Họ tiếp tục cuộc nói chuyện, máy nghe đặt trên bàn cạnh cái hộp trang trí một con thiên thần màu xanh chứa đựng những dấu vết cuối cùng của giọng nói Svedberg. Wallander tiếp tục đặt các câu hỏi, mặc dù ông thấy khó tập trung đầu óc, lúc nào cũng bị giày vò bởi cái quyết định mà ông sắp phải có. Ai sẽ thông báo cho Isa Edengren chuyện đã xảy đến cho các bạn của cô? Ai? Và khi nào? Wallander có cái cảm giác rối bời là đã phản bội cô. Liệu có phải là ông nên nói ngay sự thật cho cô? Khi đó là hơn hai mươi mốt giờ ông không còn câu hỏi nào nữa, và cũng không còn gì khác để nói. Ông lấy cớ đi tìm một cốc cà phê để đi ra ngoài. Trong hành lang, ông gọi cho Martinsson, anh thông báo là các cảnh sát đã bắt đầu quay về Ystad. Tại hiện trường sẽ chỉ còn lại các kỹ thuật viên và những người trông coi khu vực cấm. Nyberg và người của mình hẳn là sẽ tiếp tục làm việc đến sáng. Wallander giải thích ông đang ở đâu và bảo anh đưa máy cho Ann-Britt. Khi nghe thấy giọng cô, ông nói ngay là ông đang cần cô.
— Tôi phải báo tin cho Isa Edengren, và tôi không biết cô ấy sẽ phản ứng như thế nào.
— Dù sao thì cô ấy cũng đã ở bệnh viện. Liệu có thể có chuyện gì xảy ra được?
Câu trả lời đó làm ông ngạc nhiên. Ông thấy nó thật lạnh lùng. Rồi ông hiểu ra là Ann-Britt đang tự bảo vệ mình. Không gì có thể tồi tệ hơn cái nơi bi thảm mà cô phải chứng kiến suốt cả ngày hôm nay.
— Dù thế nào thì tôi cũng muốn cậu đến. Tôi không muốn một mình. Cô ấy vừa có ý định tự tử.
Sau khi bỏ máy, ông đi tìm nữ y tá đã đo lượng đường trong máu cho ông. Cô đưa ngay cho ông tên và số điện thoại riêng của bác sĩ. Ông tranh thủ hỏi luôn cô về Isa Edengren.
— Trong số những người có ý định tự tử, người ta tìm được rất nhiều người có sức khỏe đáng kinh ngạc. Tôi có cảm giác là Isa Edengren thuộc vào số đó.
Ông có thể có một cốc cà phê không? Cô chỉ cho ông máy bán ở tầng dưới.
Wallander bấm số điện thoại nhà bác sĩ. Một đứa trẻ trả lời máy, rồi người vợ, cuối cùng là người chồng.
— Tôi đã đánh giá sai tình hình. Thật ra thì phải nói sự thật với cô ấy ngay tối nay. Nếu không ngày mai, cô ấy sẽ biết tin, theo một cách thức mà chúng ta sẽ không kiểm soát được. Nhưng cô ấy sẽ phản ứng như thế nào?
Người bác sĩ hiểu ra vấn đề và hứa sẽ đến ngay. Wallander lên đường đi tìm máy bán cà phê tự động. Khi cuối cùng tìm được nó, ông nhận ra là mình không có tiền xu. Một ông già đi cà nhắc tiến lại gần, đẩy trước mặt mình cái giá đỡ có bánh xe. Wallander thận trọng nhờ ông ta đổi tiền cho mình. Ông ta lắc đầu và đưa cho ông mấy xu lẻ đủ để mua cà phê. Wallander đứng chôn chân ở đó, tờ giấy bạc cầm trên tay.
— Tôi sắp chết rồi, – ông già nói. – Trong khoảng ba tuần nữa. Lúc đó tiền để làm gì?
Ông ta chầm chậm đi khỏi trong hành lang; ông ta khiến người ta nghĩ là người đang ở tâm trạng tuyệt vời. Rất ngạc nhiên, Wallander đưa mắt nhìn theo ông ta. Rồi ông bấm nhầm nút và máy nhả ra cho ông một cốc cà phê sữa. Có thể nói là không bao giờ ông uống loại nước đó. Ông đi thang máy xuống. Ann-Britt Hoglund vừa đến nơi. Vẻ mặt nhợt nhạt, mắt thâm quầng, cô báo cho ông là họ chưa tìm được những dấu vết quan trọng ở hiện trường. Sự kiệt sức hiện rõ trong giọng nói của cô. Tất cả chúng ta đều kiệt sức, ông nghĩ - ngay cả trước khi đi qua được tầng trên cùng của cơn ác mộng.
