Chậm Một Bước

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 42 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
33

❊ ❊ ❊

Biển.

Lúc nào gã cũng hình dung lối thoát cuối cùng của mình là như vậy: đi thẳng vào trong nước; dần chìm vào một vực sâu không đáy nơi chỉ có bóng tối và im lặng ngự trị, nơi không một dấu vết nào còn lại. Chiều sâu của biển, đó là nơi trú ẩn cuối cùng. Tối hậu, tuyệt đối.

Gã đã lấy một trong những chiếc xe của mình đi đến Mossby Strand, phía Tây thành phố. Đêm rất ấm, bãi biển không một bóng người. Gã gặp vài cái xe hiếm hoi trên đường đi Trelleborg. Gã đã dừng xe ở một nơi đèn pha những chiếc xe khác không thể chiếu đến được, nhưng từ đó gã có thể tiếp tục chạy trốn nếu cần.

Gã đã tắt đèn. Bóng tối bao trùm lấy gã. Từ cửa kính hạ, gã nghe thấy tiếng ì ầm của biển. Không một ngọn gió. Chậm rãi, có phương pháp, gã quay lại trong óc bộ phim về những sự kiện trong đêm. Chỉ có một chi tiết làm phiền gã: đã có vai trò của may mắn. Thường thì lúc nào gã cũng đóng cửa phòng ngủ cách âm. Lần này là ngoại lệ, gã để mở hé. Gã cố bắt mình tin rằng ở gã bản năng trốn chạy đã trở thành một trực giác, không tách rời khỏi ý thức của gã. Nhưng gã không thể hoàn toàn loại bỏ giả thuyết về một vận may thuần túy và đơn giản.

Nếu cửa đóng, gã sẽ không nghe tiếng họ đến. Lúc đó, gã đã choàng tỉnh; gã hiểu ngay chuyện gì đang xảy ra và chạy trốn theo lối cửa thoát hiểm. Gã đã đóng nó lại chưa? Gã không nhớ nữa. Gã đã không thể mang theo gì, ngoài khẩu súng và quần áo. Ngay từ đầu, gã đã chắc chắn đó là cảnh sát.

Gã đã rời khỏi thành phố. Mặc cho sự rối loạn bên trong, gã tự bắt mình phải lái xe thật chậm. Gã không muốn gặp tai nạn. Khi đó là bốn giờ, bình minh vẫn còn xa. Gã đã suy nghĩ rất kỹ. Gã có phạm phải sai lầm nào không? Gã không tìm ra được sai lầm nào. Sẽ không việc gì phải thay đổi các kế hoạch.

Tất cả đều đã diễn ra đúng như dự tính. Trong buổi lễ ở nhà thờ, gã đã đến nhà tay cảnh sát, khu Mariagatan. Gã đã mở cửa không chút khó khăn với chìa khóa vạn năng của mình, đi vòng quanh căn hộ, nhận ra người đàn ông sống một mình ở đó. Rồi gã lên kế hoạch một cách chi tiết. Tất cả còn đơn giản hơn dự tính. Thậm chí gã còn tìm được một chùm chìa khóa thứ hai cất trong một ngăn kéo bếp. Lần tới gã sẽ không cần dùng đến chìa khóa vạn năng. Gã nằm một lúc lên giường. Nệm quá mềm, ngay lập tức gã có cảm giác đang bị chìm xuống.

Rồi gã về nhà và đi tắm. Sau đó gã thực hiện một công việc đã định làm từ lâu: lau chùi tất cả những pho tượng sứ nhỏ. Việc này đã cần làm từ lâu rồi. Sau đó gã ăn tối và đi nằm. Khi cảnh sát bắt đầu tấn công cánh cửa nhà gã, gã đã ngủ được nhiều giờ.

Gã xuống khỏi xe. Vẫn không có gió. Gã đã bao giờ từng biết đến một tháng Tám tương tự thế này chưa? Có thể là hồi còn nhỏ. Nhưng gã cũng không chắc. Gã xuống bãi biển. Những đợt sóng ve vuốt bờ cát. Gã nghĩ đến những tay cảnh sát lúc này đang ở nhà gã, gã tưởng tượng ra họ đang mở những ngăn kéo, làm bẩn sàn nhà, dịch chuyển những món đồ lặt vặt của gã. Điều đó làm gã thấy lộn tiết. Ý muốn quay trở về, chạy lên gác và bắn vào đám người trở nên vô cùng mạnh mẽ. Nhưng gã tự chế ngự được bản thân. Không sự trả thù nào là quan trọng đến mức gã phải hy sinh vào đó khả năng trốn thoát của mình. Họ sẽ không tìm thấy gì ở nhà gã. Không thứ giấy tờ nào, không bức ảnh nào, không gì hết. Cảnh sát không thể biết được cái két sắt mà gã dùng tên giả để thuê ở ngân hàng, và trong đó gã cất toàn bộ những thứ tài liệu có thể để lộ khuôn mặt gã, biển số những chiếc xe của gã, và các tài khoản.

