một giây nữa là chiếc xe tải nặng đã nghiến nát ông.
Trong một khoảnh khắc, điều chắc chắn đó làm ông hoàn toàn mụ mị. Ông chỉ còn nghĩ được đến một chuyện: cái hồi ông suýt đâm phải một con nai sừng tấm ở gần Tingsryd, mấy năm trước đây.
Nhưng lúc đó đang là đêm và trời đầy sương mù. Lần này, ông đã ngủ trong khi cầm lái.
Sự mệt mỏi.
Ông không hiểu nổi nữa. Nó đã rơi xuống ông không hề báo trước, ngay trước khi ông đi nghỉ vào đầu tháng Sáu. Năm nay là ngoại lệ, ông muốn đi nghỉ thật sớm, trước khi đến hè. Đợt nghỉ đã bị những cơn mưa hủy hoại. Thời tiết đẹp đến với Scanie vào đúng lúc ông quay lại làm việc, không lâu sau ngày Saint-Jean.
Sự mệt mỏi không lúc nào rời khỏi ông nữa. Ông có khả năng ngủ gật trên một cái ghế. Ngay cả sau một đêm ngủ liền mạch thật dài, ông vẫn phải cố gắng lắm mới dậy nổi. Trên xe, ông thường xuyên phải dừng lại để ngủ một lúc.
Thật là không giải thích nổi. Con gái Linda của ông đã hỏi ông về chuyện đó, vào cuối tuần nghỉ mà họ trải qua cùng nhau trên đảo Gotland. Họ đang ở Burgsvik, trời rất đẹp, họ bỏ cả ngày đi thăm điểm cực Nam của hòn đảo. Rồi ăn tối trong một quán pizza trước khi quay lại nhà trọ.
Cô đã hỏi ông về sự mệt mỏi đó. Một ngọn đèn dầu chiếu sáng khuôn mặt cô ở phía bên kia cái bàn và, theo cách biểu hiện của cô, ông hiểu là cô đang đợi một câu trả lời. Nhưng ông không nói gì. Mọi việc đều ổn, ông dành một phần của kỳ nghỉ để lấy lại những giấc ngủ đã mất - còn có gì tự nhiên hơn nữa? Linda không gặng hỏi. Nhưng ông thấy rõ là cô không tin lấy một từ.
Giờ thì ông không thể vờ vịt được nữa. Sự mệt mỏi này không hề tự nhiên. Có điều gì đó không ổn, rõ như ban ngày. Ông lục lọi trong óc. Có những triệu chứng gì khác nữa không? Ngoài những cơn chuột rút bắp chân thỉnh thoảng làm ông thức dậy vào ban đêm, ông không tìm thấy gì khác nữa cả.
Ông vừa đi lướt qua cái chết. Ông không thể đẩy lùi thời hạn được nữa. Ngay ngày hôm nay ông sẽ gọi điện cho một bác sĩ.
Ông bật khóa điện và hạ cửa kính xuống. Cái nóng của mùa hè vẫn dai dẳng, mà đã là tháng Tám.
Wallander đến nhà bố ông, ở Loderup. Ông thuộc lòng đường đến đó. Nhưng ông vẫn chưa thể chấp nhận việc sẽ không tìm thấy bố ở xưởng vẽ, trong mùi nhựa thông, trước giá vẽ nơi ông vẽ đi vẽ lại những bức tranh phong cảnh với con gà rừng ở tiền cảnh. Hoặc đôi khi không có gà trống. Nhưng lúc nào cũng có một mặt trời treo lơ lửng trên những sợi dây vô hình phía trên những cái cây.
Sắp được hai năm rồi. Cú điện thoại của Gertrud thông báo bố ông đã chết trong xưởng vẽ. Ông vẫn còn có thể - như một hình ảnh sắc nhọn cứ nấn ná vô định - nhớ đến cái cách ông tiếp tục chối từ điều hiển nhiên trên suốt đường đi đến Loderup ngày hôm đó. Nhưng, khi đến nhà và nhìn thấy Gertrud trong sân, ông không còn có thể làm gì để tự bảo vệ nữa.
