Chậm Một Bước

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
***

❊ ❊ ❊

Thứ Sáu ngày 25 tháng Mười, một cơn mưa dai dẳng đổ xuống Ystad.

Gió thổi thành từng đợt ào ạt từ hướng Đông Nam. Wallander ra khỏi tòa nhà Mariagatan không lâu sau tám giờ; nhiệt độ là 7 độ celcius. Mặc dù đã quyết định là sẽ đi bộ đến sở thường xuyên nhất có thể, ông vẫn lấy xe. Ông xin nghỉ ốm được mười lăm ngày và bác sĩ Goransson vừa kéo dài kỳ nghỉ thêm một tuần. Lượng đường trong máu ông đã giảm, nhưng huyết áp vẫn còn quá cao. Ông nằm yên mười lăm phút trước khi người ta đo: 16/12. Ông hiểu là đợt nghỉ ngơi bắt buộc này có thể kéo dài hơn ba tuần nhiều.

Mặt khác, ông đến sở không phải để làm việc. Ông chuẩn bị thực hiện một cuộc gặp mà ông đã hứa trong những tuần hỗn loạn của tháng Tám, khi họ còn chưa biết danh tính tên giết người, và liệu còn có thêm các nạn nhân mới hay không.

Wallander còn nhớ rất rõ lúc đó, khi Martinsson bước vào phòng làm việc của ông và nói với ông về đứa con trai mười một tuổi muốn trở thành cảnh sát của anh. Wallander đã hứa sẽ tiếp cậu bé khi nào cơn ác mộng kết thúc. Tối hôm trước, ông đã bỏ khá nhiều thời gian để tìm cái mũ đồng phục, mà ông đã không sao tìm ra được vào dịp đám tang Svedberg. Cuối cùng ông cũng lôi được nó ra từ đáy một cái tủ.

Ông đội nó lên đầu và nhìn vào gương, với cảm giác đang nhìn một bức ảnh cũ, gần như bị lãng quên. Những ký ức ùa về.

Ông để lại xe trên bến đỗ và khó nhọc đi ngược chiều gió đến cửa vào sở. Ebba đang bị cúm. Bà ra hiệu bảo ông đứng xa ra trong lúc bà xì mũi. Trong một năm nữa, ông nghĩ, bà sẽ không còn làm ở sở nữa. Bà thấy vui vì được về hưu, bà nói; cùng lúc, việc đó cũng làm bà sợ.

David sẽ đến vào lúc chín giờ kém mười lăm phút. Trong khi đợi cậu, Wallander dọn dẹp phòng làm việc..Trong vài giờ nữa, ông sẽ rời khỏi Ystad. Ông vẫn chưa biết liệu đó có phải là một quyết định đúng đắn hay không. Nhưng dù sao ông cũng thấy vui với ý nghĩ sẽ lái xe đi qua những phong cảnh mùa thu, vừa đi vừa nghe nhạc opera.

David đến đúng giờ. Ebba đưa cậu đến tận phòng Wallander.

— Anh có khách này, - bà mỉm cười nói.

— Vâng, và là một người khách quan trọng.

Cậu bé rất giống bố. Cậu có vẻ dè dặt, giống hệt Martinsson.

Wallander đã đặt cái mũ lên bàn.

— Chúng ta bắt đầu từ đâu đây? Cái mũ hay những câu hỏi?

— Những câu hỏi.

David rút từ trong túi ra một tờ giấy và vuốt thẳng nó ra. Cậu đã chuẩn bị rất kỹ.

— Tại sao bác lại trở thành cảnh sát?

Câu hỏi hết sức đơn giản này làm ông bối rối. Ông đã quyết định coi cuộc nói chuyện với David là hết sức nghiêm túc. Như vậy ông phải trả lời một cách trung thực và có suy nghĩ.

— Bác tin là bác từng nghĩ sẽ có thể trở thành một cảnh sát tốt.

— Tại sao? Không phải tất cả cảnh sát đều tốt à?

Câu hỏi này không được ghi sẵn trên tờ giấy.

— Phần lớn thì đúng. Nhưng có thể là không phải tất cả. Cả các thầy giáo cũng không phải đều tốt cả.

— Bố mẹ bác đã nói gì khi bác thông báo với họ là bác muốn trở thành cảnh sát?

— Mẹ bác không nói gì. Bà ấy đã chết khi bác có quyết định đó.

— Còn bố bác?

— Ông ấy phản đối. Đến mức suýt nữa ông ấy và bác không nhìn mặt nhau nữa.

— Tại sao?

— Đến giờ bác vẫn không biết. Chắc cháu thấy như thế là rất kỳ cục, nhưng đó là sự thật đấy.

— Hẳn là bác phải hỏi ông ấy chứ?

— Không bao giờ ông ấy chịu trả lời.

— Ông ấy vẫn sống chứ?

— Không, ông ấy mới mất rồi. Cho nên bác không thể đặt câu hỏi đó cho ông ấy được nữa. Ngay cả khi bác rất muốn làm việc đó.

Những câu nói đó có vẻ khiến David cảm thấy lo lắng. Cậu tìm câu hỏi thứ ba viết trên mẩu giấy.

— Đã có lúc nào bác thấy hối tiếc vì đã trở thành cảnh sát chưa?

