Ngày thứ Hai bị phá hoại hoàn toàn. Đó là ý nghĩ đầu tiên của Wallander khi tỉnh dậy vào sáng thứ Ba. Ưu thế duy nhất là, lần đầu tiên kể từ rất lâu rồi, ông cảm thấy được nghỉ ngơi. Ông đã rời khỏi sở ngay vào lúc hai mươi mốt giờ. Không đủ sức nữa, ông buộc phải vừa bước lùi vừa chiến đấu. Ông đi xe về nhà, ăn vài cái sandwich khô khốc trong bếp và gần như đi nằm ngay sau đó. Ông không nhớ được chút gì kể từ khi tắt đèn ngủ.
Sáu giờ sáng. Ông nán lại trên giường, nằm im không nhúc nhích. Qua chỗ mở hé của hai cánh riđô, ông nhìn thấy bầu trời hôm nay màu xanh. Một ngày mất không, ông lại nghĩ. Không chút tiến triển nào. Ông đã nói chuyện với hai người đưa thư nông thôn. Cả hai người đều không có thông tin thú vị nào. Cả hai đều dễ mến và nói nhiều, nhưng cuộc điều tra không tiến thêm được lấy một milimet. Khoảng mười tám giờ, Wallander tóm tắt tình hình với các đồng sự của mình. Vào lúc đó, họ đã nói chuyện với tất cả những người đưa thư có tên trong danh sách. Nhưng họ đã đặt những câu hỏi nào cho những người đó? Và họ đã có được những câu trả lời nào? Wallander buộc phải thừa nhận rằng mình đã nhầm. Và đó không phải là ngõ cụt duy nhất của ngày hôm đó. Lone Kjaer đã gọi từ Copenhagen để thông báo rằng người ta đã không lấy được dấu tay trên quầy bar quán L’Amigo, cũng như trên ghế. Wallander không hy vọng vào một điều kỳ diệu, nhưng dù sao thì cũng đáng thất vọng. Một dấu tay duy nhất, đối chứng với những cái mà họ đã có, rất có thể thổi bay những nghi ngờ cuối cùng về việc người đàn ông cải trang thành phụ nữ đó chính là người mà họ đang tìm. Hiện giờ, vẫn còn một khả năng rất nhỏ nhưng đáng lo ngại rằng giả thuyết đó là sai, rằng người đàn ông đội tóc giả chỉ là một kẻ trung gian, chứ không phải là cái đích.
Martinsson đã vắt chân lên cổ với những hình ảnh ma quái bằng cách cho các đồng nghiệp xem nhiều đề nghị về kiểu tóc, lần nào cũng hỏi ý kiến họ. Wallander lờ mờ nghĩ đến những con búp bê hồi nhỏ của mình, những con búp bê mà người ta cắt từ các tờ tạp chí, những cái váy được đính bằng những cái kẹp giấy vào vai và hai bên sườn. Liệu người ta cũng có thể thay đổi kiểu tóc của chúng hay không? Ông không còn nhớ nữa.
Vấn đề là không ai có ý tưởng nào về chuyện đó. Wallander cử vài cảnh sát đến nhà Svedberg ở Lilla Norregatan để đưa ảnh chụp khuôn mặt không đội tóc giả đó cho những người sống ở tòa nhà xem. Không ai nhận ra cả.
Liệu họ có phải thêm một lần nữa đăng bức ảnh lên báo? Cuộc tranh luận về chủ đề này kéo dài - dài đến vô ích, theo Wallander. Ông đã mời Thurnberg đến dự cuộc họp, mong tìm được sự nhất trí của ông ta. Nhưng các ý kiến không tập trung. Wallander cương quyết. Ông muốn bức ảnh được đăng; hẳn ai đó sẽ phải nhận ra khuôn mặt giờ đây không còn đội bộ tóc giả. Ông nhấn mạnh vào điểm chỉ cần một người duy nhất nhận ra. Thurnberg ngồi im lặng một lúc lâu. Cuối cùng ông ta cũng đưa ra lời đồng ý. Bức ảnh sẽ được đăng sớm nhất có thể.
Tuy nhiên họ quyết định sẽ đợi đến thứ Tư, sau ngày tổ chức đám tang. Để đổi lại, họ sẽ chắc chắn có được một chỗ dễ thấy trên tất cả báo chí toàn quốc.
— Ai cũng thích mấy thứ ảnh chân dung tự động đó, – Wallander nói. – Có giống hay không cũng không quan trọng. Có một sự kích thích đặc biệt, gần như là thần kỳ, khi đăng một bức ảnh chưa hoàn chỉnh và hy vọng ai đó sẽ cung cấp được thông tin.