Ông tóm tắt cho cô cuộc nói chuyện với Isa Edengren. Cô nhướng mày khi ông nói đến giọng nói Svedberg thu trong băng. Ông cũng nói ngay cho cô kết luận duy nhất ông thấy hợp lý: Svedberg biết, hoặc ít nhất là ngờ rằng, ba thanh niên chưa bao giờ đi du lịch..
— Làm sao mà cậu ấy biết được điều đó? Trừ khi cậu ấy ở đúng trung tâm các sự kiện…
— Đặc biệt điều đó nói cho chúng ta một việc khác. Theo một cách nào đó, quả đúng là vậy, cậu ấy nằm ở trung tâm các sự kiện. Nhưng cậu ấy không biết tất cả. Nói một cách khác, nếu không thì cậu ấy không cần phải thẩm vấn Isa Edengren.
— Như thế thì có nghĩa là Svedberg đã không giết họ. Dù thế nào, không ai thực sự nghiêm túc nghĩ đến giả thuyết đó.
— Đã từng có lúc tôi nghĩ đến điều đó. Giờ thì khác rồi. Tôi tin là chúng ta có thể liều bước thêm một bước. Vài ngày sau ngày Saint-Jean, Svedberg bắt đầu đặt những câu hỏi cho thấy là cậu ấy biết điều gì đó. Điều gì?
— Rằng họ đã chết?
— Không nhất thiết. Cái mà cậu ấy chắc chắn, là điều chúng ta đã biết trước khi tìm thấy những cái xác.
— Nhưng cậu ấy e ngại điều gì?
— Đó chính là câu hỏi quyết định. Sự lo lắng của Svedberg xuất phát từ đâu? Nỗi sợ? Hay sự nghi ngờ?
— Có thể là cậu ấy biết điều gì đó mà chúng ta không biết chăng?
— Dù thế nào đi nữa thì cũng phải có một chi tiết khiến cậu ấy thấy nghi ngờ. Có thể đó chỉ là một linh cảm, chúng ta không thể biết được. Nhưng cậu ấy không nói gì về chuyện đó cho chúng ta. Cậu ấy muốn tự mình làm sáng tỏ chi tiết. Cậu ấy xin nghỉ phép và bắt đầu cuộc điều tra riêng. Cậu ấy tỏ ra rất hăng hái và tỉ mỉ.
— Thế thì sao? Cậu ấy biết gì?
— Chúng ta phải khám phá điều đó. Cốt tử đấy.
— Nhưng nó cũng không giải thích tại sao cậu ấy cũng bị giết.
— Cũng không giải thích được tại sao cậu ấy lại tự làm mọi việc một mình.
Cô nhíu mày.
— Tại sao người ta lại che giấu điều gì đó?
— Bởi vì người ta không muốn thông tin bị lan rộng. Hoặc bởi vì không muốn bị phát hiện.
— Có thể là có một cái gì đó khác.
— Tôi đã suy nghĩ rồi. Có thể có một hoặc nhiều người giữa Svedberg và các sự kiện đó.
— Người phụ nữ có tên Louise?
— Có thể. Chúng ta chưa biết gì hết cả.
Một cánh cửa ở cuối hành lang bật mở. Người bác sĩ xuất hiện. Họ không thể đẩy lùi thêm nữa thời điểm đó. Wallander mở cửa. Isa Edengren không hề nhúc nhích khỏi chỗ vẫn ngồi. Ông bước vào phòng một mình.
— Tôi phải báo cho cô một tin. (Ông ngồi xuống gần cô.) Một tin rất đau lòng. Chính vì vậy tôi đã yêu cầu bác sĩ của cô cùng tới. Và một đồng nghiệp của tôi, tên là Ann-Britt.
Ông thấy là cô bắt đầu sợ. Nhưng không thể bước lùi lại sau được nữa. Hai người khác bước vào. Wallander nói cho cô sự thật. Ba người bạn của cô đã được tìm thấy. Họ đã chết. Đã có người giết họ.
Ông im lặng. Phản ứng, ông biết, có thể đến ngay tức khắc. Cũng có thể muộn hơn.
— Bây giờ chúng tôi muốn nói điều đó với cô. Để tránh cho cô khỏi phải biết tin qua báo chí.
Cô không phản ứng.
— Tôi biết là rất khó. Nhưng dù thế nào tôi cũng phải đặt cho cô một câu hỏi: cô có tưởng tượng ra ai đó có khả năng làm vậy không?