— Rất thường xuyên. Bác nghĩ là tất cả các cảnh sát đều thấy như vậy.

— Tại sao?

— Bọn bác bị buộc phải gặp rất nhiều chuyện khủng khiếp. Bọn bác cảm thấy bất lực. Bọn bác tự hỏi liệu sẽ có đủ sức để chịu đựng suốt đời hay không.

— Đôi khi bác có cảm giác là mình đang làm một việc tốt không?

— Đôi khi. Nhưng không phải lúc nào cũng thế.

— Bác có thấy là cháu nên trở thành cảnh sát không?

— Bác nghĩ là cháu nên chờ đợi. Theo bác, khi nào mười bảy, mười tám tuổi người ta mới thực sự biết mình muốn làm gì.

— Cháu thì muốn trở thành cảnh sát, hoặc là đi làm đường.

— Thế à, tại sao?

— Như thế sẽ làm cho cuộc đời những người muốn đi du lịch trở nên dễ dàng hơn.

Wallander gật đầu. Cậu bé này rất chịu khó suy nghĩ.

— Cháu chỉ còn một câu hỏi nữa thôi, – David nói. – Đã có bao giờ bác thấy sợ chưa?

— Rồi. Khá thường xuyên là khác.

— Bác làm gì trong những lúc đó?

— Bác không biết. Bác ngủ không ngon. Bác cố nghĩ đến một chuyện khác, nếu có thể.

Cậu bé cho mẩu giấy vào túi và nhìn cái mũ. Wallander chìa nó cho cậu. David đội nó lên đầu. Wallander dẫn cậu đến trước một cái gương để cậu có thể ngắm nhìn mình. Cái mũ quá rộng, trùm xuống hết tai cậu. Sau đó Wallander dẫn cậu xuống chỗ tiếp tân.

— Cháu có thể quay lại nếu còn có những câu hỏi khác nữa.

Ông nhìn cậu bé đi xa dần trong cơn mưa gió. Khi quay lại phòng làm việc, ông tiếp tục sắp xếp đống giấy tờ. Ham muốn ra đi còn mạnh hơn lúc trước. Ông muốn rời khỏi sở mau chóng nhất có thể được.

Ann-Britt Hoglund xuất hiện ở cửa.

— Tôi cứ nghĩ cậu đang nghỉ ốm chứ?

— Thì đúng rồi.

— Cuộc gặp thế nào?

Wallander nhìn cô, không hiểu.

— Cuộc gặp nào?

— Martinsson đã kể cho tôi…

— David là một cậu nhóc rất thông minh. Tôi đã cố gắng trả lời thành thật nhất có thể được những câu hỏi của nó. Nhưng tôi tự hỏi không biết bố nó có giúp nó viết chúng không.

Ông xếp lại mấy thứ giấy tờ. Bàn làm việc đã quang hẳn. Ann-Britt ngồi xuống ghế phôtơi dành cho khác.

— Cậu có một chút thời gian không?

— Một ít thôi. Tôi sẽ đi vài ngày.

Cô đứng dậy và đóng cửa lại.

— Trong thâm tâm, tôi không biết tại sao lại kể cho cậu chuyện này, cô nói khi đã ngồi xuống. Cho đến khi có gì mới, tôi muốn chỉ cậu và tôi biết thôi nhé.

Cô ấy định bỏ việc, Wallander nghĩ. Cô ấy không đủ sức để tiếp tục nữa. Cô ấy đến gặp mình để nói chuyện đó.

— Cậu hứa chứ?

— Ừ, tôi hứa.

— Thỉnh thoảng người ta cảm thấy nhu cầu được chia sẻ những lo lắng của mình với ít nhất một người.

— Tôi cũng vậy.

— Tôi sẽ ly dị, – cô nói. – Chúng tôi đã thỏa thuận được với nhau rồi. Đó là giả sử người ta có thể nói đến chuyện thỏa thuận về cái chủ đề đó, khi có thêm hai đứa con nhỏ liên quan nữa.

Wallander nhận ra là mình không ngạc nhiên. Hồi cuối hè, cô đã để lộ cho ông là tình hình không được suôn sẻ lắm.

— Tôi không biết phải nói gì…

— Không cần đâu. Đừng nói gì. Chỉ cần cậu biết chuyện đó thôi.

— Cả tôi nữa, tôi cũng đã ly dị. Hoặc đúng hơn là bị vợ bỏ. Dù sao tôi cũng biết một chút về cái địa ngục do chuyện đó gây ra.

— Tuy vậy, cậu đã thoát ra được rồi.

— A? Tôi lại nghĩ đúng hơn là ngược lại đấy.

— Nếu đúng là như vậy, thì cậu giỏi che giấu đấy.

— Chắc là thế rồi.

Những hạt mưa đập vào kính cửa sổ. Những đợt gió giờ đây đã đến gần hơn.

— Một chuyện khác, – cô nói. – Larstam đang viết một cuốn sách.

— Sách thế nào?

— Về tám vụ án mạng của hắn. Và hiệu ứng của chúng lên hắn.

— Làm thế nào mà cậu biết được?

— Tôi đọc trên báo.

Wallander cảm thấy niềm tức tối dâng lên trong người.

— Ai trả tiền cho hắn để làm việc đó?