Hai năm qua trôi thật nhanh. Thường xuyên nhất mà ông có thể - trên thực tế là rất hiếm khi - ông đến thăm Gertrud, vẫn tiếp tục sống trong ngôi nhà. Hơn một năm đã trôi đi trước khi họ quyết định dọn dẹp xưởng vẽ, nơi họ tìm thấy tổng cộng ba mươi hai bức tranh đã hoàn thành và được ký tên. Một buổi tối tháng Chạp năm 1995, họ ngồi trong bếp của Gertrud và lập danh sách những người sẽ được nhận quà. Wallander giữ hai bức tranh cho mình: một bức phong cảnh có con gà rừng và một bức không. Con gái ông, Linda, sẽ nhận một bức, cũng như Mona, vợ cũ của ông. Em gái Kristina, trước sự ngạc nhiên lớn, và có thể là cả nỗi buồn lớn của ông, không muốn nhận bức nào. Bản thân Gertrud đã có khá nhiều. Còn lại hai mươi tám bức. Sau một thoáng do dự, Wallander quyết định gửi một bức cho viên thanh tra cảnh sát ở Kristianstad mà đôi khi ông có quan hệ. Cuối cùng - sau khi tất cả các anh em họ của Gertrud đã được liệt kê - vẫn còn lại năm bức. Làm gì với chúng bây giờ? Ông sẽ không bao giờ quyết định được việc đốt chúng đi.
Về mặt luật pháp, chúng thuộc về Gertrud. Nhưng bà đã nói là chúng thuộc về ông và Kristina. Không phải cho bà, người đã đến quá muộn trong đời bố họ.
Wallander đi qua lối rẽ ở Kaseberga. Đã sắp đến nơi. Ông nghĩ đến những gì đang chờ đợi mình. Một tối tháng Năm, trong một lần đến thăm Gertrud, họ đã đi bộ thật lâu dọc theo những con đường dành cho máy kéo chạy trên những cánh đồng trồng cải dầu. Bà đã nói với ông là không muốn sống ở đây nữa. Sự cô đơn đè nặng lên bà.
— Tôi phải đi trước khi nó ám ảnh tôi, – bà nói.
Ông lờ mờ hiểu điều bà muốn nói. Hẳn là ông cũng sẽ phản ứng theo đúng cách đó.
Họ đi dọc theo những cánh đồng, và bà nhờ ông giúp bán nhà. Bà không vội vã, có thể chờ đến cuối hè. Nhưng bà muốn chuyển đi trước mùa thu. Chị gái bà, sống gần Rynge, vừa góa chồng. Gertrud tính sẽ đến đó ở.
Đã đến lúc chuyển nhà. Hôm nay là thứ Tư. Wallander đã xin nghỉ cả ngày. Một nhân viên môi giới nhà đất Ystad sẽ đến Loderup vào lúc chín giờ. Họ sẽ cùng nhau định ra một cái giá hợp lý. Trước đó, Wallander và Gertrud phải sắp xếp những cái thùng cactông còn lại của bố ông. Tất cả những cái khác, họ đã lo xong từ một tuần trước. Martinsson, một người đồng nghiệp ở sở, đã mang xe rơmooc đến và họ đã đi nhiều chuyến đến bãi rác Hedeskoga. Với nỗi khó ở mỗi lúc một tăng thêm, Wallander đã nghĩ rằng tất cả những gì còn lại của một con người nhất định sẽ tìm ra chỗ của mình ở bãi rác gần nhất.
Những gì của bố ông giờ đây còn lại, ngoài những kỷ niệm, là một vài bức ảnh, năm bức tranh và vài thùng cactông thư từ và tài liệu. Không gì nữa cả. Thanh toán xong xuôi, mọi sự khép lại.
Wallander đi vào con đường dẫn đến ngôi nhà của bố ông.
Ông nhìn thấy Gertrud trong sân. Bà vẫn luôn dậy sớm.
Họ uống cà phê trong bếp, nơi những cánh cửa giá đựng đồ mở vào những khoảng rỗng không. Bà chị của Gertrud sẽ đến đón vào buổi chiều. Wallander sẽ giữ một cái chìa khóa cho mình và đưa cái thứ hai cho nhân viên môi giới nhà đất.
Một lúc trước, khi bà ra đón ông ở trong sân, ông ngạc nhiên nhận ra là bà vẫn mặc cùng cái váy như hôm cưới bố ông. Ngay lập tức ông thấy cổ họng mình se lại. Với Gertrud, đây là một ngày trọng đại. Bà sẽ đi khỏi nhà mình.
Họ đã xem bên trong hai cái thùng cactông. Giữa đống thư cũ, Wallander tìm thấy một đôi giày trẻ con. Thậm chí ông còn nghĩ mình nhận ra chúng. Bố ông đã giữ chúng trong từng ấy năm ư?
Ông mang những cái thùng ra sân và để nó lên sau xe. Khi đóng cửa lại, ông nhìn thấy Gertrud đã ra khỏi nhà, đứng trên bậc thềm. Bà mỉm cười.
— Còn năm bức tranh, anh quên rồi à?