— Không.
Giọng cô rất yếu ớt. Tuy nhiên câu trả lời hết sức rõ ràng. Ông tiếp tục.
— Ai biết nơi sẽ tổ chức bữa tiệc?
— Chúng tôi không bao giờ nói về những bữa tiệc cho những người ngoài nhóm.
Một ý nghĩ thoáng chạy qua óc Wallander. Như thể cô đang đọc một đoạn trích nội quy. Cũng có thể đúng là như vậy.
— Không ai biết, ngoài cô?
— Không ai hết.
— Cô đã không tham gia bữa tiệc vì bị ốm. Nhưng cô biết nó sẽ được tổ chức ở đâu chứ?
— Trong khu bảo tồn.
— Và sẽ có hóa trang?
— Đúng.
— Không ai khác biết điều đó? Tất cả công việc chuẩn bị đều được tiến hành trong bí mật?
— Đúng.
— Tại sao phải bí mật?
Cô không trả lời. Lại thêm một lần nữa, Wallander nghĩ, vùng đất cấm của những câu hỏi mà cô từ chối trả lời. Cùng lúc, ông cảm thấy cô đang nói thật. Không ai biết địa điểm sẽ tổ chức, bữa tiệc.
Ông không còn câu hỏi nào.
— Chúng tôi sẽ đi. – Ông nói. – Nếu cô nghĩ ra điều gì đó, các bác sĩ ở đây biết phải tìm tôi ở đâu. Tôi cũng muốn cô biết rằng tôi đã nói chuyện với mẹ cô.
Cô run lên.
— Tại sao? Bà ta thì có liên quan gì đến tôi?
Giọng cô trở nên sắc nhọn. Wallander cảm thấy rất khó ở.
— Tôi không có lựa chọn nào khác. Cô ở trạng thái hôn mê khi tôi tìm thấy cô. Trong trường hợp đó, chúng tôi phải báo tin cho người thân.
Cô định nói thêm điều gì đó, có thể là một lời phản đối, nhưng ngừng lại. Rồi cô òa khóc. Bác sĩ ra hiệu bảo họ đi ra. Trong hành lang, Wallander nhận ra ông đang toát mồ hôi.
— Lần nào cũng tồi tệ hơn lần trước đó. Tôi nghĩ là tôi sẽ không chịu được lâu nữa đâu.
Họ rời khỏi bệnh viện. Buổi tối rất ấm. Wallander đưa chìa khóa xe cho Ann-Britt.
— Cậu ăn chưa?
Cô lắc đầu.
• • •
Họ dừng lại trước một kiôt bán xúc xích trên đường đi Malmo - nơi hôm trước hoặc hôm trước nữa Wallander đã ăn. Họ im lặng kiên nhẫn đợi cho đến khi những thành viên cuối cùng của một nhóm vận động viên điền kinh Vadstena gọi xong đồ ăn. Rồi họ ăn trong xe. Wallander đói ngấu. Tuy nhiên, ông không thấy thèm ăn.
Sau khi đã xong, họ nán lại thêm một lúc.
— Ngày mai tất cả sẽ được công khai, – cô nói. – Khi ấy chuyện gì sẽ xảy ra?
— Trong trường hợp tốt nhất, chúng ta sẽ có được những thông tin có ích. Trong trường hợp xấu nhất, chúng ta sẽ bị buộc tội là thiếu khả năng.
— Cậu nghĩ đến Eva Hillstrom à?
— Tôi không biết. Nhưng bốn người đã bị giết. Với những thứ vũ khí khác nhau.
— Cậu có thấy gì không? Chúng ta phải tìm kiếm loại sát nhân nào?
Wallander suy nghĩ trước khi trả lời.
— Giết một người khác luôn hàm ý một hình thức điên rồ. Một sự mất kiểm soát bản thân. Nhưng cũng có một sự suy tính kỹ lưỡng trong toàn bộ câu chuyện đó. Tôi hình dung là người ta phải suy nghĩ hai lần trước khi giết một cảnh sát. Tôi cũng nghĩ đến những gì Isa Edengren đã nói ở bệnh viện. Không ai biết nơi bữa tiệc diễn ra. Hoặc, theo tôi, ai đó đã có thông tin. Tôi từ chối tin đó là một sự ngẫu nhiên hoàn toàn.
— Như vậy là chúng ta tìm một kẻ biết được về một bữa tiệc được chuẩn bị một cách vô cùng bí mật.
— Ai đó mà Svedberg đã đoán ra được.