— Một nhà xuất bản. Bài báo không nói hắn sẽ kiếm được bao nhiêu, nhưng chắc phải là một món tiền lớn. Hồi ký của một tên giết người hàng loạt, cái đó có khả năng bán rất chạy.

Wallander lắc đầu vẻ khinh bỉ.

— Tôi thì chỉ thấy buồn nôn.

— Có thể là hắn sẽ trở nên giàu có. Ngược lại với chúng ta.

— Tội ác làm ra tiền, theo hàng nghìn cách.

Cô đứng dậy.

— Tôi chỉ muốn cậu biết chuyện thôi.

Ở ngưỡng cửa, cô quay đầu lại.

— Chúc lên đường may mắn nhé, dù là đi đâu.

Cô đi khỏi. Wallander suy nghĩ một lúc đến những gì cô vừa nói với ông: vụ ly dị của cô, và cuốn sách của tên giết người. Sự tức tối của ông. Và huyết áp cao đáng sợ.

Ông đã nghĩ rằng mình sẽ rời khỏi sở ngay sau khi làm xong việc; nhưng rồi ông ngồi nán lại trong ghế phôtơi của mình. Những sự kiện hồi cuối hè trở về trong ký ức ông.

• • •

Họ đã bắt được Larstam trước khi hắn ra tay thực hiện được vụ giết người thứ chín. Sau đó, tất cả những ai từng đụng độ với hắn đều kinh ngạc trước thái độ lịch sự và dè dặt của hắn. Ai cũng chờ đợi sẽ gặp một con quái vật, và nếu nhìn vào những hành động mà hắn đã làm, thì hắn quả thực là một con quái vật. Nhưng Sture Bjorklund hẳn là sẽ rất khó khăn trong việc đề nghị lấy hắn làm nhân vật chính cho các ông chủ của ngành phim kinh dị toàn cầu của ông ta. Thậm chí nhiều lần Wallander còn nghĩ rằng Ake Larstam là con người bình thường nhất mà ông từng gặp.

Ông đã mất nhiều ngày dài để thẩm vấn hắn. Thường thì, ông nghĩ rằng Ake Larstam là một người khép kín hoàn toàn, không chỉ với những người sống xung quanh mà hẳn là còn với cả bản thân hắn. Hắn trả lời thẳng thắn những câu hỏi của Wallander. Tuy vậy, cứ như thể là hắn không bao giờ nói điều gì cho ông hết.

— Tại sao anh lại giết ba thanh niên ở khu bảo tồn? Anh đã đọc trộm thư của họ, anh đã theo dõi họ để phát hiện ra địa điểm tổ chức bữa tiệc, anh đã đứng đợi họ tại đó trong nhiều giờ. Và rồi anh đã bắn vào trán họ. Tại sao?

— Thật may mắn vì được chết khi đang ở đỉnh cao của đời mình.

— Vì thế mà anh đã giết họ? Để làm điều tốt cho họ?

— Tôi tin là như thế.

— Anh tin? Hẳn là anh phải biết, anh đã dự tính trước mọi điều.

— Người ta có thể dự tính mà không cần cả biết.

— Anh đã gửi những tấm bưu ảnh từ nhiều thành phố châu Âu. Anh đã giấu xe của họ, anh đã giấu xác họ. Tại sao?

— Tôi không muốn họ bị phát hiện.

— Nhưng tại sao anh lại chôn họ theo cách đó? Để có thể lôi họ ra sau đó?

— Tôi muốn giữ được khả năng đó.

— Nhưng tại sao?

— Tôi không biết. Để được nhìn thấy. Tôi không biết.

— Anh bỏ công đi đến tận Bamso để giết Isa Edengren. Tại sao anh không để cô ấy sống?

— Lúc nào cũng phải đi đến tận cùng những gì mà người ta đã quyết định.

Thỉnh thoảng, những cuộc thẩm vấn dẫn đến một điểm khiến Wallander không sao chịu đựng nổi. Khi đó ông ra khỏi phòng, nghĩ rằng gã đàn ông ngồi trong đó chỉ là một con quái vật, dù cho nụ cười dễ mến và những cung cách lịch sự của hắn. Rồi ông tự buộc mình phải quay lại, phải tiếp tục. Họ đã nói đến cặp vợ chồng trẻ - mà hắn không thể tha mạng bởi vì từ họ tỏa ra một hạnh phúc khiến hắn không thể chịu đựng được.

Cuối cùng, họ nói đến Svedberg. Câu chuyện tình phức tạp và bí mật kéo dài. Mối tình tay ba bi thảm với Bror Sundelius, người không hề biết rằng Svedberg đã phản bội ông ta với một người đàn ông khác. Và Nils Stridh, người biết chuyện và dọa sẽ tố cáo họ. Rồi nỗi sợ của Svedberg khi hiểu ra rằng rất có thể người đàn ông anh thường đi lại trong suốt mười năm là tác giả sự mất tích của ba thanh niên. Thậm chí họ còn nói đến cái kính viễn vọng mà Larstam đã giấu vào kho chứa đồ của Bjorklund. Một hướng đi giả, hắn giải thích. Một trò đánh lạc hướng.