Wallander lắc đầu tỏ ý không quên. Ông đi về phía kho thóc trước đây từng là xưởng vẽ của bố ông. Cửa mở. Họ đã dọn dẹp rất kỹ; tuy nhiên, mùi nhựa thông vẫn còn lại. Ông nhìn thấy cái bếp cũ và cái nồi mà bố ông đã dùng để đun một lượng vô tận cà phê.
Có thể đây là lần cuối cùng mình đến nơi này, ông nghĩ. Nhưng, trái với Gertrud, mình không mặc đẹp cho dịp này. Mình vẫn thế, ăn mặc được chăng hay chớ. Và nếu không may mắn thì mình đã chết. Như bố mình. Linda sẽ cùng với đống đồ đạc của mình đi nhiều chuyến ra bãi rác. Trong số đó có hai bức tranh, một bức có vẽ con gà rừng.
Ông cảm thấy bức bối. Bố ông vẫn còn đó, trong bóng tối của xưởng vẽ. Những bức tranh dựa vào một bức tường. Ông mang chúng ra xe, xếp vào cốp, lấy một mảnh vải phủ lên trên. Gertrud vẫn đứng trên bậc thềm.
— Hết rồi đấy, tôi nghĩ thế.
Wallander gật đầu.
— Đúng vậy, – ông nói. – Hết rồi.
• • •
Chín giờ đúng, xe của nhân viên môi giới nhà đất dừng lại trong sân. Wallander ngạc nhiên nhận ra người đang bước xuống. Anh ta tên là Robert Akerblom. Vài năm trước, người ta đã tìm thấy xác Louise, vợ anh ta, dưới đáy một cái giếng bỏ không. Wallander còn nhớ vụ đó như một trong những cuộc điều tra nặng nề nhất trong sự nghiệp của mình. Nhưng anh ta làm gì ở nhà Gertrud thế này? Đúng là Robert Akerblom làm việc trong ngành bất động sản, nhưng Wallander đã gọi một hãng lớn có chi nhánh khắp nơi ở Thụy Điển. Công ty của Akerblom không thuộc mạng lưới đó - giả sử là công ty đó vẫn còn tồn tại. Wallander tin là mình còn nhớ về một tin đồn về đóng cửa công ty, không lâu sau vụ giết vợ anh ta.
Ông đi ra cửa để gặp anh. Robert Akerblom vẫn đúng hệt như hình ảnh mà ông vẫn giữ về anh. Vào lần đầu tiên gặp nhau, anh đã khóc nức nở trong phòng làm việc của Wallander. Mình sẽ nhanh chóng quên khuôn mặt người đàn ông này, khi đó ông đã nghĩ. Ông tin mình vẫn nhớ vợ anh và anh là thành viên của một Hiệp hội tôn giáo theo hướng Phúc Âm. Dòng Giám lý, nếu muốn chính xác hơn. Họ bắt tay nhau.
— Tôi không nghĩ là sẽ gặp lại ông, – Robert Akerblom nói.
Ông cũng vẫn còn nhớ giọng nói. Trong một lúc, ông cảm thấy bối rối. Phải nói gì bây giờ? Nhưng Akerblom đã lên tiếng trước.
— Lúc nào tôi cũng buồn vì chuyện đó, – anh chậm rãi nói. – Nhưng mấy đứa con tôi thì còn tệ hơn.
Wallander nhớ lại rằng hai vợ chồng có hai con gái, hồi xảy ra án mạng còn rất nhỏ. Hẳn là chúng không hiểu được bao lăm chuyện đã xảy ra.
— Chắc là phải khó khăn lắm.
Trong một lúc ông tưởng rằng mọi chuyện lại sắp bắt đầu. Nhưng Robert Akerblom không bật khóc nức nở.
— Tôi đã cố gắng duy trì công ty, anh chỉ nói vậy. Nhưng tôi không còn đủ sức nữa. Một đối thủ cạnh tranh đề nghị mua lại, tôi đã đồng ý bán. Tôi không bao giờ hối tiếc về chuyện đó. Đáng kể nhất là tôi thoát được công việc kế toán vẫn chiếm mất tất cả các buổi tối của tôi. Tôi có thể dành nhiều thời gian hơn cho mấy đứa con.
Gertrud đi ra chỗ họ. Cùng nhau, họ đi xem ngôi nhà. Robert Akerblom ghi lại vài thông tin và chụp mấy bức ảnh. Sau đó họ uống cà phê trong bếp. Cái giá mà Akerblom đề nghị thấp hơn Wallander dự tính. Nhưng như thế đã là gấp ba số tiền ngày xưa bố ông từng bỏ ra.