Chắc là bọn họ sẽ còn ở nhà gã một lúc lâu nữa. Nhưng, sớm hay muộn, tay cảnh sát cũng phải về nhà, rất mệt mỏi sau một đêm thức trắng. Khi đó, gã đã có mặt, chờ đợi sẵn.

Gã trở lại xe. Điều quan trọng nhất lúc này là thu hồi giấc ngủ bị đánh mất. Gã có thể ngủ trong một cái xe. Nhưng nguy cơ bị phát hiện, cho dù đỗ xe ở đâu, là khá lớn. Hơn nữa, gã không thích nằm co quắp để ngủ trên một băng ghế. Như thế là không xứng đáng với gã. Gã muốn được nằm duỗi dài, nghỉ ngơi trong một cái giường thực thụ. Tất nhiên là sau khi đã bỏ đệm.

Trong một thoáng, gã nghĩ đến khách sạn. Nhưng gã sẽ phải để lại một cái tên và, cái đó thì gã không hề muốn - ngay cả một cái tên giả.

Rồi giải pháp xuất hiện. Tại sao gã không nghĩ đến nó từ trước? Một nơi định sẵn. Nơi nguy cơ bị phát hiện là rất nhỏ. Trong trường hợp vẫn có kẻ nào đó muốn đi vào, thì cả ở đó cũng có một cánh cửa thoát hiểm.

Gã nổ máy và bật đèn pha. Bình minh không còn xa nữa. Hiện tại gã cần ngủ! Nghỉ ngơi và nghĩ đến những gì đang chờ đợi gã. Gã lên đường quay về Ystad.

• • •

Khoảng năm giờ sáng, Wallander cảm thấy bắt đầu hiểu điều gì là đặc trưng ở Âke Larstam. Đó là một người sống một cuộc đời gần như vô hình, vây quanh là những món đồ lặt vặt. Họ đã lục tìm toàn bộ căn hộ mà không phát hiện được chỉ dẫn nào về căn cước của kẻ sống ở đây. Họ không tìm được thứ giấy tờ cá nhân nào, không một tài liệu có tên Ảke Larstam nào, và càng không có bức ảnh nào. Cùng nhau, họ đã đi xuống hầm và kho chứa đồ. Hầm của Larstam trống không. Thậm chí không có lấy một hạt bụi. Trong kho, họ tìm được một cái hòm cũ bằng gỗ khóa chặt. Phá khóa xong, Wallander thất vọng phát hiện rằng nó chỉ đựng mấy mẩu tượng sứ. Ông tập hợp các cộng sự của mình trong bếp trong khi các kỹ thuật viên kết thúc công việc của mình trong phòng khách, dưới sự chỉ huy của Nyberg.

— Tôi chưa bao giờ nhìn thấy cái gì tương tự. Tay Ảke Larstam này tạo ra cảm giác không hề tồn tại. Không có lấy một thứ giấy tờ, không một tài liệu nào khẳng định sự tồn tại của hắn. Tuy vậy, chúng ta biết là hắn có tồn tại.

— Liệu hắn có thể có một căn hộ khác không? – Martinsson hỏi.

— Hắn có thể có mười cái, hắn có thể có nhiều ngôi nhà, các loại nhà nghỉ, vô số kể, nhưng không có dấu vết nào dẫn chúng ta đến đó cả.

— Liệu hắn có bỏ đi luôn không? – Hansson hỏi. – Khi hiểu ra rằng chúng ta suýt bắt được hắn?

— Sự trống không ở đây không tạo ra cảm giác mới mẻ. Hắn đã sống như vậy đấy, trong một không gian trống rỗng, đóng kín và cách âm. Điều đó không ngăn cản cậu có lý. Tôi sẽ rất nhẹ người nếu hắn bỏ đi thật. Nhưng cậu cũng biết rõ ngang tôi điều gì chống lại ý nghĩ đó.

Họ nhìn vào tờ giấy kẻ ô đặt sờ sờ trên mặt bàn.

— Liệu chúng ta có thể đã đoán sai không? – đột nhiên Ann-Britt hỏi.

— Không. Hơn nữa, – Nyberg khẳng định, – hắn mới viết gần đây thôi - nhờ vào độ đồng nhất của nét chữ do ruột chì để lại. Đừng hỏi tôi ông ấy biết được điều đó bằng cách nào.

— Điều gì đã thúc đẩy hắn viết cái đó?

Câu hỏi là của Martinsson; nó rất quan trọng.

— Cậu có lý. Đó là thứ giấy tờ cá nhân duy nhất mà chúng ta tìm được ở đây. Điều đó có nghĩa là gì? Nếu chúng ta chấp nhận rằng hắn đã ở đây khi chúng ta đến - cửa thoát hiểm vẫn mở, một cuộc trốn chạy vội vã…

— Dấu vết duy nhất mà hắn không đủ thời gian để xóa?