Cuộc nói chuyện đến đây không thể tiếp tục được nữa. Thật là khó tin, Wallander nghĩ. Một yếu tố cốt tử vẫn vuột đi mất. Yếu tố nào?
— Mai là thứ Hai, – cô nói. – Ảnh Louise sẽ được đăng trên báo chí. Với một chút may mắn, chúng ta sẽ có được tin tức từ Viện pháp y Lund. Và những thông tin từ dân chúng.
— Tôi sốt ruột quá. Lúc nào tôi cũng có nhược điểm đó. Thêm nữa, sự sốt ruột của tôi ngày càng tăng lên theo năm tháng.
Họ đến sở không lâu trước hai mươi hai giờ ba mươi phút. Wallander nghĩ rằng tin về việc phát hiện ba cái xác ở khu bảo tồn hẳn đã bị rò rỉ, ngạc nhiên vì không thấy cánh báo chí. Trong phòng làm việc, ông cởi áo vest và xuống căng tin nơi những cảnh sát mệt mỏi và câm lặng cúi đầu xuống cốc cà phê và phần pizza của mình. Wallander nghĩ rằng mình nên nói vài câu khích lệ. Nhưng làm thế nào để giảm nhẹ tính nghiêm trọng của việc ba thanh niên bị giết chết trên một tấm vải màu xanh trong rừng? Và, ở hậu cảnh, vụ ám sát đồng nghiệp của họ mới đây…
Ông chọn cách không nói gì và chỉ gật đầu chào mọi người. Hansson mệt mỏi nhìn ông.
— Khi nào chúng ta bắt đầu.
Wallander nhìn đồng hồ đeo tay.
— Kém mười lăm. Martinsson có ở đây không?
— Đang trên đường đến.
— Còn Lisa?
— Trong phòng ấy. Tôi nghĩ là ở Lund hẳn là hết sức nặng nề với bố mẹ của họ. Mỗi cặp vợ chồng lần lượt đến nhận xác con. Nhưng Eva Hillstrom đến một mình, có vẻ như vậy.
Wallander không trả lời. Ông đi thẳng đến phòng Lisa Holgersson. Ông nhận ra cửa đang mở hé. Bà đang ngồi, hoàn toàn bất động. Đôi mắt sáng rực. Ông gõ nhẹ và đẩy cửa. Bà ra hiệu cho ông vào.
— Tôi hy vọng là chị không hối tiếc là đã đi Lund chứ?
— Không có gì để hối tiếc cả. Nhưng anh có lý. Thật là kinh khủng. Không thể có từ nào diễn tả được. Phải nói gì với họ đây? Những ông bố bà mẹ đến nhận xác con mình vào một ngày đẹp trời tháng Tám. Bên kỹ thuật đã làm việc rất nhiều để cải thiện tình hình mấy cái xác. Nhưng không thể che giấu được hoàn toàn sự thật là họ đã như vậy từ lâu rồi.
— Hansson nói với tôi là Eva Hillstrom đã đến một mình?
— Phải. Chính bà ấy lại là người tỏ ra bình tĩnh hơn cả. Có khả năng là vì bà ấy đã chờ đợi điều đó sẵn rồi.
— Bà ấy sẽ buộc tội chúng ta. Có thể là có lý. Bà ấy sẽ nói là chúng ta đã không làm gì cả.
— Anh thực sự nghĩ thế à?
— Không. Nhưng tôi không biết ý kiến của tôi có giá trị gì hay không. Nếu chúng ta có nhiều người hơn, tình hình có thể đã rất khác. Có cả vấn đề kỳ nghỉ nữa. Chúng ta sẽ luôn tìm được cách giải thích. Nhưng, xét cho đến cùng, chúng ta đang có chuyện với một bà mẹ cô độc vừa được biết rằng những lo ngại tồi tệ nhất của mình vẫn còn cách rất xa sự thật.
— Tôi muốn đề cập với anh chuyện tiếp viện. Tôi nghĩ là càng sớm càng tốt.
Wallander quá kiệt sức để có thể phản đối bà. Nhưng, trong thâm tâm, ông không đồng ý. Lúc nào người ta cũng nuôi hy vọng có được những kết quả nhanh nhất với số lượng cảnh sát lớn hơn. Tuy nhiên kinh nghiệm bản thân ông cho thấy điều ngược lại: một nhóm điều tra ít người và tổ chức tốt sẽ hoạt động hiệu quả nhất.
— Anh nghĩ gì về điều đó?
Wallander nhún vai.
— Chị biết là tôi nghĩ gì. Nhưng nếu chị quyết định như vậy, tôi sẽ không phản đối.