Robert Akerblom đi khỏi vào khoảng mười giờ rưỡi. Wallander tự nhủ có lẽ mình nên ở lại cho đến khi người chị gái tới. Gertrud đoán ra ý nghĩ đó.
— Tôi không sao nếu phải ở một mình đâu. Trời đang nắng đẹp. Dù sao chúng ta đã có một mùa hè đẹp đẽ, đến tận khi sắp kết thúc rồi vẫn đẹp. Tôi sẽ ngồi trong vườn.
— Nếu dì muốn, tôi sẽ ở lại. Tôi đã xin nghỉ cả ngày.
Gertrud lắc đầu.
— Tốt hơn hết là gắng đến thăm tôi ở Rynge. Nhưng đợi vài tuần đã, tôi còn phải tổ chức cuộc sống.
Wallander quay về Ystad. Ông định đi thẳng về nhà, đặt hẹn ở chỗ bác sĩ, đặt một giờ giặt quần áo ở phòng giặt chung của tòa nhà và dọn dẹp căn hộ.
Vì không vội làm việc gì, ông chọn cách đi qua những con đường nhỏ. Ông thích lái xe. Nhìn ngắm phong cảnh, để mặc cho những ý nghĩ của mình đi lang thang.
Ông vừa đi quá Valleberga thì điện thoại di động đổ chuông. Đó là Martinsson. Wallander phanh xe lại.
— Tôi đã tìm anh ở khắp nơi; dĩ nhiên là không ai nghĩ đến chuyện nói với tôi là anh đã xin nghỉ cả ngày. Tin nhắn tự động của anh bị hỏng, anh đã biết chưa?
Wallander biết là máy nhắn tin tự động của mình hoạt động không ổn định lắm; nhưng ông cũng hiểu là đã xảy ra một chuyện gì đó. Dù đã là cảnh sát từ rất lâu, cảm giác của ông vẫn nguyên như vậy. Bụng ông quặn lại. Ông kìm giữ hơi thở.
— Tôi đang ở phòng Hansson. Trước mặt tôi là mẹ của Astrid Hillstrom.
— Ai cơ?
— Astrid Hillstrom. Một trong ba cô gái mất tích. Mẹ cô ấy.
Wallander bắt đầu hiểu ra vấn đề.
— Bà ấy muốn gì?
— Bà ấy rất sốc. Bà ấy vừa nhận được một tấm bưu ảnh của con gái bà ấy. Gửi từ Viên.
Wallander nhíu mày.
— Thế thì phải là tin tốt chứ? Con gái bà ấy viết gì?
— Bà ấy nói là con gái bà ấy không viết tấm bưu ảnh đó. Theo bà ấy, có ai đó đã bắt chước kiểu chữ của nó. Và bà ấy thấy sốc vì chúng ta không làm gì hết cả.
— Chúng ta phải làm gì bây giờ? Trong khi còn chưa có lý do gì để nghi ngờ bất cứ điều gì, thậm chí lại còn có các bằng chứng cho thấy chúng đã tự ý bỏ ra đi?
Ông phải chờ một lúc trước khi nghe thấy lại giọng của Martinsson.
— Tôi không biết. Nhưng tôi có cảm giác bà ấy không hoàn toàn nhầm lẫn. Có thể.
Sự chú ý của Wallander ngay lập tức tăng vọt. Theo năm tháng, ông đã học được cách coi các trực giác của Martinsson là nghiêm túc.
— Cậu muốn tôi đến không?
— Không. Nhưng tôi nghĩ ngày mai chúng ta sẽ phải bàn luận với nhau. Anh, Svedberg và tôi.
— Khi nào?
— Tám giờ được không? Tôi sẽ báo cho Svedberg.
Wallander đợi một lúc trước khi khởi động lại xe. Một chiếc xe kéo đang đi ngang qua cánh đồng. Ông vừa đưa mắt nhìn theo vừa nghĩ đến những gì Martinsson vừa nói.
Wallander cũng đã nhiều lần gặp mẹ Astrid Hillstrom.
Chuyện gì đã xảy ra? Ông cố gắng để nhớ lại vụ việc. Mấy thanh niên bị báo là mất tích, hai hay ba ngày sau ngày Saint-Jean, vào lúc ông vừa trở về từ kỳ nghỉ đẫm nước mưa của mình. Ông đã lo vụ đó cùng vài đồng nghiệp. Ngay từ đầu, ông đã thấy không có lý do gì để lo lắng quá mức. Ba ngày sau, một tấm bưu ảnh được gửi về từ Hamburg. Ở mặt trước, một bức ảnh chụp nhà ga trung tâm và, mặt sau, một đoạn thư viết tay mà Wallander còn nhớ từng từ. Bọn con đi một vòng châu Âu. Có thể đi đến giữa tháng Tám.