Giờ đây cuộc đối thoại diễn ra giữa Wallander và Martinsson.

— Chắc chắn rồi. Hoặc đúng hơn, đó là cách giải thích hiển nhiên hơn cả. Nhưng liệu nó có đúng không?

— Chúng ta có thể tưởng tượng ra cái gì khác?

— Rằng hắn đã cố tình để lại tờ giấy này, vì biết rằng chúng ta sẽ tìm ra.

Không ai hiểu Wallander định nói gì. Chính ông cũng thấy lập luận này quá thiếu cơ sở.

— Chúng ta biết gì về Âke Larstam? Hắn có khả năng có được thông tin và đột nhập bí mật của người khác. Tôi không muốn nói là hắn biết được các kết luận của chúng ta. Nhưng tôi tin rằng hắn có đủ khả năng dự tính không ít chuyện. Cứ thử tưởng tượng rằng hắn đã đoán được rằng chúng ta sẽ đến đây. Chắc là hắn có nghĩ đến điều đó, ít nhất là kể từ buổi tối ở quán bar Copenhagen, khi tôi xuất hiện. Hắn làm gì? Hắn chuẩn bị một kế hoạch tẩu thoát. Nhưng hắn cũng để lại cho chúng ta một thông điệp, vì biết rằng chúng ta sẽ phát hiện ra nó, trong cái căn hộ không có lấy một thứ giấy tờ cá nhân này.

— Nhưng tại sao? Ý định của hắn là gì?

— Làm chúng ta sợ. Không hề bất thường khi một tên tội phạm tìm cách làm nhục cảnh sát. Hắn đã chiến thắng hôm ở Copenhagen. Cả gan xuất hiện, trong khi bức ảnh Louise đã được đăng báo Đan Mạch, và vẫn thoát được…

— Thật lạ lùng. Chúng ta lại tìm được tờ giấy này vào đúng ngày hắn định ra tay một lần nữa.

— Hắn không thể biết đêm nay chúng ta đến.

Wallander cảm thấy lập luận của mình mơ hồ và ngập ngừng đến mức nào. Ông bỏ nó.

— Dù sao cũng phải coi thông điệp này là nghiêm túc, - ông nói.

— Chúng ta có manh mối nào không?

Câu hỏi đến từ cửa, nơi Thurnberg đang đứng.

— Không. Chúng ta không có gì hết. Phải thú nhận là như vậy.

Không ai bình luận gì. Wallander cảm thấy cần phải chấm dứt sự chán nản đang bao trùm phòng bếp.

— Chúng ta chỉ có thể làm được một việc. Kiểm tra thêm một lần nữa tất cả các chi tiết mà chúng ta có. Hy vọng sẽ phát hiện ra một chi tiết cho đến nay vẫn chưa được chú ý. Một sơ đồ cho phép chúng ta định vị được nạn nhân thứ chín này. Dù sao một trong các thông số của cuộc điều tra đã thay đổi hẳn. Chúng ta biết được tên giết người là ai: một tay kỹ sư chuyển sang làm nghề đưa thư.

— Anh thực sự nghĩ, – Thurnberg hỏi, – rằng có một lôgic có thể tìm ra trong các hành động của tay đàn ông này, mà cho đến giờ chúng ta chưa phát hiện được?

— Tôi không trả lời được, tôi không biết. Nhưng chúng ta không có lựa chọn. Trừ khi muốn thụ động ngồi chờ án mạng tiếp theo.

Năm giờ hai mươi phút. Wallander đề nghị nhóm điều tra gặp lại vào lúc tám giờ. Điều đó cho phép mỗi người có khả năng nghỉ ngơi ít nhất một tiếng đồng hồ. Việc theo dõi vẫn sẽ tiếp tục. Giờ đây họ sẽ đánh thức những người sống trong tòa nhà. Họ biết gì về người hàng xóm của mình? Tòa nhà thuộc quyền sở hữu của một hãng bất động sản. Wallander nói phải ngay lập tức hỏi hãng này xem liệu Larstam có thuê một căn hộ khác không, Hansson hứa sẽ lo việc đó.

Nyberg nán lại để nói chuyện riêng với Wallander.

— Một căn hộ hết sức ngăn nắp, – ông nói, – nhưng tìm được dấu tay rồi.

— Gì khác nữa?

— Không có gì.

— Không có vũ khí à?

— Nếu có thì tôi đã báo ngay cho anh rồi.

Wallander gật đầu. Mặt Nyberg xám lại vì mệt.

— Hẳn là anh có lý khi nói rằng tay đàn ông này không thích những người hạnh phúc.

— Chúng ta có tìm được hắn không?

— Sớm hay muộn. Nhưng tôi đang sợ điều có khả năng xảy ra vào hôm nay đây.