Buổi chiều được đánh dấu bằng một hoạt động điên cuồng. Hansson - người giỏi tin học nhất sau Martinsson - đã truy tìm trong tất cả các hồ sơ cảnh sát một dấu vết của Bror Sundelius. Rất dễ hiểu là không có gì. Trong thế giới của những chiếc máy tính, Sundelius là một công dân mẫu mực. Họ thỏa thuận rằng Wallander sẽ phải có thêm một cuộc nói chuyện với ông ta ngay sau ngày tổ chức đám tang. Lần này, ông sẽ gây áp lực lên ông ta. Wallander lưu ý họ rằng hẳn Sundelius sẽ có mặt ở đám tang.
Điện thoại đổ chuông không lâu sau mười sáu giờ. Một tay phóng viên của một tờ báo lớn toàn quốc thông báo với ông rằng Eva Hillstrom đã liên hệ với ban biên tập chỗ anh ta. Các ông bố bà mẹ của những thanh niên bị giết có ý định công khai chỉ trích công việc của cảnh sát. Họ cho rằng cảnh sát đã làm không hết chức trách của mình, và đã không cung cấp cho họ những thông tin mà họ có quyền được biết. Tay phóng viên muốn báo cho ông rằng: sự chỉ trích sẽ hết sức nặng nề. Eva Hillstrom đã nhiều lần nêu đích danh ông như là người phải chịu trách nhiệm chính - đúng hơn là người thiếu trách nhiệm chính. Bài báo sẽ chiếm một chỗ quan trọng trong số ra vào sáng hôm sau. Tay phóng viên muốn cho ông cơ hội trả lời. Nhưng, trước sự ngạc nhiên của anh ta, Wallander từ chối. Ông không muốn nghe những lời lẽ của Eva Hillstrom đọc qua điện thoại hoặc thông qua một máy fax. Ông muốn đọc chúng trên tờ báo sáng hôm sau và, nếu thấy có lý do để phản úng, ông sẽ liên hệ với ban biên tập, và mọi chuyện sẽ chỉ có thể diễn ra như vậy.
Sau cuộc nói chuyện đó, ông cảm thấy thêm một chỗ thắt nút trong dạ dày đã quá mức sợ hãi tên giết người hàng hoạt đó. Giờ đây, tiếng tăm của chính ông đang bị đưa ra thành vấn đề. Ông thử suy nghĩ thật kỹ về những ý định đó và đi đến kết luận rằng nhóm điều tra đã làm tất cả những gì có thể trong phạm vi quyền hành của mình. Nếu họ không bắt được tên giết người, thì lý do không phải là vì họ lười biếng, lơ là hay thiếu năng lực. Điều đó chỉ có nguyên nhân duy nhất là bản thân độ khó khăn của cuộc điều tra. Kể từ đầu, họ không có được một dấu vết nào, hoặc gần như vậy. Sau đó, có những sai lầm nội bộ, nhưng cái đó lại là chuyện khác. Không có cuộc điều tra hoàn hảo. Eva Hillstrom không đủ tư cách để phán xét.
Vào một cuộc họp bất thường vào lúc mười tám giờ - trong đó họ quyết định bỏ hoàn toàn hướng những người đưa thư nông thôn - và trong khi họ, kiệt sức, xem mấy bức ảnh mà Martinsson cung cấp, Wallander thuật lại cho họ cuộc nói chuyện với tay phóng viên. Thurnberg tỏ ra lo lắng và hỏi thẳng liệu có hợp lý không khi không yêu cầu được đọc trước.
— Đó chủ yếu là một vấn đề về thời gian, – Wallander trả lời. – Khi gánh nặng công việc của chúng ta lớn đến mức đó, những lời chỉ trích phải chờ đấy đã.
— Bà bộ trưởng và sếp lớn sẽ đến đây vào ngày mai. Sẽ rất đáng tiếc nếu trên máy bay họ đọc được một bài báo chỉ trích chúng ta.
Đột nhiên Wallander hiểu ra đâu là mối lo thực sự của Thurnberg.
— Việc đó sẽ không đổ lên đầu ông đâu, – ông nói. – Nếu tôi hiểu đúng những gì tay phóng viên đó nói, Eva Hillstrom và các ông bố bà mẹ khác trách cứ cảnh sát Chứ không phải bên công tố.
Thurnberg không trả lời. Sau cuộc họp, trong hành lang, Ann- Britt kể cho ông rằng Thurnberg đã tra hỏi cô chuyện gì đã thực sự xảy ra trong khu bảo tồn ngày Nils Hagroth đã bị Wallander ‘hành hung’.