Trong những cuộc hỏi cung bất tận đó, Wallander thường xuyên có cảm giác mình không có được câu trả lời hoàn chỉnh. Luôn luôn có gì đó vuột đi mất, không thể nắm bắt trong những lời đáp của Larstam. Lúc nào hắn cũng dễ mến, xin lỗi khi không nhớ được chính xác một chi tiết nào đó. Nhưng ở trong con người hắn có cái gì đó giống như một cái ngăn trống, một không gian rỗng mà Wallander không sao xâm nhập nổi. Ông cũng không hiểu nổi mối quan hệ từng có giữa Larstam và Svedberg.

— Buổi sáng hôm đó đã xảy ra chuyện gì? – ông hỏi để kết thúc.

— Buổi sáng nào cơ?

— Khi anh vào căn hộ của Svedberg và bắn cậu ấy - bằng khẩu súng ăn cắp ở Ludvika, trong một lần đến thăm chị gái anh.

— Tôi buộc phải giết anh ấy.

— Tại sao?

— Anh ấy buộc tội tôi có dính dáng vào chuyện mấy thanh niên mất tích.

— Họ đã không mất tích. Mà chết. Bằng cách nào mà cậu ấy lại bắt đầu nghi ngờ anh?

— Tôi đã nói cho anh ấy.

— Anh đã nói rằng chính anh gây ra việc đó?

— Không. Nhưng tôi đã nói cho anh ấy về những giấc mơ của tôi.

— Những giấc mơ nào?

— Làm ngậm miệng những người đang cười.

— Thế tại sao người ta lại không được cười?

— Sớm hay muộn, hạnh phúc cũng sẽ dẫn đến điều trái ngược của nó. Tôi muốn tránh cho họ thoát khỏi sự trở cờ đó. Tôi đã mơ thấy điều đó, và tôi đã kể cho anh ấy.

— Anh đã nói rằng thỉnh thoảng anh nghĩ đến việc giết những người hạnh phúc à?

— Đúng vậy.

— Và điều đó đã khiến cậu ấy nghi ngờ?

— Mấy ngày trước đó tôi mới nhận ra.

— Trước cái gì?

— Trước khi giết anh ấy.

— Chuyện gì đã xảy ra?

— Anh ấy bắt đầu hỏi tôi nhiều điều. Giống như một cuộc hỏi cung. Việc đó làm tôi căng thẳng. Tôi không thích phải lo lắng.

— Thế là anh đã lên nhà cậu ấy và giết cậu ấy?

— Anh ấy ngồi trong ghế phôtơi. Thoạt tiên, tôi chỉ muốn nói với anh ấy là đừng làm tôi căng thẳng với những câu hỏi của anh ấy nữa. Nhưng anh ấy cứ tiếp tục. Thế là tôi buộc phải chấm dứt hoàn cảnh đó. Trước đó tôi đã mang khẩu súng trường đến, nó được để ở lối vào. Tôi đã ra tìm nó và giết anh ấy.

Wallander im lặng một lúc lâu. Ông cố hình dung ra khoảnh khắc cuối cùng của cuộc đời Svedberg. Liệu anh có đủ thời gian để hiểu ra không? Hay là mọi chuyện xảy ra quá nhanh?

— Chắc là phải khó khăn lắm, – ông nói thêm. – Khi phải giết người mà mình yêu.

Larstam không trả lời. Khuôn mặt hắn không biểu hiện điều gì. Wallander nhắc lại điều ông vừa nói nhưng không nhận được phản ứng nào.

Cuộc thẩm vấn tiếp tục một cách kiên nhẫn. Khi lục tìm đống quần áo của Larstam sau khi hắn bị bắt, họ đã tìm được một cái máy ảnh nhỏ. Khi rửa ảnh, người ta có được hai bức ảnh: một chụp ở khu bảo tồn không lâu sau cái chết của ba thanh niên, cái thứ hai bằng đèn flash, trên đảo Bamso. Isa Edengren nằm co quắp giữa đám dương xỉ.

Wallander đặt mấy bức ảnh lên bàn.

— Tại sao anh lại chụp ảnh các nạn nhân?

— Tôi muốn ghi nhớ.

— Nhớ gì?

— Khi đó thế nào.

— Anh muốn nói về cảm giác khi vừa giết xong những người vô tội?

— Đúng hơn là đã thực sự hoàn thành dự án mà tôi đã tự đặt ra.

Wallander còn nhiều câu hỏi nữa. Nhưng cơn buồn nôn đột ngột buộc ông phải đẩy mấy bức ảnh ra xa. Ông không còn đủ sức để tiếp tục, ít nhất là không phải ngay lập tức.

Khi đó ông nói đến đêm cuối cùng, khi Larstam đợi ông trong căn hộ Mariagatan.

— Tại sao anh lại chỉ định tôi làm nạn nhân?

— Tôi không còn ai khác cả.

— Anh muốn nói gì?

— Lúc đầu, tôi có ý định chờ đợi. Có thể là một năm, có thể hơn. Rồi tôi cảm thấy nhu cầu tiếp tục, bởi vì mọi chuyện diễn ra tốt đẹp quá.

— Nhưng tại sao lại là tôi? Tôi không phải là một người quá hạnh phúc. Tôi không hay cười lắm.

— Dù vậy ông cũng có một công việc. Trên báo, tôi đã nhìn thấy những bức ảnh chụp ông đang cười.