— Chúng ta không thể cho phát một thông báo trên đài à?

— Nói gì mới được chứ? Rằng hôm nay không ai được phép cười à? Hắn đã chọn xong nạn nhân kế tiếp. Hẳn là ai đó không hề nghi ngờ rằng mình đang bị một tên giết người theo dõi.

— Có lẽ tìm ra được chỗ hắn đang trốn là việc dễ dàng hơn.

— Tôi cũng nghĩ thế. Nhưng chúng ta không biết còn được bao nhiêu thời gian nữa. Những thanh niên ở khu bảo tồn đã bị giết trong buổi tối hoặc đêm. Cặp vợ chồng trẻ, vào lúc bốn giờ chiều. Và Svedberg, có thể là buổi sáng. Hắn ra tay vào bất cứ giờ nào.

— Có thể là chúng ta phải đặt câu hỏi theo cách khác chăng. Có thể hắn không có chỗ trốn nào - không có căn hộ nào khác, không có họ hàng, không có nhà nghỉ. Trong trường hợp đó hắn có thể trốn ở đâu?

Hiển nhiên là Nyberg có lý. Ông đã nghĩ đến khả năng đó. Sự mệt mỏi tạo ra những lỗ thủng trong năng lực xét đoán của ông.

— Và anh sẽ trả lời thế nào?

Nyberg nhún vai.

— Chúng ta biết là hắn có ít nhất một cái xe. Lúc nào người ta cũng có thể nằm ngủ ở băng ghế sau. Trời vẫn còn nóng. Trong trường hợp xấu nhất, hắn có thể ngủ ngoài trời. Có thể hắn có một túp lều ở đâu đó. Hoặc là một con tàu. Khả năng thì nhiều lắm.

— Đúng. Và chúng ta không có thời gian để đi tìm.

— Tôi hiểu anh đang phải giãy giụa trong một địa ngục như thế nào, tôi rất muốn nói với anh điều đó.

Rất hiếm khi Nyberg nói ra một tình cảm cá nhân. Sự ủng hộ của ông rất thật lòng. Lúc này, Wallander cảm thấy bớt cô độc một chút.

• • •

Khi ra đến phố, Wallander ngập ngừng mất một lúc. Hẳn là ông phải về nhà, đi tắm, ngủ nửa giờ. Nhưng sự lo lắng kẹp chặt lấy người ông. Một chiếc xe cảnh sát chở ông về sở. Ông buồn nôn, nghĩ là mình phải ăn; nhưng rồi ông chỉ uống một cốc cà phê và vài viên thuốc điều trị cao huyết áp và bệnh tiểu đường. Rồi ông ngồi xuống bàn làm việc và xem xét lại toàn bộ hồ sơ. Một lần nữa, ông thấy mình ở lối vào căn hộ của Svedberg. Martinsson đi ngay sau. Ake Larstam đã đi trước họ; hắn đã giết Svedberg. Wallander vẫn không biết quan hệ giữa hai người là gì. Nhưng Svedberg đã giấu một bức ảnh chụp Larstam đóng giả làm phụ nữ. Kể từ nay, ông đã thấy rất rõ tại sao căn hộ tạo ra cảm giác vừa bị trộm đột nhập. Larstam có một nỗi sợ ám ảnh về việc để lại dấu vết. Sau khi giết Svedberg, hắn đã lục tung căn hộ để phá hủy tất cả những gì có thể làm lộ hắn.

Như vậy là Svedberg đã có một bí mật, ngay cả với Larstam.

Wallander tiếp tục giở hồ sơ. Điều ông biết về các sự kiện xảy ra ở khu bảo tồn liệu có thể cho ông biết nơi Larstam hiện đang ẩn trốn không? Ông tìm kiếm thật lâu, nhưng không có câu trả lời. Những sự kiện Nybrostrand không hơn gì. Cứ hai phút, ông lại nhìn đồng hồ đeo tay. Ai sẽ là nạn nhân thứ chín? Ông tuyệt vọng tìm một câu trả lời. Nhưng không có câu trả lời nào hết.

• • •

Tám giờ, họ gặp lại nhau trong phòng họp. Nhìn những khuôn mặt mệt mỏi và lo lắng đang tập hợp trước mặt mình, Wallander lại có cảm giác đã thất bại. Có thể là ông đã không dẫn họ đi vào một hướng đi sai. Nhưng ông cũng không chỉ cho được một con đường đúng, ít nhất là không đến được tận đích. Họ đang giẫm chân tại chỗ, không biết phải đi về hướng nào.

Một sự chắc chắn duy nhất: kể từ nay, họ sẽ làm việc không ngừng nghỉ. Sẽ không ai rời khỏi đại bản doanh, trừ khi có một việc vô cùng cần thiết. Những tìm kiếm tiếp tục xung quanh tâm điểm của cuộc điều tra, không phải trên phố phường của thành phố. Khi đã có được một ý tưởng khả dĩ về nạn nhân giả định, họ mới hành động; nhưng không phải là trước đó. Ông yêu cầu họ đi tìm các tài liệu của mình và mang đến phòng họp.