Hôm nay là ngày 7 tháng Tám; hẳn là chúng cũng sắp về. Trong lúc đó, một tấm bưu ảnh mới vừa đến nơi - lần này đóng dấu Viên và ký tên Astrid Hillstrom.
Bức đầu tiên, ông còn nhớ, có chữ ký của cả ba đứa. Bố mẹ chúng nhận ra chữ viết của chúng; chỉ có mẹ Astrid Hillstrom tỏ ra do dự. Nhưng bà nhanh chóng bị những người khác thuyết phục.
Wallander ném một cái nhìn vào gương chiếu hậu trước khi tiếp tục đi. Những dự cảm của Martinsson thường xuyên có căn cứ.
• • •
Ông đỗ xe trước nhà và mang đống thùng cactông và năm bức tranh trèo lên cầu thang. Rồi ông ngồi xuống gần điện thoại và gọi cho bác sĩ quen. Tin nhắn tự động thông báo bác sĩ sẽ đi nghỉ về ngày 12 tháng Tám. Ông có thể đợi được cho đến lúc đó. Nhưng ý nghĩ về cái chết đã lướt qua đầu ông ngay vào sáng hôm đó và làm ông đổi ý. Ông gọi cho một bác sĩ khác và hẹn được vào sáng hôm sau. Ông cũng đặt một giờ ở phòng giặt, tối hôm sau. Rồi ông bắt đầu dọn nhà. Vừa dọn xong phòng ngủ, ông đã chán. Ông qua quýt di máy hút bụi trong phòng khách. Rồi cất nó đi. Những cái thùng cactông và đống tranh đã tìm được chỗ trong phòng ngủ dành cho những lần hiếm hoi Linda đến thăm ông.
Rồi ông uống ba cốc nước trong bếp.
Cơn khát này thật kỳ quặc.
Sự mệt mỏi. Và cơn khát. Tại sao ông lại khát đến vậy?
Đã trưa. Ông đói. Nhưng tủ lạnh gần như trống không. Ông mặc áo vest và đi ra khỏi nhà. Trời nóng. Không vội vã, ông đi về phía trung tâm, và dừng lại trước ba hãng môi giới nhà đất để xem giá nhà bán. Giá mà Robert Akerblom đề nghị khá hợp lý. Ông sẽ không thể bán được cái nhà ở Loderup quá ba trăm nghìn curon.
Ông dừng lại trước một kiôt bán đồ ăn và mua một chiếc ham- burger. Và hai chai nước khoáng. Rồi ông bước vào một cửa hàng bán giày mà ông quen người chủ và hỏi xin đi nhờ toalet. Khi đã ra đến ngoài, trên phố, ông cảm thấy rối bời. Ông phải mua đồ. Chạn đồ ăn cũng trống không như tủ lạnh. Nhưng ông không cảm thấy đủ sức đi lấy xe để đến một siêu thị gần đấy. Ông xuôi xuống Hamngatan, đi qua đường ray tàu hỏa và rẽ vào khu Spanienfararegatan. Khi đến cảng, ông đi dọc theo những cầu tàu, không chút vội vã, ngắm nhìn những con tàu và cố tưởng tượng ra cảm giác khi lái tàu. Ông không có chút kinh nghiệm nào về việc này. Rồi ông cảm thấy lại cần phải đi vệ sinh. Ông vào quán cà phê ở cảng, vào toalet, uống thêm một chai nước nữa. Sau đó ông ngồi xuống ghế băng, bên cạnh tòa nhà màu đỏ của đội kiểm soát bờ biển.
Lần cuối cùng mà ông đến đây là mùa đông. Buổi tối khi Baiba ra đi.
Ông đã chở cô đến sân bay Sturup. Trời đã tối, những đợt gió mạnh mang đầy tuyết xoáy tròn trong ánh đèn pha ôtô. Họ không nói gì với nhau. Sau khi nhìn thấy cô biến mất sau cửa kiểm tra hộ chiếu, ông quay về Ystad và ngồi lên cái ghế băng này. Gió lạnh buốt. Ông thấy lạnh. Nhưng ông không nhúc nhích. Và ông đã nghĩ mọi chuyện thế là kết thúc rồi. Ông sẽ không gặp lại Baiba nữa. Sự cắt đứt của họ là chắc chắn.