— Hơn nữa, tôi không cải trang. Thậm chí tôi còn không mặc đồng phục cảnh sát.

Câu trả lời của Larstam làm ông sửng sốt.

— Tôi định sẽ làm việc đó vào lúc sau.

— Gì cơ?

— Cải trang cho ông. Tôi đã nghĩ đến việc đội bộ tóc giả của tôi cho ông và hóa trang ông thành Louise. Tôi không còn cần đến cô ta nữa. Cô ta có thể chết đi được rồi. Tôi đã quyết định hóa thân vào một người đàn bà khác.

Larstam nhìn thẳng vào mắt ông. Wallander chịu đựng cái nhìn. Sau này ông không bao giờ có thể nói được mình đã nhìn thấy gì vào lúc đó. Nhưng ông sẽ không bao giờ quên nó.

Cuối cùng, không còn câu hỏi nào nữa. Wallander đã dựng lại được hành trình của một gã đàn ông chưa bao giờ tìm được vị trí cho mình, phát điên và cuối cùng bùng nổ trong một cơn hung bạo mà hắn không thể kiểm soát được. Sau đó việc khám tâm thần hoàn chỉnh thêm hình ảnh đó: một đứa trẻ bị hắt hủi, bị làm nhục, chưa bao giờ học được điều gì khác ngoài trốn tránh và bỏ chạy. Kẻ không chịu đựng được việc bị sa thải. Kẻ dần dần quyết định rằng những ai cười là những kẻ xấu.

Wallander nghĩ rằng qua câu chuyện này ông lờ mờ đoán định được một cái bóng đáng sợ kể từ nay đang dần bao trùm lên khắp đất nước. Càng ngày những kẻ vẫn được xem là mờ nhạt sẽ bị buộc phải sống những cuộc đời không xứng đáng ở những nơi bên lề rất khó nhọc của xã hội, nơi họ bị kết án phải thụ động quan sát những người khác, những người ở phía tốt đẹp của cái barie, những người có nhiều lý do để hài lòng.

Ông nhớ đến một cuộc trò chuyện chưa kết thúc với Ann-Britt, về sự sụp đổ của xã hội Thụy Điển - có thể là sự sụp đổ đó đã đi xa hơn rất nhiều so với họ nghĩ - và về thứ bạo lực phi lý trí, bấp bênh, đã trở thành một phần không thể thiếu của cái thường nhật. Cảm giác rằng đã đến bước tiếp theo: khi hàng loạt những bộ phận quan trọng của hệ thống tư pháp hoàn toàn ngừng hoạt động. Lần đầu tiên trong đời, Wallander tự hỏi không biết liệu sẽ có lúc toàn bộ xã hội Thụy Điển nổ tung từ bên trong hay không - khi mà những rạn nứt đã đủ nhiều. Bosnia, ông nghĩ, có thể đã gần hơn rất nhiều so với mình tưởng cho đến hiện tại. Ông không ngừng nghĩ đến những điều đó trong khi thẩm vấn Larstam. Gã đàn ông này là ai? Một con người ít khó hiểu hơn lẽ ra phải như vậy. Một sự sụp đổ từ bên trong phản chiếu một sự suy yếu của số đông bên ngoài.

Đến một lúc, không còn gì để thêm vào nữa. Wallander kết thúc buổi thẩm vấn cuối cùng. Ake Larstam bị đưa đi, và chỉ có vậy.

Vài ngày sau đó, Eva Hillstrom tự tử. Ann-Britt là người báo tin cho Wallander. Ông im lặng nghe cô nói. Rồi ông rời khỏi sở, mua một chai whisky và uống đến say mềm.

Nhưng ông không bao giờ có lời bình luận nào về chuyện đó. Không bao giờ để lộ suy nghĩ sâu kín của mình: rằng chính bà, Eva Hillstrom, là nạn nhân thứ chín và cuối cùng của Ake Larstam.

• • •

Ông lấy áo vest, đứng dậy và ra khỏi phòng. Vali của ông đã nằm trong cốp xe. Ông kiểm tra xem mình đã mang theo điện thoại di động theo chưa, nhưng lại tắt nó đi và để nó ở băng ghế sau. Ông rời khỏi thành phố vào lúc mười giờ mười phút. Ông lấy hướng Kristianstad, rồi Kalmar.

Mười bốn giờ, ông dừng xe trước quán cà phê bên đường đi Vastervik. Ông biết rằng quán đóng cửa trong mùa đông; nhưng ông vẫn nuôi một niềm hy vọng mơ hồ rằng cô vẫn có ở đó. Trong mùa thu, nhiều lần ông đã nghĩ đến việc gọi điện thoại cho cô. Nhưng ông không bao giờ làm điều đó cả. Mặt khác, thậm chí ông còn không biết thật ra ông muốn gì ở cô. Ông xuống khỏi xe. Mưa và gió theo ông kể từ Scanie. Những chiếc lá thu đính chặt xuống mặt đất. Tất cả đều đóng cửa. Ông đi vòng quanh khu nhà cho đến một căn phòng nhỏ nơi ông đã ngủ khi từ Bamso trở về. Mới vài tháng trước - tuy vậy ông có cảm giác chuyện đó chưa bao giờ xảy ra. Hoặc là, đã quá lâu rồi, đến mức ký ức của ông đã bắt đầu biến mất.