— Kể từ nay, chúng ta sẽ ở đây. Cuộc điều tra sẽ xuất phát từ đây, và từ đây chúng ta sẽ điều hành mọi việc.

Họ biến mất vào hành lang. Martinsson nán lại.

— Anh có ngủ được một chút không?

Wallander lắc đầu.

— Cần phải ngủ. Nếu anh gục, chúng ta sẽ không làm được đâu.

— Tôi vẫn còn chút ít sức lực.

— Anh đã vượt quá giới hạn cho phép rồi. Tôi đã ngủ được tròn một tiếng. Thấy khỏe hẳn lên.

— Tôi sẽ đi một vòng, về nhà và thay áo sơ mi. Nhưng không phải ngay bây giờ.

Martinsson muốn nói thêm điều gì đó nhưng Wallander đã giơ tay lên. Ông không còn đủ sức nghe thêm nữa. Ông ngồi vào đầu bàn. Liệu một ngày nào đó ông sẽ có đủ can đảm để rời khỏi ghế phôtơi của mình không? Những người khác lần lượt trở lại, và cánh cửa khép lại. Thurnberg đã nới cái nút cà vạt của mình. Cả ông ta cũng bắt đầu có vẻ mệt mỏi. Lisa Holgersson thông báo bà sẽ ở phòng mình, tìm cách đẩy cánh phóng viên về.

Tất cả các khuôn mặt hướng về phía Wallander.

— Chúng ta phải tìm cách hiểu được hắn lập luận như thế nào. Nhưng điều đó chưa đủ. Một số trong chúng ta phải bắt tay vào việc đào xới quá khứ của hắn. Liệu có đúng là hắn không có gia đình không? Nhỡ đâu bố mẹ hắn vẫn còn sống thì sao? Hắn có anh chị em không? Hắn thường chơi với ai ở Chalmers? Và về nơi làm việc trước đây của hắn? Hắn đã học nghề đưa thư ở đâu? Vấn đề lớn của chúng ta là thời gian đang thúc ép. Chúng ta phải xuất phát với giả thuyết rằng mẩu giấy tìm thấy trong bếp nhà hắn đúng là một thông điệp, gửi cho chúng ta hoặc cho chính hắn. Vì vậy câu hỏi sẽ là: chúng ta phải bắt đầu từ đâu trong việc tra vấn quá khứ của hắn?

— Hiển nhiên là chúng ta phải phát hiện ra liệu hắn có còn họ hàng không, – Ann-Britt nói. – Chúng ta có thể hy vọng rằng mẹ hắn vẫn còn sống. Một bà mẹ thường biết rõ con cái của mình; cái đó ai cũng nói chán rồi, nhưng đó là sự thật.

— Cậu lo việc ấy đi.

— Tôi vẫn chưa nói xong hẳn, – Ann-Britt nói. – Tôi thấy thật đáng kinh ngạc khi có người chuyển sang làm nghề đưa thư.

— Mới đây, – Hansson kể, – một ông giám mục đã trở thành tài xế taxi. Có những chuyện như thế chứ.

— Tôi đã nghe nói đến ông giám mục đó. Ông ấy năm mươi lăm tuổi, có thể là người ta cần phải thử một cái gì đó khác trước khi về hưu chăng? Ake Larstam mới khoảng bốn mươi tuổi thôi.

Wallander cảm thấy có thể cô vừa chạm đến một chi tiết quan trọng.

— Cậu muốn nói là có thể đã xảy ra một chuyện gì đó?

— Tại sao hắn lại bỏ việc? Tại sao lại thay đổi hẳn cuộc đời? Với tôi, cần phải hình dung ra một sự đoạn tuyệt đột ngột.

— Một kỹ sư từ bỏ tất cả vào một ngày nào đó…

— Thậm chí lúc đó hắn còn chuyển chỗ ở, – Thurnberg nhận xét. – Điều này khẳng định lời Ann-Britt.

— Tôi lo việc đó, – Wallander nói. – Tôi sẽ gọi cho văn phòng kỹ sư đó. Nó tên là gì nhỉ?

Martinsson giở đống giấy tờ.

— Strand Consulting. Hắn rời khỏi đó vào năm 1985, như vậy là vào tuổi ba mươi ba.

— Chúng ta sẽ bắt đầu từ đó. Còn những người khác sẽ tiếp tục tìm kiếm. Hắn ở đâu? Nạn nhân sắp tới của hắn là ai?

— Liệu có cần gọi Kjell Albinsson đến không? – Thurnberg đề nghị. – Có thể là anh ta nghĩ ra được cái gì đó, nếu tham dự cuộc họp.