Một sự mệt mỏi to lớn trùm lên người ông vào lúc đó. Họ chưa có đủ việc để làm hay sao? Chẳng lẽ lại phải dành sức lực để coi những lời buộc tội của Nils Hagroth là nghiêm túc? Chính vào thời điểm đó ông bắt đầu nghĩ rằng, dù cho toàn bộ hoạt động cường độ cao của họ, ngày thứ Hai là một ngày mất không.
Wallander nhìn đồng hồ báo thức. Sáu giờ rưỡi. Ông uể oải đứng dậy. Ông đã treo quân phục của mình ở cửa tủ. Giữa cuộc nói chuyện với các sếp và buổi lễ, ông sẽ không có đủ thời gian về nhà thay quần áo. Khi đã mặc xong, ông soi mình trước gương. Cái quần quá chật và ông phải bỏ không cài cái khuy cuối cùng của áo vest. Lần cuối cùng ông mặc đồng phục là khi nào? Ông không còn nhớ nữa. Dù thế nào thì cũng đã lâu lắm rồi. Trên đường đến sở, ông dừng lại trước một kiôt bán đồ ăn và mua tờ nhật báo sẽ phải đăng bài báo. Tay phóng viên đã không hề quá lời: họ đã dành rất nhiều chỗ cho vụ này, thậm chí còn có cả ảnh. Những lời buộc tội của Eva Hillstrom và các ông bố bà mẹ khác chủ yếu tập trung vào ba điểm. Thứ nhất, cảnh sát đã phản ứng quá muộn trước sự biến mất của con họ. Thứ hai, cuộc điều tra không hiệu quả. Thứ ba, họ cho rằng không được cung cấp đầy đủ thông tin.
Sếp lớn sẽ không hài lòng, Wallander nghĩ. Dù cho mình có nói gì với ông ấy. Rằng những kết tội này, có thể là ngoài việc chúng ta đã bắt đầu hơi muộn, không có căn cứ. Việc lời chỉ trích này được phát biểu trên báo đã đủ để hủy hoại toàn bộ danh tiếng của chúng ta.
Wallander đến sở không lâu trước tám giờ với cảm giác khó ở và tức giận. Ngày sẽ dài và mệt mỏi. Dù cho trời rất đẹp.
• • •
Không lâu trước mười một giờ ba mươi, Lisa Holgersson gọi cho ông từ xe của mình. Họ đã xuống sân bay và sẽ đến đó trong năm phút nữa. Wallander xuống chỗ tiếp tân để đón tiếp họ. Thurnberg đã ở đó sẵn. Họ nói với nhau vài câu. Cả hai người đều không nhắc gì đến bài báo.
Xe dừng bánh, sếp lớn mặc đồng phục và bà bộ trưởng vận đồ sẫm màu bó sát. Sau khi chào hỏi và giới thiệu thông thường, cà phê được phục vụ trong phòng Lisa Holgersson. Ngay trước khi vào phòng, bà kéo Wallander ra một chỗ.
— Họ đã đọc bài báo trên máy bay. Sếp rất không hài lòng.
— Còn bà bộ trưởng?
— Dè dặt hơn. Hẳn là bà ấy muốn biết thêm trước khi có ý kiến.
— Tôi có cần bình luận bài báo không?
— Chỉ khi nào tôi đề cập chủ đề đó thôi nhé.
Họ ngồi vào chỗ. Wallander nhận những lời chia buồn về cái chết của Svedberg. Rồi đến lượt ông lên tiếng. Ông không tìm được tờ giấy nguệch ngoạc mấy lời chuẩn bị sẵn; thế mà khi rời khỏi phòng mình ông vẫn cầm nó trên tay. Hẳn ông đã quên nó trong toalet.
Ông không buồn đi tìm nó. Điều quan trọng hơn cả, ông nói, là từ nay họ đã có được một manh mối. Ông có một tin để thông báo cho họ: tên giết người đã lộ diện. Cuộc điều tra đang tiến triển. Họ không còn giẫm chân tại chỗ nữa.
— Tất cả những điều đó đều rất đáng tiếc, – sếp lên tiếng khi Wallander đã nói xong. – Đáng tiếc và đáng ngại. Cảnh sát và mấy người thanh niên bị giết, và giờ đây là một cặp vợ chồng trẻ. Tôi trông cậy các anh sẽ làm sáng tỏ vụ việc trong thời gian ngắn nhất. Nếu các anh đã có được một đột phá mang tính quyết định, sẽ không ai có thể cảm thấy sung sướng hơn tôi.
Wallander có cảm giác sếp thực sự bận tâm về chuyện này. Đó không phải là trò vờ vịt.