Tất cả những ô cửa đóng kín đó khiến ông thấy khó ở.

Ông lên xe và tiếp tục đi đến nơi ông định đến - rất có thể đó là một sai lầm.

Ở Valdemarsvik, ông dừng lại, mua một chai whisky, bước vào một cái quán, gọi một tách cà phê, bánh sandwich không quết macgarin. Mười bảy giờ, khi trời đã tối, ông đi vào con đường khúc khuỷu dẫn đến Gryt và Fyrudden.

Lennart Westin đã bất chợt gọi điện cho ông vào đầu tháng Chín, khi Larstam đã bị nhốt, cuộc điều tra hoàn thành, hồ sơ đã chuyển sang chỗ Thurnberg. Đó là buổi chiều, Wallander đang thẩm vấn một thanh niên đã đánh đập bố mình, một cuộc thẩm vấn nặng nề và gây chán nản, Wallander không sao hiểu được rõ ràng thực sự chuyện gì đã xảy ra. Cuối cùng, ông đành bỏ cuộc; Hansson tiếp tục thay ông. Khi quay lại phòng mình, ông nghe tiếng chuông điện thoại. Đó là Westin. Khi nào ông muốn đến quần đảo? Wallander đã quên mất lời mời. Ông muốn từ chối, nhưng lại nhận lời, nghĩ rằng sẽ không bao giờ có chuyến đi đó cả. Họ thỏa thuận cuối tháng Mười. Westin đã gọi lại cho ông để ấn định ngày giờ. Và giờ đây ông đang ở trên đường.

Westin sẽ đến đón ông ở cảng Fyrudden vào lúc mười tám giờ; Wallander sẽ ở nhà vợ chồng ông cho đến Chủ nhật.

Ông cảm thấy biết ơn, nhưng cũng hơi hoảng sợ. Có thể nói là chưa bao giờ ông đến chơi nhà những người lạ. Mùa thu năm nay là mùa thu nặng nề nhất mà ông từng biết. Ông không ngừng nghĩ đến sức khỏe, sợ sẽ bị một cơn đau tim quật ngã, mặc cho những lời trấn an kiên nhẫn của bác sĩ Goransson. Ông bắt đầu hồi phục, lượng đường ổn định, ông đã giảm cân, thay đổi các thói quen về ăn uống. Nhưng thường xuyên, ông nghĩ là tất cả đã quá muộn. Ông chưa đầy năm mươi tuổi, nhưng vào những thời điểm đen tối, đã có lúc ông nghĩ rằng mình đang là đối tượng của một án treo. Một tiếng tiếng còi vô hình lúc nào cũng có thể vang lên báo hiệu trận đấu kết thúc.

Ông đi vào cảng. Gió thổi mạnh và những hạt mưa đập vào kính trước. Ông để xe lại đúng chỗ đã để nó hồi tháng Tám. Tắt máy và lắng nghe tiếng sóng đập vào ke. Gần mười tám giờ, ông nhìn thấy ánh đèn cập bờ. Đó là Westin.

Ông xuống xe, lấy vali từ trong cốp ra và đi đến chỗ Westin.

Westin bước ra khỏi khoang lái. Khi nhìn thấy ông, Wallander nhớ ngay đến nụ cười của ông.

— Xin chào mừng! – Westin gào to để át tiếng gió và tiếng mưa. – Chúng ta đi luôn thôi, bữa tối đã sẵn sàng rồi.

Ông đỡ lấy cái vali của Wallander. Còn Wallander vụng về trèo lên boong. Ông thấy lạnh. Nhiệt độ đang giảm không ngừng.

— Thế là, – Westin nói khi Wallander đã vào được đến trong khoang lái, – cuối cùng anh cũng đã đến!

Vào lúc đó, Wallander không còn hiểu nổi những do dự của chính mình nữa. Ông thấy vui vì được ở trên con tàu của Westin, đang trên đường đi băng qua gió và bóng tối. Westin rẽ hướng. Wallander bám chặt vào thứ đồ đầu tiên ông tìm thấy. Khi họ đã rời khỏi bến cảng, ông cảm thấy những đợt sóng đang vỗ mạnh vào thân tàu.

— Anh không bị say sóng chứ? – Westin hỏi.

Không có chút giễu cợt nào trong giọng nói của ông. Đúng hơn là sự dịu dàng.

— Tôi không biết. Chắc là có đấy.

Westin tăng dần tốc độ. Đột nhiên Wallander nhận ra là ông đang rất vui. Ông tự hỏi tại sao. Rồi ông đoán ra câu trả lời.

Không ai biết ông đang ở đâu. Không ai có thể gặp được ông.

Lần đầu tiên từ rất lâu, ông mới có được sự yên tĩnh.