— Tôi đồng ý. Cũng cần có ai đó tìm kiếm Larstam trong hồ sơ.

Có vẻ như là Larstam là tên thật của hắn.

— Tôi không nghĩ là sẽ tìm được gì đâu, – Martinsson nói, – tôi đã tìm rồi.

Martinsson đã tìm đâu được thời gian để làm việc này? Chỉ có một câu trả lời khả dĩ: lúc nãy anh đã nói dối khi cho biết mình đã ngủ một tiếng. Liệu Wallander nên thấy cảm động vì lời nói dối này hay tức giận vì nó? Ông chọn cách bỏ qua.

— Chúng ta bắt đầu đi. Có số điện thoại của văn phòng kỹ sư tư vấn Strand không?

Một người đưa số cho ông. Ông bấm số, gặp phải một tin nhắn tự động cho biết số điện thoại đã được thay, số mới thuộc về một địa chỉ trên đảo Vaxholm, trên bán đảo Stockholm. Wallander thử lần nữa. Lần này có giọng phụ nữ trả lời.

— Strand Consulting.

— Tôi tên là Kurt Wallander, cảnh sát Ystad. Tôi cần một số thông tin liên quan đến một nhân viên cũ của chỗ chị.

— Ai vậy?

— Ake Larstam, kỹ sư.

— Ở đây không có ai tên như vậy.

— Tôi vừa nói rồi còn gì. Một nhân viên cũ. Tôi yêu cầu chị tập trung nghe tôi nói.

— Không phải là với giọng đó. Làm sao tôi có thể biết là ông là cảnh sát? Ông có thể là bất kỳ ai.

Suýt nữa Wallander vứt điện thoại xuống đất. Nhưng ông bình tĩnh kịp thời.

— Chính xác. Chị có thể không biết tôi là ai. Nhưng tôi cần những thông tin đó. Ake Larstam đã bỏ việc vào năm 1985.

— Thế thì trước khi tôi bắt đầu làm ở đây. Tốt nhất là ông nên nói chuyện với Persson.

— Để tránh các hiểu lầm khác, tôi để lại cho chị số điện thoại của tôi. Ông ấy có thể gọi lại cho tôi, ở sở cảnh sát. Rất quan trọng đấy. Persson có ở đó không?

— Ông ấy đang gặp một chuyên gia quảng cáo. Nhưng tôi sẽ bảo ông ấy gọi lại ngay khi nào có thể.

— Không, phải cắt đứt cuộc gặp đó và gọi lại ngay cho tôi.

— Tôi sẽ nói với ông ấy là chuyện quan trọng. Đó là tất cả những gì tôi có thể nói.

— Cô có thể nói với ông ấy là một chiếc trực thăng của cảnh sát Stockholm sẽ đỗ xuống mái công ty nếu ông ấy không gọi lại cho tôi trong vòng ba phút nữa.

Ông bỏ máy. Quanh bàn, những người khác tròn xoe mắt nhìn ông. Ông bắt gặp cái nhìn của Thurnberg, đang phá lên cười.

— Rất tiếc, – Wallander nói, vẻ hối lỗi. – Tôi không có lựa chọn.

Thurnberg gật đầu.

— Tôi không nghe thấy gì. Không gì cả.

Chưa đầy hai phút sau, điện thoại đổ chuông.

— Hans Persson, – giọng đàn ông thông báo.

Wallander giải thích vụ việc, nhưng không nói gì về các nghi ngờ đối với Larstam.

— Theo thông tin của chúng tôi, anh ta đã bỏ việc chỗ các ông vào năm 1985.

— Chính xác. Tôi nghĩ là anh ta đã bị tống cổ vào tháng Mười.

— Tống cổ? Nghe có vẻ rất kịch tính.

— Thì đúng thế mà.

Wallander ấn sát ống nghe vào tai.

— Ông muốn nói gì?

— Đó là kỹ sư duy nhất mà tôi từng đuổi việc. Có lẽ tôi cũng cần nói rõ rằng tôi là người sáng lập công ty.

— Vậy thì ai là Strand?

— Nghe thế hay hơn là Persson. Chưa bao giờ công ty có ai tên là Strand cả.

— Như vậy là ông đã đuổi việc Ake Larstam. Tại sao?

— Rất khó trả lời câu hỏi này. Cứ cho là anh ta không hợp với những người khác trong nhóm đi.

— Tại sao?

— Ông có thể thấy điều này lạ lùng.

— Tôi là cảnh sát, tôi quen rồi.

— Anh ta hoàn toàn không có tính độc lập. Đó là một kẻ lúc nào cũng đồng ý với ông, ngay cả khi rõ ràng là anh ta có ý kiến khác. Không thể nói chuyện được với một kẻ lúc nào cũng chỉ chăm chăm làm người ta không thấy khó chịu. Không nói chuyện được, không thể làm gì được.