— Tôi nghĩ chúng ta sẽ phải nói chuyện đó ngay trong cuộc họp tối nay.
Ông khuyên bà không nên làm vậy.
— Mọi người đều mệt lắm rồi. Chị sẽ không có được câu trả lời hợp lý nhất đâu. Đợi đến mai đi.
Hai mươi hai giờ bốn mươi lăm phút. Wallander đứng dậy. Họ đi cùng đến phòng họp. Họ vừa ngồi xuống thì Martinsson xuất hiện, quần dính đầy bùn.
— Có chuyện gì thế? – Wallander hỏi.
— Tôi đã thử đi một đường tắt trong khu bảo tồn và bị lạc đường. Nhưng trong phòng tôi còn một cái quần. Tôi quay lại ngay đây.
Wallander tận dụng lúc đó để vào toalet và uống nước ở vòi. Khi nhìn thấy mặt mình trong gương, ông vội quay đi.
Hai mươi hai giờ năm mươi phút, những cánh cửa đóng chặt lại. Chỗ của Svedberg vẫn trống. Nyberg vừa từ khu bảo tồn về. Wallander đưa mắt nhìn ông dò hỏi nhưng ông lắc đầu. Chưa có phát hiện quan trọng nào.
Wallander bèn bắt đầu thuật lại cuộc gặp ở bệnh viện. Ông đã nghĩ đến việc mang theo máy nghe và cuộn băng cassette; họ im lặng lắng nghe giọng của Svedberg. Sự khó ở có thể cảm thấy rõ ràng ở quanh bàn, nhưng, khi ông nói lời kết luận - Svedberg biết điều gì đó, và có thể là vì thế mà anh đã bị giết - ông cảm thấy bầu không khí kiệt sức bỗng tan biến.
Ông đẩy cái máy nghe ra xa và thả hai bàn tay rơi xuống bàn. Ông không có chút ý tưởng gì về việc sẽ phải tiếp tục ra sao. Ông dò dẫm tìm kiếm một sợi dây dẫn đường.
Cuộc họp kéo rất dài. Đến một thời điểm nào đó, nhóm điều tra vượt được qua luôn cả sự kiệt sức và cảm giác chán ngán.
Một cuộc săn thú, Wallander nghĩ, có thể diễn ra trong một khung cảnh tưởng tượng cũng như ở một địa điểm có thật. Đó chính là việc lúc này chúng ta đang làm. Chúng ta đang làm việc theo phương pháp răng lược, không phải với những bờ bụi cây cối, mà với những nhận xét nhỏ nhặt nhất. Tiến trình công việc giống hệt như vậy.
Không lâu sau nửa đêm, họ nghỉ một lát, và Wallander đi vào toalet. Ông đi tiểu, uống nước thật lâu ở vòi. Khi cuộc họp tiếp tục, Martinsson ngồi nhầm vào chỗ của Svedberg. Anh vội đứng dậy. Wallander thấy miệng khô khốc và nửa đầu đau dữ dội. Nhưng ông nghiến răng lại và tiếp tục. Trong lúc nghỉ, ông cũng ghé qua phòng để gọi cho bệnh viện. Sau một lúc chờ đợi khá lâu, ông nói chuyện được với nữ y tá đã chích máu ở đầu ngón tay ông một lúc trước.
— Isa đang ngủ, – cô trả lời ông. – Cô ấy xin một viên thuốc ngủ, nhưng dĩ nhiên là chúng tôi không thể đưa được. Nhưng dù sao cô ấy cũng ngủ được.
— Bố mẹ cô ấy có gọi điện không? Mẹ cô ấy?
— Chỉ có một người đàn ông, tự giới thiệu là hàng xóm.
— Lundberg?
— Đúng rồi.
— Chắc là mai mới có phản ứng.
— Thật ra thì đã xảy ra chuyện gì?
Wallander không thấy có lý do gì để giấu cô. Nữ y tá im lặng một lúc lâu.
— Tôi không thể tin được điều đó, – cuối cùng cô nói. – Sao lại có thể như vậy được?
— Tôi cũng giống cô, tôi cũng tự đặt câu hỏi đó.
Ông trở lại phòng họp. Đã đến lúc tóm tắt lại tình hình.