Sáng hôm sau, Wallander tỉnh dậy vào lúc sáu giờ với một cơn đau nửa đầu nhẹ. Họ đã uống rất nhiều whisky vào tối hôm trước. Ngay lập tức Wallander cảm thấy thoải mái khi ở nhà Westin, giữa hai đứa con nhút nhát và bà vợ của ông, người ngay lập tức coi ông như một người bạn lâu năm. Bữa tối tuyệt ngon với các món cá, cà phê và rượu whisky. Họ kể cho ông về cuộc sống của mình trên quần đảo. Wallander nghe họ nói, thỉnh thoảng đặt một câu hỏi. Bọn trẻ đi ngủ, vợ Westin cũng bắt chước chúng một lúc sau đó. Hai người ngồi nói chuyện cho đến khi gần uống cạn chai rượu. Thỉnh thoảng, Wallander ra ngoài đi tiểu vào trong gió. Mưa đã ngừng rơi. Nhưng trời mỗi lúc một thêm lạnh. Westin nghĩ rằng sáng sớm mai gió sẽ ngừng thổi.

Ông dẫn Wallander về phòng đã chuẩn bị sẵn: một hàng hiên được cải tạo để dùng vào mùa đông. Khi đó là hai giờ sáng. Wallander nằm nghe tiếng gió một lúc lâu. Không một lần nào ông nghĩ đến Larstam. Cũng như sở cảnh sát. Thậm chí cả Ystad.

Chỉ ngủ bốn tiếng, nhưng ông cảm thấy vô cùng khỏe khoắn, dù hơi đau đầu. Ông nằm nán lại trên giường để nhìn ra bóng tối bên ngoài. Bảy giờ, ông dậy, mặc quần áo và đi ra ngoài. Westin có lý. Gió đã yếu đi. Một cái nhiệt kế treo ở cửa sổ phòng bếp chỉ không độ cel- cius. Những đám mây nặng nề chạy trên bầu trời. Ông đi theo lối đi dẫn về phía cuối đảo. Những cái cây tỏa ra mùi thơm. Rất nhanh, ông đến chỗ những tảng đá. Trước mặt ông là biển lớn. Con tàu của Westin thả neo trong một cái vũng khuất gió về các phía Bắc và Đông. Ông đi dọc những tảng đá, ngắm nhìn bình minh đang dần ló hiện ở chân trời. Đột nhiên ông nhìn thấy Westin trên lối đi.

— Cám ơn vì buổi tối hôm qua nhé, – ông nói khi Westin đã đến gần. – Tôi không biết lần cuối cùng có một buổi tối như vậy là bao giờ nữa.

— Tôi đã nghe thấy anh dậy. Tôi nghĩ chúng ta có thể đi một vòng bằng tàu, tôi muốn chỉ cho anh cái này. Không có gì kỳ vĩ đâu, nhưng cũng đáng xem.

— Cái gì thế?

— Một hòn đảo. Ở tận cùng quần đảo. Hammarskar.

Westin cầm trên tay một cái túi nylông.

— Tôi có mang theo cà phê đây, – ông nói. – Nhưng whisky thì tôi nghĩ là chúng ta uống hết mất rồi.

Họ đi về phía cái vũng nhỏ. Ánh sáng nhanh chóng phủ đầy. Mặt biển màu xám chì, gần như không còn chút gió nào. Họ lên tàu, Westin đi giật lùi để ra khỏi cái vũng và hướng mũi tàu ra khơi. Họ đi qua những hòn đảo nhỏ đầy cây, rồi những tảng đá ngày càng trần trụi hơn và cách xa nhau hơn. Westin chỉ một tảng đá ngầm ngang mặt nước nằm biệt lập ở tận cùng quần đảo. Con tàu lướt nhẹ trên sóng. Westin giảm tốc độ và tái tàu đi vào giữa những tảng đá ở phía Nam.

— Xuống đi, – Westin nói. – Tôi sẽ ở lại đây, không cập vào được đâu. Anh có nhảy được không?

— Nếu tôi ngã xuống nước, chỉ cần anh vớt tôi lên thôi.

— Đi về phía Tây, anh sẽ nhìn thấy phế tích của những móng nhà. Ngày xưa có người sống ở đây. Tôi không biết họ xoay xở thế nào để sống được. Tổ tiên của tôi đã sống ở đây cho đến cuối thế kỷ mười tám. Một cặp vợ chồng trẻ. Một ngày tháng Mười, giống như ngày hôm nay, có một trận bão. Họ buộc phải ra ngoài để cứu đống lưới. Tàu lật, cả hai cùng chết. Ở nhà có nhiều trẻ con lắm. Trong số đó có một đứa con trai nuôi. Tên là Lars Olson. Một trong số chắt của ông ấy đã lấy họ Westin. Tôi là hậu duệ trực hệ của ông ấy.

Westin đã rót cà phê vào hai cái cốc nhựa, miệng vẫn tiếp tục nói.

— Tôi đã nghĩ là anh nên đi một vòng trên đảo. Nước Thụy Điển bắt đầu ở đây, hoặc là kết thúc ở đây. Điều đó phụ thuộc vào cách nhìn của mỗi người.

Họ uống cà phê; con tàu chòng chành trên sóng. Rồi Westin nhẹ nhàng lái mũi thuyền lại gần một tảng đá ở nơi nước khá sâu. Wallander nhảy lên được mặt đất mà không trượt chân. Con tàu lùi lại. Westin bước ra khỏi khoang lái.

— Cứ thoải mái nhé! – ông hét. – Tôi sẽ chờ ở đây.