Lần gặp cuối cùng đó diễn ra vào tháng Chạp năm 1994. Bố Wallander vừa mất và Wallander cũng vừa thoát ra khỏi một cuộc điều tra kiệt sức. Nhưng mùa thu đó, lần đầu tiên kể từ có lẽ là rất nhiều năm, ông có những dự định cho tương lai. Ông đã quyết định rời khỏi Mariagatan, lui về sống ở nông thôn, mua một con chó. Thậm chí ông còn đến một trại nuôi chó labrador. Ông sẽ thay đổi cuộc đời. Và điều quan trọng hơn tất thảy: ông muốn Baiba đến sống cùng với ông. Cô đã ở Ystad dịp Giáng sinh. Linda và cô rất hợp nhau. Sau ngày lễ đầu năm, ngay trước khi cô quay lại Riga, họ đã nghiêm túc nói chuyện với nhau về tương lai. Có thể là cô sẽ đến sống ở Thụy Điển ngay vào mùa hè đó. Họ đã đến xem nhiều ngôi nhà. Đặc biệt là một trang trại nhỏ hẻo lánh gần Svenstorp, nơi họ nhiều lần quay trở lại. Rồi một hôm, vào tháng Ba, đúng hơn là một buổi tối, khi Wallander đã ngủ, cô gọi điện từ Riga và nói cho ông biết về những do dự của mình. Cô không muốn lấy chồng và đến sống ở Thụy Điển nữa, ít nhất là không phải ngay lập tức. Đầy lo ngại, Wallander đã mua vé máy bay sang Riga vài ngày sau đó, với ý định thuyết phục cô. Chuyện kết thúc trong cãi vã. Lần đầu tiên, họ đã cãi nhau, thật lâu, thật nặng nề. Sau đó họ không nói chuyện với nhau trong hơn một tháng. Rồi Wallander gọi lại cho cô, và họ thỏa thuận ông sẽ sang Latvia vào mùa hè. Họ đã trải qua hai tuần nghỉ ở vịnh Riga, trong một ngôi nhà sập sệ thuê lại từ một đồng nghiệp ở trường đại học của Baiba. Họ đã đi dạo rất nhiều dọc các bãi biển và Wallander cố gắng không nói gì đến tương lai. Khi cuối cùng Baiba nói đến điều đó trước, thì đó là theo một cách mơ hồ và trốn tránh. Không phải là bây giờ, chưa. Tại sao không tiếp tục như trước? Wallander thất vọng trở về Thụy Điển, hoàn toàn không cảm thấy điều gì chắc chắn. Toàn bộ mùa thu trôi qua mà họ không gặp lại nhau. Họ đã nói chuyện, đã dựng lên những dự định, nghĩ đến các khả năng khác nhau. Nhưng không có gì được cụ thể hóa. Wallander bắt đầu thấy nghi ngờ. Có một người đàn ông khác ở Riga chăng? Nhiều lần, bị lòng ghen tuông thúc đẩy, ông đã gọi cho cô vào nửa đêm và, ít nhất là hai lần, ông có cảm giác cô không ở một mình, dù cho cô khẳng định với ông điều ngược lại.
Giáng sinh, vẫn năm đó, cô đến Ystad. Lần này, Linda chỉ có mặt vào bữa tiệc đêm 24, trước khi cùng các bạn đi Scotland. Chính vào lúc đó, vào ngày sau Năm Mới, Baiba nói với ông rằng cô không có ý định đến sống ở Thụy Điển nữa. Cô đã do dự rất nhiều. Nhưng giờ đây cô đã chắc chắn vào quyết định của mình. Cô không muốn mất việc làm ở trường đại học. Cô sẽ làm gì ở Thụy Điển? Ở Ystad? Cô có thể trở thành phiên dịch. Nhưng ngoài đó ra? Wallander tìm cách thuyết phục cô. Ông không làm nổi, và đành phải từ bỏ ý định đó. Dù không tự thú nhận, họ đều biết rằng câu chuyện của họ đang đi dần đến chỗ kết thúc. Sau bốn năm, không còn con đường khả dĩ nào nữa. Wallander đưa cô đến Sturup, ông đã nhìn cô biến mất sau dãy cửa kiểm tra hộ chiếu, và ngồi thật lâu trên cái ghế băng giá lạnh của tòa nhà màu đỏ, chán nản tột độ. Cảm giác bị bỏ rơi mạnh hơn bao giờ hết. Nhưng lẫn vào trong đó còn có một cái khác, rất nhỏ bé. Sự nhẹ nhõm. Dù thế nào đi nữa, cuối cùng sự không chắc chắn đã chấm dứt.