— Một xã hội không thể tự bảo vệ trước những kẻ thần kinh, – bà bộ trưởng xen vào. – Những tên giết người hàng loạt xuất hiện ở mọi châu lục, ở các nền dân chủ cũng như trong các chế độ độc tài.
— Những kẻ tâm thần, –Wallander nói, – không bao giờ hành động theo cùng một cách. Họ không tạo thành một nhóm thuần phát. Hơn nữa, họ thường chuẩn bị trước các hành động của mình một cách có phương pháp và chính xác. Họ xuất hiện bất ngờ, thường không có tiền sự và biến mất không để lại dấu vết.
— Tự vệ dân sự, – sếp lớn nói. – Cái đó cần thiết.
Wallander không hiểu rõ lắm mối liên quan giữa những kẻ tâm thần và tự vệ dân sự. Nhưng ông không nói gì. Và sếp, về phần mình, cũng không nói đến những chiến lược cảnh sát mới có vẻ như không ngừng được ngầm chuẩn bị ở trung tâm. Bà bộ trưởng đặt vài câu hỏi cho Thurnberg; rồi cuộc gặp kết thúc. Khi đi ăn trưa, sếp nhận ra trong cặp của mình thiếu tài liệu.
— Vào thời điểm này tôi đang có một thư ký thay thế, – ông nói vẻ u tối. – Lúc nào họ cũng sai sót, vừa có đủ thời gian để biết tên họ là họ đã biến mất rồi.
Họ đi thăm sở cảnh sát một lúc. Wallander đi cách xa một quãng. Bà bộ trưởng tiến lại gần ông.
— Tôi đã nghe nói có một đơn khiếu nại nhằm vào anh. Thật ra là chuyện như thế nào?
— Tôi không quan tâm mấy đến việc đó. Khi đó anh ta đang ở trong khu vực an ninh. Không hề có hành hung.
— Tôi cũng nghĩ giống như vậy, – bà nói giọng đầy vẻ khích lệ.
Quay lại chỗ tiếp tân, đến lượt sếp hỏi Wallander.
— Lá đơn khiếu nại đó rất đáng tiếc. Nhất là vào thời điểm này.
— Lúc nào thì cũng đáng tiếc thôi. Nhưng không hề có hành hung.
— Vậy thì có gì?
— Không có gì, ngoài việc có một người ở trong khu vực an ninh.
— Việc cảnh sát có quan hệ tốt với công chúng và báo chí là rất quan trọng.
— Khi đơn khiếu nại đã được xếp lại, tôi sẽ nghĩ đến chuyện báo cho báo chí.
— Tôi muốn có một bản sao trước khi nó được gửi cho các báo.
Wallander hứa sẽ làm như vậy. Ông từ chối lời mời đi ăn trưa cùng họ và vào phòng Ann-Britt. Cô không có ở đó. Ông về phòng mình. Không khí trong sở cảnh sát thật tĩnh lặng. Ebba mặc đồ đen. Wallander gọi điện đến nhà Ann-Britt.
— Bài diễn văn thế nào rồi? – ông hỏi khi cô nhấc máy.
— Tôi đang bực mình đây. Hồi hộp, đau họng. Tôi sợ sẽ nói nhịu.
— Cậu sẽ làm tốt thôi. Hơn bất kỳ ai khác.
Sau đó, Wallander ngồi im không làm gì một lúc sau bàn làm việc. Một ý nghĩ rối bời nhảy nhót trong tâm trí ông, không sao nắm bắt được. Vài từ của bà bộ trưởng? Hay của sếp lớn? Không sao nắm bắt được.
Mười bốn giờ, nhà thờ Sankta Maria ở quảng trường trung tâm Ystad đông đặc người. Wallander đã giúp mang linh cữu lên bàn thờ. Linh cữu màu trắng, chỉ trang trí bằng hoa hồng. Vài phút trước khi chuông đổ, ông chào Ylva Brink.
— Sture sẽ không đến, – cô nói. – Ông ấy phản đối các đám tang.
— Tôi biết. Theo ông ấy, phải rắc tro đi bất kỳ đâu.
Wallander nhìn săm soi đám đông. Hẳn là Louise sẽ không lộ diện; nhưng ông vẫn tìm kiếm khuôn mặt cô ta. Giờ đây là một khuôn mặt đàn ông. Louis. Nhưng ông không nhìn thấy. Ngược lại, ông nhìn thấy và chào Bror Sundelius, người hỏi ông về tình hình cuộc điều tra.
— Chúng tôi đã có được một bước tiến quyết định, – ông trả lời. – Tôi không thể nói cho ông nhiều hơn.
— Miễn là các anh tìm được kẻ đã gây ra những chuyện đó.