— Anh ta như vậy à?

— Đúng. Xét về lâu dài, chuyện này trở nên không thể chịu đựng nổi. Anh ta không bao giờ có nổi một ý kiến riêng, vì sợ không được nhất trí.

— Còn các năng lực về kỹ thuật của anh ta thì sao?

— Rất tốt. Về mặt đó thì không có vấn đề gì.

— Anh ta phản ứng thế nào khi bị đuổi việc?

— Anh ta không hề phản ứng. Ít nhất, tôi không thấy gì cả. Tôi đã nghĩ anh ta có thể ở lại thêm sáu tháng, và tôi cũng đã nói điều đó với anh ta. Nhưng, khi vừa ra khỏi văn phòng của tôi, anh ta đã đi lấy đồ đạc và biến mất. Thậm chí anh ta còn không đến lấy tiền bồi thường phá hợp đồng nữa. Anh ta đã biến mất, một cách thuần túy và đơn giản.

— Kể từ đó có bao giờ ông liên lạc với anh ta không?

— Chúng tôi đã thử. Nhưng anh ta đã bốc hơi.

— Ông có biết anh ta trở thành người đưa thư không?

— Chúng tôi có quan hệ với văn phòng việc làm. Chính bằng cách đó mà tôi biết điều ấy.

— Anh ta có người bạn thân nào hồi còn làm ở chỗ ông không?

— Chúng tôi không biết gì về cuộc sống riêng của anh ta. Ở văn phòng, – anh ta không có bạn, tôi nghĩ là điều này quá rõ ràng sau tất cả những gì tôi vừa nói. – Cũng có lúc anh ta trông hộ nhà cho ai đó đi nghỉ. Nhưng ngoài đó ra, lúc nào anh ta cũng giữ khoảng cách với người khác.

— Ông có biết anh ta có anh chị em gì không? Bố mẹ anh ta?

— Không. Chúng tôi hoàn toàn không biết gì về cuộc sống bên ngoài văn phòng của anh ta. Trong một công ty nhỏ như chỗ chúng tôi, điều đó đặt ra nhiều vấn đề.

— Tôi hiểu. Cám ơn ông vì đã giúp đỡ.

— Ông làm tôi thấy tò mò. Có chuyện gì xảy ra thế?

— Ông sẽ sớm biết thôi. Hiện tại, tôi không thể nói gì hơn. – Wallander dập mạnh máy xuống.

Một ý nghĩ bắt đầu thành hình trong óc ông. Một điều mà Persson vừa nói: Larstam trông nhà hộ những người khác… Ông không chắc vào điều gì cả, nhưng cũng đáng để thử.

— Căn hộ của Svedberg bây giờ thế nào rồi?

— Sau đám tang, Ylva Brink nói với tôi là bà ấy vẫn chưa bắt đầu sắp xếp đồ đạc của người em họ.

Wallander nghĩ đến chùm chìa khóa vẫn nằm trong ngăn kéo phòng ông.

— Hansson, – ông nói. – Quay lại nhà Svedberg đi. Dẫn theo một người. Chỉ để xem liệu có ai đã ghé qua đó không?

— Không gì khác nữa à?

— Không. Chìa khóa ở trong ngăn kéo đầu tiên bàn làm việc của tôi.

Hansson đi khỏi cùng một cảnh sát Malmo. Chín giờ kém ba phút. Ann-Britt Hoglund tìm kiếm bố mẹ của Larstam. Martinsson đi xem trong các hồ sơ lưu trữ. Wallander vào toalet nhưng tránh nhìn mặt mình trong gương. Rồi ông quay lại phòng họp. Ai đó mang đến một thùng cactông đựng sandwich. Ông lắc đầu từ chối. Ann-Britt trở lại.

— Bố mẹ Larstam đều đã chết.

— Hắn có anh chị em gì không?

— Hai người chị.

— Phải gặp họ.

— Để tôi lo.

Wallander nghĩ đến em gái mình, Kristina. Ông sẽ miêu tả cô thế nào, nếu có lúc cảnh sát đến hỏi ông về cô?

Ông ngồi xuống và chìa tay về phía mấy cái sandwich. Thùng cactông đã trống không. Thurnberg nói chuyện điện thoại. Wallander hiểu là về một cuộc họp sẽ bị lùi lại sau. Martinsson quay lại và đặt một tập hồ sơ lên bàn. Thurnberg bỏ máy. Cùng lúc đó Kjell Albinsson bước vào; Thurnberg kéo anh ra một góc và hạ giọng nói chuyện với anh.

Ai đó hét trong hành lang. Wallander đứng bật dậy. Một cảnh sát xuất hiện ở cửa.

— Có tiếng súng! Phía quảng trường trung tâm!

Wallander phản ứng ngay.

— Căn hộ của Svedberg! Có ai bị thương không?

— Tôi không biết, nhưng có nhiều phát súng, chắc chắn thế.