Một con tàu có động cơ rời cảng. Wallander đứng dậy. Ông cần quay lại toalet.
Họ vẫn tiếp tục nói chuyện qua điện thoại, vài lần. Rồi những cuộc trò chuyện đó cũng không còn. Cho đến giờ, đã hơn sáu tháng ông chưa nghe thấy giọng cô. Một hôm, vào tháng Sáu, trên đảo Gotland, trong khi đi dạo ở Visby cùng Linda, cô hỏi ông có phải mọi chuyện với Baiba đã thực sự kết thúc rồi không.
— Rồi, – ông nói. – Kết thúc rồi.
Rõ ràng là Linda chờ một điều gì đó tiếp theo.
— Cả hai đều không muốn chuyện đó chấm dứt, bố nghĩ thế. Nhưng hẳn là không thể tránh khỏi.
Ông lại vào quán cà phê, gật đầu chào người phục vụ và biến mất vào nhà vệ sinh.
Rồi ông quay về lấy xe ở Mariagatan và đi đến siêu thị nơi ông thường mua đồ, ở phía Tây thành phố, trên đường đi Malmo. Ở bãi đỗ xe, ông viết một danh sách những gì mình cần mua. Nhưng khi cuối cùng ông cũng đẩy được chiếc xe mua đồ giữa các giá hàng, thì không thể tìm thấy bản danh sách đó được nữa. Ông không mất công quay lại xe. Khi về đến nhà, xếp mọi thứ vào tủ lạnh và giá để đồ ăn xong, đã gần mười sáu giờ. Ông nằm dài ra sofa để đọc báo nhưng ngủ thiếp đi rất nhanh. Một tiếng sau, ông vụt tỉnh dậy. Ông đã mơ.
Ông ở Rome cùng bố. Rydberg cũng ở đó. Và những người giống như người lùn cứ chạy theo họ cấu vào bắp chân. (Trong Faceless Killers (Những kẻ sát nhân vô diện, tiểu thuyết đầu tiên trong loạt truyện Kurt Wallander, 1991), Rydberg là một cảnh sát nhiều kinh nghiệm, người đã truyền lại cho Kurt Wallander những bài học sâu sắc về nghề cảnh sát khi ông bắt đầu về làm ở sở cảnh sát Ystad. Những kẻ sát nhân vô diện kể xen kẽ câu chuyện chính và mối quan hệ giữa hai người; kết thúc truyện Rydberg qua đời sau một thời gian dài nằm viện vì bệnh ung thư).
Wallander ngồi lên trên sofa. Mình mơ thấy những người chết, ông nghĩ. Điều đó có nghĩa gì đây? Mình mơ thấy bố mình gần như hằng đêm. Và bây giờ là Rydberg, người đồng nghiệp và người bạn cũ, người cảnh sát đã dạy cho mình tất cả những gì mà mình biết. Và ông đã chết được gần năm năm rồi.
Ông đi ra ban công. Không một ngọn gió. Một tảng mây đang hình thành ở chân trời.
Đột nhiên ông thấy thật rõ ràng đến đáng sợ mình cô đơn đến mức nào. Ngoài Linda, hiện đang sống ở Stockholm và cũng hiếm khi ông gặp được, có thể nói rằng ông không có người bạn nào hết. Những người duy nhất mà ông hay gặp là các đồng nghiệp. Và ông không bao giờ gặp họ ngoài lúc làm việc.
Ông vào phòng tắm để rửa mặt bằng nước lạnh. Nhìn vào gương. Ông đã đen đi. Nhưng sự mệt mỏi vẫn thấy rõ dưới nước da nâu. Mắt trái vằn tia máu. Khoảng tóc mọc mất đi thêm một milimet.
Ông trèo lên cân. Giảm vài cân so với mùa hè. Nhưng vẫn còn quá nhiều.
Điện thoại đổ chuông. Đó là Gertrud.
— Tôi chỉ muốn thông báo là đã đến Rynge. Và chuyến đi tốt đẹp.
— Tôi đã nghĩ đến dì. Lẽ ra sáng nay tôi phải ở lại.
— Tôi nghĩ là tôi cần ở một mình. Nhưng ở đây sẽ tốt thôi. Tôi và chị tôi vẫn luôn hòa thuận.
— Tôi sẽ đến gặp dì trong một hoặc hai tuần nữa.
Ông vừa bỏ máy thì điện thoại lại reo. Lần này là đồng nghiệp Ann-Britt Hoglund.
— Tôi chỉ muốn biết mọi chuyện diễn ra thế nào.
— Chuyện gì cơ?