Wallander nhận ra rằng Sundelius rất thật lòng. Vụ Svedberg bị giết làm ông ta rất chấn động. Liệu Sundelius có thể biết gì đó, ít nhất là một phần, trong những gì Svedberg biết? Liệu có thể là anh đã chia sẻ những lo âu của mình cho ông ta không?
Ý nghĩ đó càng làm tăng thêm mức độ cấp thiết phải nói chuyện với ông ta. Đó là một trong số các ưu tiên không thể chờ đợi thêm được.
Cuối cùng chuông nhà thờ cũng đổ. Nhạc của Bach thật hay, vị tu sĩ nói năng lễ độ và Wallander, ở hàng đầu, đầy hoang mang với ý nghĩ về đám tang tương lai của mình. Những đám tang như thế này là một vết thương. Liệu có nhất thiết phải làm như vậy không? Bà bộ trưởng nói đến nền cộng hòa và sự bảo vệ hệ thống tư pháp, ông sếp về khía cạnh bi thảm và gây chấn động của vụ việc. Cho đến phút cuối cùng, Wallander vẫn tự hỏi không biết liệu ông ta có thành công với ý tưởng tự vệ dân sự của mình không. Rồi ông nghĩ là mình đã bất công. Không có lý do gì để nghi ngờ những ý định của sếp. Rồi đến lượt Ann-Britt. Wallander chưa bao giờ nhìn thấy cô mặc đồng phục. Cô nói to và rõ ràng, và, trước sự ngạc nhiên của chính ông, Wallander chịu đựng được việc nghe những lời của chính mình. Rồi nhạc lại nổi lên, đoàn người lần lượt đi qua trước linh cữu và, qua những cửa kính nẹp chì, mặt trời muộn màng của tháng Tám.
Mãi đến gần cuối buổi lễ, ngay trước bài thánh vịnh cuối cùng, cuối cùng ông cũng tóm bắt được cái ý nghĩ trôi nổi. Một suy nghĩ của sếp lớn. Trong khi tìm kiếm những tài liệu thất lạc, về những cô thư ký thay thế. Những người chỉ làm một việc là đi lướt qua. Và sẽ bị nhanh chóng quên tên.
Tại sao cái suy nghĩ đó lại ăn sâu vào trí nhớ ông? Giữa bài thánh vịnh, đột nhiên ông hiểu ra. Vô thức của ông đã đặt ra một câu hỏi.
Liệu giới đưa thư cũng có những người thay thế?
Ông ngừng hát. Ý nghĩ đó khiến ông gần như phẫn nộ.
Nhưng khi ra khỏi nhà thờ, cảm thấy nhẹ nhõm vì buổi lễ đã kết thúc, ông nhận ra rằng ý nghĩ đó vẫn đeo đuổi ông. Một cú điện thoại cho Albinsson sẽ khiến ông rõ ràng được mọi chuyện.
Mười bảy giờ. Bà bộ trưởng và vị sếp hẳn đã ra đến sân bay. Wallander, đã về nhà để cởi bỏ bộ đồng phục, gọi điện đến trung tâm lọc thư. Không có ai nhấc máy. Trước khi tìm số nhà riêng của Albinsson, ông đi tắm. Rồi ông tìm thấy kính và giở danh bạ. Kjell Albinsson sống ở Rydsgard. Vợ anh trả lời máy. Chồng cô đang chơi đá bóng, cô nói. Anh tham gia đội tuyển của bưu điện. Cô không biết trận đấu diễn ra ở đâu. Wallander nhờ cô chuyển cho anh số nhà riêng của ông.
Ông ăn một bát xúp cà chua đóng hộp với bánh mì cứng. Rồi nằm dài trên giường. Ông lại thấy mệt mỏi, dù đã có một đêm ngủ đẫy giấc. Đám tang là một thử thách.
Ông bị đánh thức bởi tiếng chuông điện thoại. Đã mười chín giờ ba mươi phút. Ông nhận ra giọng Kjell Albinsson.
— Trận đấu thế nào?
— Không hay lắm. Chúng tôi đấu với một lò mổ tư. Họ không mạnh lắm, nhưng chỉ là một trận giao hữu thôi. Giải còn chưa bắt đầu.
— Hẳn đó là một cách tốt để giữ sức khỏe.
— Hoặc là tan nát chân cẳng vì những cú đá…
Wallander đi thẳng vào vấn đề.
— Hôm qua tôi quên mất không hỏi anh. Tôi cho rằng thỉnh thoảng bưu điện cũng thuê người làm thay chứ?
— Cũng có lúc.
— Những người thay thế đó là ai?