— Tôi không biết tại sao chuyện đó lại xảy ra, – ông bắt đầu. – Cũng không hơn gì các bạn, tôi không thể hiểu nổi sự điên rồ đã thúc đẩy một kẻ giết ba thanh niên một cách lạnh lùng, giữa một bữa tiệc. Tôi không nhìn thấy một động cơ nào, và do đó, không có tác giả nào. Ngược lại, cũng như các bạn, tôi nhìn thấy một chuỗi sự kiện liên quan. Nó không hoàn toàn sáng sủa, và còn rất nhiều chỗ trống, nhưng tôi có nhìn thấy. Tôi sẽ bắt đầu lại từ đầu. Sửa cho tôi nếu tôi nhầm lẫn hoặc nếu tôi quên chi tiết nào đó nhé.
Ông mở một chai nước suối và đổ đầy cốc của mình trước khi tiếp tục.
— Trong buổi chiều ngày 21 tháng Sáu, ba thanh niên đến khu bảo tồn Hagestad, có khả năng là trên hai chiếc xe - mà chúng ta sẽ phải tìm ra, đó là một trong những việc cần được ưu tiên. Theo Isa Edengren - người lẽ ra đã tham gia bữa tiệc, nhưng bị ốm, tình huống rõ ràng là đã cứu sống cô ấy - họ đã thỏa thuận địa điểm từ trước đó. Họ tiến hành một kiểu hội hóa trang. Không phải là lần đầu tiên. Chúng ta có tất cả mọi lý do để tìm cách hiểu họ làm cái gì. Tôi có cảm giác về một liên hệ chặt chẽ, rất mạnh mẽ, có thể là vượt quá khuôn khổ tình bạn bình thường. Họ chuẩn bị hóa thân vào một bữa tiệc ‘như vào thời Bellman’. Họ cải trang, đội tóc giả, nghe nhạc của Bellman. Chúng ta còn chưa biết liệu có kẻ nào nhìn thấy họ không, hoặc khi họ đến khu bảo tồn, hoặc muộn hơn, trong buổi tối. Nơi diễn ra bữa tiệc rất vắng vẻ và ít người qua lại. Vào một lúc nào đó, một kẻ xuất hiện và giết họ. Cả ba đều bị giết bằng một phát đạn vào trán. Chúng ta còn chưa biết loại vũ khí mà hắn ta đã sử dụng. Nhưng tất cả đều cho thấy rằng tên giết người đã hành động vô cùng bình tĩnh. Năm mươi mốt ngày sau, chúng ta tìm thấy xác của họ. Đó là tiến trình thời gian có vẻ đúng nhất. Nhưng khi còn chưa biết chính xác ngày họ chết, chúng ta sẽ không thể loại trừ khả năng mọi chuyện đã diễn ra theo một cách khác hẳn. Nếu đúng là như vậy, chuyện đã xảy ra sau ngày Saint-Jean. Về điều đó thì chúng ta không biết gì hết cả. Độc lập với cái đó, chúng ta có thể khẳng định rằng tác giả vụ án có được một số thông tin. Không thể tin nổi rằng vụ giết một lúc ba người đó lại được thực hiện vì nhầm lẫn hoặc trùng hợp. Chúng ta không loại trừ giả thuyết về một kẻ có vấn đề về đầu óc. Tuy nhiên, mọi việc đều dẫn chúng ta đến chỗ tin rằng các thanh niên đó đã bị giết trong khuôn khổ một kế hoạch đã được lên từ trước. Kiểu kế hoạch như thế nào? Thậm chí tôi còn không thể hình dung ra được. Kẻ nào có khả năng giết ba thanh niên đang tổ chức tiệc tùng đó? Động cơ khả dĩ tin được là gì? Tôi không hiểu. Tôi có cảm giác đang va phải điều gì đó vuột hoàn toàn khỏi tay tôi.
Ông ngừng nói. Không ai lên tiếng. Ông tiếp tục.
— Các sự kiện không dừng lại ở đó. Chúng ta còn chưa biết đó là một khởi đầu hay là một kết thúc, một mắt xích của sợi dây hay là điều gì đó diễn ra song song với những hành động của các thanh niên đó xung quanh ngày Saint-Jean - Svedberg bị giết. Chúng ta tìm thấy trong nhà cậu ấy một bức ảnh chụp một bữa tiệc khác trong đó có mặt một trong số ba nạn nhân. Chúng ta biết rằng Svedberg đã tiến hành một cuộc điều tra mang tính cá nhân kể từ khi Eva Hillstrom và các ông bố bà mẹ khác bắt đầu lo lắng về sự vắng mặt của con mình. Chúng ta không biết là tại sao. Tuy nhiên có một mối liên hệ, mà chúng ta không được phép lơ là dù chỉ một giây phút. Chúng ta sẽ phải bắt đầu từ chính đó. Và chúng ta phải tính đến tất cả các giả thuyết.