— Hôm nay cậu không phải gặp một nhân viên môi giới nhà đất à?
Wallander nhớ là ông đã nói qua với cô về việc này vào tối hôm trước, khi rời khỏi sở.
— Tôi nghĩ là mọi chuyên suôn sẻ. Cậu có thể mua nó với giá ba trăm nghìn, nếu cậu muốn.
— Tôi chưa bao giờ có cơ hội nhìn thấy nó cả, cái nhà ấy.
— Thật lạ lùng khi thấy nó trống không như thế. Gertrud đã đi và giờ đây, hẳn là nó sẽ trở thành một cái nhà nghỉ. Cho những người không biết bố tôi là ai.
— Hồn ma thì ở khắp mọi nơi. Chắc là chỉ trừ trong những ngôi nhà mới.
— Mùi nhựa thông sẽ còn lại một thời gian nữa. Khi nó cũng biến mất, thì không còn gì nữa.
— Cậu buồn bã quá đấy.
— Thì thế đấy. Mai gặp nhé. Cám ơn vì đã gọi.
Wallander đi vào bếp và uống một cốc nước.
Ann-Britt là người ân cần. Dĩ nhiên là ông sẽ không bao giờ nghĩ đến chuyện gọi điện cho một đồng nghiệp trong một tình huống tương tự.
Sắp mười chín giờ. Ông rán xúc xích và khoai tây, rồi ăn trước vô tuyến, đĩa để lên đầu gối, chuyển kênh liên tục mà không tìm ra chương trình nào thú vị để xem. Rồi ông cầm một tách cà phê đi ra ngoài ban công đứng. Ngay khi mặt trời biến mất, nhiệt độ liền sụt giảm. Ông quay vào trong và dành phần còn lại của buổi tối để xem qua đống giấy tờ mang từ Loderup về.
Dưới đáy một thùng cactông, ông tìm thấy một phong bì bằng giấy bìa đựng mấy bức ảnh cũ. Ông không nhớ đã từng nhìn thấy chúng. Đột nhiên ông nhận ra mình: một cậu bé con bốn hoặc năm tuổi ngồi trên thùng một chiếc ôtô Mỹ to tướng. Bố ông đứng gần đó, đưa tay giữ để ông khỏi ngã.
Wallander mang bức ảnh vào bếp và lục các ngăn kéo để tìm một cái kính lúp.
Mình mỉm cười nhìn thẳng vào ống kính, ông nghĩ. Trông mình thật là kiêu hãnh. Người ta đã cho phép mình trèo lên xe của người buôn tranh. Một trong số những người hay đến Loderup mua tranh của bố với một món tiền nhỏ, bọn họ lừa gạt giá cả không một chút áy náy nào. Bố mình cũng mỉm cười. Nhưng ông ấy đang nhìn mình.
Wallander ngắm nhìn thật lâu bức ảnh. Một thực tế được đóng dấu niêm phong từ lâu, bất khả nhập. Ngày xưa, vào một thời kỳ rất xa xôi, đã từng có một sự đồng lõa giữa bố ông và ông. Tất cả đã thay đổi từ ngày ông chọn nghề cảnh sát. Trong những năm cuối đời của bố ông, họ đã dần dần tìm lại được một điều gì đó của sự thân thiết đã mất đó.
Nhưng họ chưa bao giờ thực sự làm được chuyện này, ông nghĩ. Dù sao thì cũng không gì có thể so sánh được với nụ cười đó, trên nắp chiếc Buick cáu cạnh. Ở Rome, chúng ta đã thật gần gũi - nhưng không tìm lại được nhau.
Wallander đính bức ảnh lên cửa bếp. Rồi ông lại đi ra ban công. Màn mây đang tiến lại gần. Ông quay lại trước vô tuyến và xem đoạn cuối một bộ phim cũ.
Khoảng nửa đêm, ông đi ngủ.
Ngày hôm sau, ông có một cuộc họp với Svedberg và Martinsson. Sau đó, ông phải đến gặp bác sĩ.
Ông mở mắt thật lâu trong bóng tối.
Hai năm trước, ông đã mơ đến chuyện rời khỏi Mariagatan. Mua lấy một con chó, sống với Baiba.
Không điều gì trong số đó được thực hiện. Cả Baiba. Cả ngôi nhà. Cả con chó. Tất cả vẫn y nguyên như trước.
Chuyện này không thể kéo dài mãi được, ông nghĩ, cần phải xảy ra điều gì đó. Điều gì đó mang lại cho mình sức mạnh để một lần nữa hướng đến tương lai.
Hơn ba giờ sáng, cuối cùng ông cũng thiếp đi được.