— Hiện nay, tất nhiên là có rất đông ứng cử viên, vì tình hình thất nghiệp mà. Nhưng chúng tôi thường tìm những người có kinh nghiệm. Và chúng tôi gặp may, vì hiện nay có hai người thường xuyên làm, những lúc cần.
— Họ không có ảnh trong cuốn sách giới thiệu phải không?
— Không, chắc vì thế mà tôi cũng quên không nói với ông. Chúng tôi có một phụ nữ tên là Lena Stivell. Hồi đầu bà ấy làm đầy đủ thời gian, rồi bán thời gian, rồi với tư cách thời vụ.
— Còn người kia? Cũng là một phụ nữ à?
— Anh ấy tên là Ake Larstam. Anh ấy vốn là một kỹ sư. Rồi đổi nghề.
— Sang nghề đưa thư?
— Cũng không đáng ngạc nhiên như người ta tưởng đâu. Đây là một nghề khá tự do. Và được gặp gỡ rất nhiều người.
— Thời gian này anh ta có làm việc không?
— Anh ấy làm cho đến khoảng một tuần trước đây. Hiện tại thì tôi cũng không rõ anh ấy đang làm gì.
— Anh có thể nói một chút về anh ta không?
— Anh ấy khá ít nói. Nhưng rất cẩn thận. Tôi nghĩ anh ấy khoảng bốn mươi tư tuổi. Anh ấy sống ở đây, Ystad, khu Harmonigatan, số 18 nếu tôi không nhầm.
— Gì khác nữa không?
— Gần như là tất cả rồi đấy.
Wallander suy nghĩ.
— Những người thay thế có thể được bổ đi các quận khác nhau không?
— Có, đó là nội quy. Lúc nào cũng cần đưa thư, ngay cả khi một người đưa thư bị cảm cúm trong vài ngày.
— Thời gian gần đây Larstam làm việc ở khu vực nào?
— Ở quận Tây Ystad.
Mình sai bét rồi, Wallander nghĩ. Ở đó chẳng xảy ra chuyện gì cả. Cặp vợ chồng mới cưới không sống ở đó, các thanh niên ở khu bảo tồn cũng không.
— Tôi nghĩ là chỉ có vậy thôi. Cám ơn vì đã gọi lại cho tôi.
Wallander nói và bỏ máy. Ông đã quyết định sẽ quay lại sở.
Nhóm điều tra sẽ không họp, nhưng ông muốn xem xét kỹ hơn vài chi tiết trong hồ sơ mà cho đến giờ ông mới chỉ lướt qua.
Điện thoại đổ chuông. Lại là Albinsson.
— Xin lỗi rất nhiều. Tôi lẫn lộn Lena và Ake. Lena mới là người phụ trách khu vực phía Tây.
— Ake Larstam không làm gì à?
— Tôi nhầm chính chỗ đó đấy. Lần gần đây nhất anh ấy làm việc ở Nybrostrand.
— Vào lúc nào?
— Vài tuần trong tháng Bảy.
— Anh còn nhớ lần trước đó là ở đâu không?
— Có, anh ấy đã làm khá lâu ở phía Ragla. Hình như là từ tháng Ba đến tháng Sáu.
— Anh đã làm rất đúng khi gọi lại cho tôi.
Wallander bỏ máy. Như vậy là người thay thế tên Larstam đã làm việc ở khu vực cả Torbjorn Wemer và Malin Skander sống. Trước đó, anh ta ở một khu vực bao trùm Skarby, nơi Isa Edengren sống.
Điều gì đó nói với ông rằng không thể như vậy được. Rằng ông đang bám vào những sự tình cờ đầy mạo hiểm. Tuy nhiên ông vẫn giở danh bạ và tìm một thuê bao có tên Larstam. Không có. Ông gọi cho trung tâm thông tin và được biết số điện thoại của anh ta nằm trong danh sách đỏ.
Ông mặc quần áo và đến sở. Khi đi qua trước phòng trực, ông thử hỏi có ai trong các điều tra viên đang có ở đây không và ngạc nhiên khi được biết Ann-Britt đang ở trong phòng. Ông đi đến đó. Cô đang tìm gì đó trong một đống hồ sơ dày cộp.
— Tôi cứ nghĩ tối nay không có ai ở đây, - ông nói.
Cô vẫn mặc đồng phục. Wallander đã khen ngợi cô về bài diễn văn.
— Tôi thuê một cô trông trẻ, – cô nói. – Tôi phải lợi dụng cơ hội này. Có vô cùng nhiều giấy tờ tôi chưa có thời gian để đọc.
— Tôi cũng thế. Chính vì thế mà tôi đến đây.