Ông đặt bút chì xuống và đổi tư thế. Ông thấy đau lưng.
— Có thể là quá sớm, – ông nói tiếp. – Nhưng, khi xem xét nơi xảy ra án mạng, Nyberg và tôi đều có cảm giác đó là một trò dàn cảnh.
— Tôi không hiểu tại sao những cái xác lại có thể ở đó trong suốt năm mươi mốt ngày mà không ai nhìn thấy, – Hansson nói xen vào, vẻ rã rời. – Vào mùa hè khu bảo tồn rất đông người.
— Tôi cũng không hiểu nổi. Điều đó khiến chúng ta nghĩ đến ba giả thuyết. Hoặc chúng ta đã hoàn toàn nhầm lẫn, họ đã không bị giết vào ngày Saint-Jean, mà vào một bữa tiệc khác, mới gần đây. Hoặc nơi chúng ta tìm thấy xác của họ không phải là nơi xảy ra án mạng. Khả năng thứ ba: vẫn là chỗ đó, nhưng những cái xác đã được chuyển đi trước khi được để lại ở chỗ ban đầu.
— Ai có thể làm được điều đó? – Ann-Britt hỏi. – Và tại sao?
— Thế nhưng theo tôi đó lại đúng là cách mà sự việc đã diễn ra.
Mọi ánh mắt đổ dồn về phía Nyberg. Rất hiếm khi ông tỏ ra cả quyết như vậy vào lúc khởi đầu của một cuộc điều tra.
— Tôi cũng có cùng cảm giác với Kurt, – ông bắt đầu. – Một sự dàn cảnh. Hơi giống như khi một nhiếp ảnh gia điều chỉnh đối tượng của mình trước khi nhấn nút chụp. Sau đó tôi phát hiện được hai hay ba chi tiết khiến tôi phải suy nghĩ.
Wallander lắng nghe ông nói với sự chú ý cao độ, nhưng có vẻ như đột nhiên Nyberg không còn suy nghĩ rõ ràng được nữa.
— Chúng tôi đang nghe anh đây, – ông nói.
Nyberg lắc đầu.
— Điều này có vẻ như là hoàn toàn phi lý. Tại sao lại chuyển chỗ một cái xác? Trước khi đặt lại nó về chỗ cũ?
— Có thể có nhiều lý do: để đẩy lùi thời điểm phát hiện những cái xác, để có nhiều khả năng chạy trốn hơn.
— Hoặc để gửi những tấm bưu ảnh, – Martinsson xen vào.
Wallander gật đầu.
— Chúng ta phải đi từng bước. Không ý tưởng nào bị loại trừ cả.
— Đó là những cái ly, – Nyberg chậm rãi nói tiếp, – vẫn còn rượu vang trong hai cái. Một ít cặn đáy trong một cái, nhiều hơn ở trong cái còn lại, trong khi lẽ ra rượu đã phải bay hơi từ lâu rồi, dĩ nhiên. Nhưng điều làm tôi ngạc nhiên hơn cả, là không hề thấy có ruồi nhặng hoặc côn trùng. Lẽ ra phải có chứ. Ai cũng biết điều gì xảy ra khi để một ly rượu vang ngoài trời trong đêm. Sáng ra, người ta sẽ thấy có côn trùng chết ở trong đó. Còn trong mấy cái ly kia, không có gì hết cả.
— Kết luận của anh là gì?
— Tôi cho là những cái ly ở đó từ chưa lâu khi Leman phát hiện ra những cái xác.
— Bao nhiêu giờ?
— Tôi không thể trả lời câu hỏi đó được.
— Những gì còn lại của cuộc picnic nói trái ngược với anh, – Martinsson xen vào. – Thịt gà thối, xalat mốc, bơ bốc mùi, bánh khô đét. Đồ ăn không thể phân hủy nhanh đến thế được.
Nyberg nhìn anh chằm chằm.
— Đó không phải chính xác là điều mà chúng ta đang nói à? Một vụ dàn cảnh: người ta đặt vào đó những cái ly, rót một ít rượu vào. Đồ ăn mốc có thể được chuẩn bị từ trước và sau đó đặt vào mấy cái đĩa.
Nyberg vẫn hết sức tự tin, như từ khi bắt đầu lên tiếng.
— Có thể chứng minh được điều đó. Chúng ta sẽ sớm biết rượu có trong những cái ly đó đã bị tiếp xúc với không khí từ bao lâu. Chúng ta sẽ có thể hình dung ra rất nhiều điều. Nhưng tôi đã có một ý kiến về vấn đề này. Nếu vợ chồng Leman quyết định đi chơi vào ngày hôm kia, chắc chắn là họ đã không tìm thấy gì cả.