Chưa đầy một phút sau, bốn xe ôtô bật còi hụ rời khỏi sở cảnh sát. Wallander siết chặt khẩu súng của mình đến nỗi ông bị đau cổ tay. Larstam ở đó, ông nghĩ. Chuyện gì đã xảy ra cho Hansson? Và người đồng nghiệp Malmo? Ông lo ngại điều tồi tệ nhất, nhưng ý nghĩ đó quá sức chịu đựng. Đã không có gì xảy ra; chỉ đơn giản là vậy thôi.

Ông nhảy xuống xe mà không chờ đến khi nó dừng hẳn. Một đám người đã tập hợp lại. Wallander chạy vội về phía cổng nhà, và sau này ai đó nói lại rằng ông la hét như một người lính đang xung phong.

Ông nhìn thấy ngay Hansson và người đồng nghiệp Malmo.

Họ an toàn.

— Chuyện gì đã xảy ra? – ông hét.

Hansson run rẩy, mặt trắng bệch. Người đồng nghiệp Malmo ngồi bệt xuống vỉa hè.

— Hắn ở đó, – Hansson cố sức nói. – Tôi mở cửa. Hắn đứng ở lối vào, hắn đã bắn chúng tôi. Thật là may mắn vì hắn bắn không trúng. Hắn biến mất rồi. Chúng tôi đã chạy như mấy thằng điên. Đúng là may mắn.

Wallander không trả lời. Ông biết điều đó không đúng.

Larstam là một xạ thủ có hạng. Nếu muốn, hắn đã có thể găm cho mỗi người một viên đạn vào trán. Nhưng hắn không muốn, hắn không định giết họ vào ngày hôm đó.

Vận may của Hansson chỉ dựa trên một điều: anh không phải là nạn nhân thứ chín.

Trong mắt Wallander, hiển nhiên là Larstam đã rời khỏi căn hộ bằng cửa thoát hiểm; lúc nào hắn cũng chuẩn bị sẵn lối thoát. Tuy vậy họ vẫn chờ đến khi mặc xong áo chống đạn và phong tỏa đoạn phố trước khi lên gác.

Căn hộ trống không; cửa thoát hiểm mở hé. Larstam ra hiệu cho chúng ta, Wallander nghĩ. Hắn chỉ cho chúng ta biết là đã thoát ra theo lối nào.

Martinsson ra khỏi phòng ngủ của Svedberg.

— Hắn đã nằm trên giường. Bây giờ chúng ta đã biết hắn lập luận như thế nào: hắn tìm chỗ trú ẩn trong những cái tổ chim bị bỏ không.

— Chúng ta biết hắn đã lập luận như thế nào. Chúng ta có thể chắc chắn là hắn sẽ không làm như vậy nữa.

— Đi xa hơn một chút xem nào, – Martinsson nói. – Chúng ta đang tự hỏi về cách lập luận của hắn. Nhưng hẳn là hắn sẽ vẫn làm vậy thôi: hắn tự hỏi chúng ta lập luận như thế nào. Có lẽ là nên cho theo dõi căn hộ này chăng? Bởi vì khi chúng ta tin là hắn không quay lại, thì có thể lại chính vì thế mà hắn sẽ làm chuyện ấy.

— Hắn không thể đọc được những suy nghĩ của chúng ta.

— Tôi đang tự hỏi chính điều đó đây. Có cảm giác là hắn vừa đi trước vừa đi sau một đoạn.

Wallander không trả lời. Chính ông cũng đang bắt đầu tự đặt cho mình những câu hỏi.

Mười giờ rưỡi. Wallander là người cuối cùng rời khỏi căn hộ của Svedberg. Ông có cảm giác mình quay lại điểm xuất phát. Lần thứ một nghìn.

Chỉ có một điều duy nhất có vẻ chắc chắn: Larstam vẫn chưa giết được nạn nhân thứ chín của hắn. Nếu hắn đã làm được việc đó, hẳn là Hansson đã chết. Với tư cách là nạn nhân thứ mười. Và người đồng nghiệp Malmo, nạn nhân thứ mười một.

Tại sao hắn còn chờ đợi? Wallander nghĩ. Bởi vì hắn không có lựa chọn? Bởi vì nạn nhân được chỉ định còn chưa thể giết? Hoặc là còn có một cách giải thích khác nữa?

Ông đi xuống cầu thang.

Rất nhiều câu hỏi. Ông không có lấy một câu trả lời.

Vấn đề là ở chỗ đó.

Ông đã quay lại điểm xuất phát.

không mất nhiều thời gian để phát hiện Svedberg là một nhà sưu tầm. Những chiếc giày và áo vest cũ xơ ra này hẳn đã có tuổi thọ ít nhất là hai mươi năm. Ông tiếp tục cuộc tìm kiếm của mình, một cách có hệ thống. Trong một cái vali, ông tìm
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.