Ông ngồi xuống ghế phôtơi dành cho khách. Ann-Britt đẩy đống giấy tờ ra xa và chờ đợi.
Ông kể cho cô ý nghĩ chợt đến với mình sau khi nghe sếp nói về những người thư ký thay thế, và kết quả cuộc nói chuyện của ông với Albinsson.
— Nhìn vào miêu tả của cậu, khó có thể nói đó là một tên giết người hàng loạt.
— Một tên giết người hàng loạt thì ra sao? Không thể biết được. Tôi chỉ nói rằng chúng ta đang có trong tay một người từng làm việc ở khu vực mà một số nạn nhân đã sống.
— Theo cậu thì chúng ta phải làm gì?
— Tôi chỉ muốn nói chuyện với cậu.
— Chúng ta đã tra hỏi những người đưa thư chính, vì vậy chúng ta cũng sẽ phải nói vài lời với những người thay thế. Có phải cậu muốn nói vậy không?
— Có thể là không cần nói chuyện với Lena Stivell…
Cô nhìn đồng hồ đeo tay.
— Chúng ta đi dạo một lát đi, – cô đề nghị. – Làm cho đầu óc thông thoáng, đến luôn Harmonigatan và bấm chuông cửa nhà Larstam. Chưa muộn quá đâu.
— Tôi chưa nghĩ đến việc đó. Nhưng đồng ý.
Họ rời khỏi sở. Mất mười phút họ đến được khu phía Tây của thành phố.
— Tôi nghĩ là tôi vẫn chưa tin nổi là Svedberg không còn ở đây nữa, – đột nhiên cô nói. – Mỗi lần chúng ta họp, tôi lại chờ nhìn thấy cậu ấy ở chỗ quen thuộc.
— Vẫn chưa có ai khác ngồi vào đó. Tôi nghĩ là sẽ mất nhiều thời gian đấy.
Họ đã đến nơi. Số 18 là một tòa nhà cũ cao bốn tầng. Có bảng điện thoại nội bộ. Larstam sống ở tầng trên cùng. Wallander bấm chuông. Họ chờ đợi. Ông bấm thêm một lần nữa.
— Ake Larstam không có ở nhà.
Ông sang bên kia đường và nhìn lên. Hai cửa sổ sáng đèn. Ông quay lại chỗ Ann-Britt và xem xét cái cổng. Thật lạ lùng, nó không khóa. Không có cầu thang máy. Họ đi lên cái cầu thang rộng. Wallander bấm chuông cửa. Tiếng chuông vang lên trong căn hộ. Không có ai trả lời. Ông lại bấm chuông. Ann-Britt Hoglund cúi người xuống và mở nắp hộp thư.
— Không có tiếng động nào, – cô nói. – Nhưng có ánh đèn.
Wallander bấm chuông thêm một lần nữa. Rồi ông đấm cửa.
— Để sáng mai đi, - cô nói.
Đột nhiên Wallander có cảm giác có cái gì đó rất lạ lùng. Cô nhận ra.
— Cậu nghĩ gì thế?
— Tôi không biết. Có điều gì đó không ổn.
— Chắc anh ta không có nhà thôi. Người phụ trách trung tâm lọc thư chẳng nói hiện nay anh ta không làm việc còn gì. Có thể là anh ta đang đi nghỉ chăng?
— Chắc thế.
Wallander ngần ngừ. Ann-Britt đã ở cầu thang.
— Thôi để mai đi, - cô nói.
— Trừ khi chúng ta không cố thử vào xem sao.
Cô đứng sững lại.
— Cậu có nghiêm túc không đấy? Cậu muốn phá cửa à? Anh ta bị nghi ngờ vì điều gì đó à?
— Một ý nghĩ thôi. Vì đằng nào chúng ta cũng đã ở đây rồi.
Cô lắc mạnh đầu.
— Tôi không đồng ý. Chuyện ấy đi ngược lại với tất cả những gì chúng ta đã được học.
Wallander nhún vai.
— Cậu có lý. Để mai vậy.
Họ quay lại sở. Trong lúc đi, họ xem xét lại việc phân chia công việc trong những ngày tới. Đến chỗ tiếp tân, họ chia tay nhau. Wallander về phòng và xem qua đống tài liệu đang nằm chờ. Khoảng hai mươi ba giờ, ông gọi điện thoại đến Stockholm và thành công trong việc gọi được cho quán ăn có đường dây lúc nào cũng bận. Linda không có nhiều thời gian lắm. Họ thỏa thuận sáng mai cô sẽ gọi lại.
— Mọi chuyện ổn chứ? – ông hỏi. – Con đã biết sẽ đi du lịch đâu chưa?