Im lặng trùm xuống. Wallander hiểu là Nyberg đã đi xa hơn ông trong các suy nghĩ, về phần mình, ông đã không tưởng tượng nổi là những cái xác có thể nằm ở nơi được tìm thấy quá hai mươi tư giờ. Nếu Nyberg nói đúng, tên giết người đã hành động rất gần họ, gần như cùng lúc với họ. Phát hiện của Nyberg cũng làm thay đổi về cơ bản vai trò của Svedberg. Hẳn là anh có thể giết và chuyển những cái xác đi chỗ khác. Nhưng không thể trả chúng về chỗ cũ được.
— Có vẻ như là anh rất chắc chắn về những gì anh nói, – cuối cùng ông lên tiếng. – Có khả năng nào cho việc anh nhầm hoàn toàn không?
— Không hề. Tôi có thể nhầm lẫn về khoảng thời gian chính xác. Nhưng về cơ bản, mọi chuyện đã diễn ra như tôi nói.
— Vẫn còn phải tìm hiểu liệu nơi những cái xác được tìm thấy có phải là nơi xảy ra án mạng hay không.
— Chúng tôi còn chưa kết thúc việc phân tích địa điểm. Nhưng có vẻ như là máu đã chảy qua vải và thấm xuống đất.
— Như vậy là anh nghĩ họ đã bị giết tại chỗ, và sau đó bị chuyển đi?
— Chính thế.
— Trong trường hợp đó, họ bị để ở chỗ nào?
Mọi người đều hiểu câu hỏi đó có ý nghĩa quyết định. Họ bắt đầu hình dung ra cách di chuyển của kẻ giết người. Mặc dù không thể rõ ràng được, kể từ nay họ đã lờ mờ nhìn ra cái bóng của những hành động của hắn. Và đó là một bước tiến lớn.
— Cho đến giờ, chúng ta mới chỉ hướng đến giả thuyết là có duy nhất một kẻ giết người, – Wallander nói. – Có thể đó là một sai lầm, nếu đặt ra trường hợp những cái xác bị chuyển đi chỗ khác.
— Có thể là chúng ta đã nhầm lẫn khi dùng từ, – Ann-Britt nói. – Có thể là không nên nói ‘di chuyển’ mà là ‘giấu giếm’.
Wallander có cùng ý kiến với cô.
— Nơi đó không thể nằm quá xa lối vào khu bảo tồn được, – ông nói. – Người ta có thể đi xe vào đó. Nhưng cái đó bị cấm, và sẽ gây chú ý. Như vậy những cái xác hẳn là đã được giấu ở quanh đó thôi. Rất có thể là ngay gần nơi xảy ra án mạng.
— Những con chó không tìm thấy gì cả, – Hansson nói. – Nhưng như thế cũng chưa nói lên điều gì.
Wallander vừa có một quyết định.
— Chúng ta không thể chờ đợi kết quả của tất cả các phân tích kỹ thuật. Tôi muốn chúng ta bắt đầu tìm kiếm ngay khi trời sáng. Một nơi có thể giấu những cái xác trong một khoảng thời gian. Nếu lập luận của chúng ta đúng, tôi tin là chỗ đó ở rất gần.
Đã hơn một giờ sáng. Họ đều cần ngủ vài giờ trước khi tiếp tục công việc.
Sau khi các đồng nghiệp đi khỏi, Wallander tập hợp giấy tờ của mình lại và về phòng để cất. Ông mặc áo vest và rời khỏi sở cảnh sát. Không có ngọn gió nào. Cái nóng không hề giảm mức độ. Ông hít thở thật sâu. Rồi ông đi tiểu cạnh một cái xe cảnh sát. Ngày hôm sau ông có hẹn chỗ bác sĩ Goransson. Ông biết mình sẽ không đến đó. Tỉ lệ đường trong máu của ông quá cao. Nhưng tìm đâu ra thời gian để nghĩ đến sức khỏe bây giờ?
Ông đi qua thành phố không một bóng người và nghĩ đến chi tiết mà họ chưa hề đề cập trong suốt cuộc họp dài đó, nhưng hẳn đó không phải là chi tiết duy nhất cần lo lắng.
Họ đoán ra một tên giết người và những di chuyển của hắn.
Họ không biết điều gì đã thúc đẩy hắn hành động như vậy.
Và càng không biết liệu hắn có ý định tiếp tục hay không.