— Chưa. Nhưng con sẽ đi.
Cuộc nói chuyện ngắn ngủi với Linda cung cấp cho ông sức lực mà ông đang cần. Ông quay trở lại với đống giấy tờ. Khoảng hai mươi ba giờ ba mươi phút, Ann-Britt xuất hiện ở cửa.
— Tôi về đây, – cô nói. – Có vài chi tiết tôi muốn thảo luận với cả nhóm vào ngày mai.
— Tốt lắm.
— Tôi sẽ cố gắng có mặt ở đây trước tám giờ. Chúng ta có thể bắt đầu ngày mới bằng việc quay lại nhà Larstam.
— Chúng ta sẽ làm việc đó ngay khi có một lúc rảnh rỗi.
Cô đi khỏi. Wallander đợi năm phút. Rồi ông lấy một chùm chìa khóa vạn năng cất trong một cái ngăn kéo và rời khỏi sở.
Ông đã quyết định khi còn đứng ở thềm nhà Larstam. Nếu cô không muốn giúp ông, ông sẽ làm việc đó một mình.
Điều gì đó ở nhà Ake Larstam làm ông lo lắng. Ông muốn biết rõ mọi chuyện.
Ông quay lại Harmonigatan. Mười hai giờ kém mười phút. Gió đã bắt đầu thổi đến từ hướng Đông. Wallander cảm thấy một chút tiền vị của mùa thu. Có thể là cơn nóng kéo dài cuối cùng cũng sắp kết thúc chăng?
Ông bấm điện thoại nội bộ. Những cửa sổ tầng trên cùng vẫn sáng đèn. Không ai trả lời. Ông vào nhà và lên gác.
Ông có cảm giác mình đang quay trở lại điểm xuất phát - cái đêm khi Martinsson và ông lên nhà Svedberg. Ông rùng mình. Ở thềm nhà tất cả im phăng phắc. Ông mở nắp hộp thư. Không có gì. Một ánh sáng yếu ớt. Ông bấm chuông. Thật lâu. Chờ đợi. Bấm chuông lần nữa. Sau năm phút, ông rút chùm chìa khóa và, lần đầu tiên, xem xét thật nghiêm túc các ổ khóa. Thoạt tiên, ông không tin vào mắt mình. Rồi ông nhận ra rằng đây là hệ thống ổ khóa tinh vi nhất mà ông từng nhìn thấy. Ake Larstam là người tự nhốt mình một cách cẩn thận nhất. Ông hiểu rằng mình sẽ không bao giờ một mình mở nổi cánh cửa này. Cùng lúc, trực giác mơ hồ biến thành cái gì đó vô cùng mạnh mẽ. Ông do dự một khoảnh khắc trước khi lấy điện thoại di động bấm số của Nyberg.
Một giọng nói đầy tức tối trả lời ông. Không cần hỏi là ông có đánh thức Nyberg dậy hay không.
— Tôi đang cần anh, – ông chỉ nói vậy.
— Đừng nói là lại có người chết nhé.
— Không, không có nạn nhân. Nhưng tôi cần anh giúp để phá một cái cửa.
— Anh cần một kỹ thuật viên để làm chuyện đó?
— Trong trường hợp này thì có.
Nyberg gầm gừ. Nhưng giờ ông đã tỉnh hoàn toàn. Wallander miêu tả các ổ khóa và nói địa chỉ cho ông. Rồi ông nhẹ nhàng xuống thang gác. Ông muốn đợi Nyberg trên phố để giải thích tình hình cho ông. Nyberg có khả năng phản đối rất ầm ĩ, và ở đây khả năng ông phản đối là vô cùng lớn.
Ông cũng biết là mình sắp làm một điều không mấy nên làm.
Mười phút sau Nyberg đến nơi. Wallander đoán ông vẫn mặc pyjama dưới áo vest. Như đã đoán trước, ngay lập tức Nyberg tỏ ý phản đối.
— Anh không thể chui vào nhà người ta theo cách đó được…
— Tôi chỉ muốn anh mở cửa. Sau đó, nếu anh muốn thì cứ về nhà. Tôi nhận toàn bộ trách nhiệm. Tôi sẽ không nói với ai là anh đã đến.
Nyberg tiếp tục phản đối. Nhưng Wallander cương quyết. Cuối cùng, Nyberg chấp nhận lên thang gác và xem xét các ổ khóa.
— Sẽ không ai tin anh đâu, – ông nói sau khi nhìn qua. – Sẽ không ai tin là anh có thể một mình vào được đây đâu.
Ông bắt tay vào việc. Một giờ kém mười phút, cuối cùng cánh cửa cũng mở ra.