Những thảm thạch thảo trải dài ở mọi hướng. Trong những kẽ nứt, Wallander nhìn thấy những bụi cây nhỏ mọc lộn xộn. Còn lại, chỉ có nền đá. Một cái đầu chim nằm trơ trọi trong một cái hố. Ông đi về hướng Tây, khó nhọc leo lên những tảng đá ẩm ướt; những đám rêu rạp xuống dưới trọng lượng của ông. Ông nhanh chóng nhìn thấy một vũng nước nhỏ, tạo thành một cái giếng tự nhiên. Và đống đổ nát mà Westin đã nói đến. Giờ đây không còn nhìn thấy con tàu nữa, nó đã khuất sau những tảng đá. Im ắng như tờ, chỉ còn tiếng của biển. Cảm giác về sự cô đơn vĩ đại; nhưng cùng lúc cũng như thể đang ở trung tâm một cái gì đó. Một nơi cho phép tầm nhìn không ngừng mở rộng mãi ra.

Đây là nơi bắt đầu của đất nước Thụy Điển, ông nghĩ. Chính xác như Westin đã nói. Nó bắt đầu và kết thúc ở đây. Những tảng đá tiếp tục chậm chạp mọc lên từ biển. Tảng đá sơ khai của Thụy Điển.

Ông nhận ra là mình đang xúc động, mà không thực sự biết tại sao. Ông cố hình dung xem sống ở đây thì sẽ thế nào. Ở tận cùng của quần đảo. Trong những ngôi nhà gỗ ghép, trong sự nghèo khó và những thiếu thốn thường trực.

Ở đây đất nước Thụy Điển bắt đầu và kết thúc. Ở đây, ông đang ở trung tâm của một cái gì đó mà ông không thực sự nắm bắt được. Như thể Lịch sử, tại nơi đây, đang ở sát liền kề với phong cảnh, thời gian sát liền kề với không gian.

Ở phía Bắc khoảnh đất mấp mô của đống đổ nát là một tảng đá lớn, hẳn là điểm cao nhất của hòn đảo. Ông tìm cách trèo lên, trượt chân nhiều lần và bị rách quần. Cuối cùng ông cũng lên được đến đỉnh. Con tàu, nhảy nhót như một cái nút chai trên mặt nước, trông thật nhỏ bé khi nhìn từ khoảng cách này. Wallander nhìn ra xung quanh. Biển lớn, mở rộng, về phía Bắc và phía Đông. Ở phía Nam và phía Tây là quần đảo. Những con chim đơn độc bay lượn trên những luồng không khí bốc lên trên. Nhưng không một con tàu, không một chiếc thuyền buồm nào hứng gió chạy về các bến cảng mùa đông. Những cái vũng bỏ không, những cọc tiêu đánh dấu những mỏm ngầm dưới mặt nước, giống như những bức tượng bỏ không trong một viện bảo tàng đóng cửa theo mùa.

Wallander nghĩ rằng mình đang đứng trên một ngọn tháp cao. Từ đây, ông có thể tính toán được vị trí của mình. Những tảng đá và cái nhìn ra phía biển không cho phép tìm thấy một lối thoát nào.

Ông sắp năm mươi tuổi. Phần lớn nhất cuộc đời mình ông đã sống hết. Ông không thể quay lại phía sau, bắt đầu lại từ con số không. Vài năm trước, ông đã suýt quyết định rời khỏi ngành cảnh sát và chọn một nghề khác, chẳng hạn phụ trách an ninh cho một hãng nào đó. Ông đã cắt những mẩu tin tìm người trên báo, ông đã gần như quyết định trả lời chúng, rồi, đến phút cuối cùng, ông lại thôi. Giờ đây, chuyện đó sẽ không xảy ra nữa. Ông sẽ vẫn là cảnh sát. Và ông sẽ không bao giờ rời khỏi Ystad. Ông sẽ trải qua ít nhất là mười năm nữa trong phòng làm việc của mình ở sở. Rồi ông sẽ bước qua cánh cửa gắn kính lần cuối cùng, trong lớp da của một người về hưu, và điều sẽ xảy ra vào lúc đó, hiện giờ ông không mảy may có chút ý tưởng nào.

Ông sẽ tìm được sức lực ở đâu? Ông nhìn ra biển với hy vọng có được một câu trả lời. Nhưng chỉ có những lớp sóng dồi.

Ông nghĩ rằng xã hội sẽ tiếp tục rắn thêm lên. Ngày càng có thêm nhiều người bị đẩy ra ngoài, ngày càng có thêm nhiều thanh niên chỉ thừa kế duy nhất được sự chắc chắn là mình vô ích. Những hàng rào sắt và những chùm chìa khóa sẽ là biểu tượng cho những năm sắp tới.

Ông cũng nghĩ rằng nghề cảnh sát về bản chất chỉ hàm ý duy nhất một điều: kháng cự, chiến đấu chống lại những thế lực xấu xa đó.

Nhưng câu trả lời này không hề đầy đủ - đó là giả sử rằng nó đúng. Các chính khách Thụy Điển phần đông là những người chính trực, các nghiệp đoàn không bị mafia thao túng, lãnh đạo các công ty Thụy Điển không có súng, những người đình công hiếm khi bị đánh đập. Nhưng vết nứt đang tách xã hội thành từng mảnh không ngừng rộng mãi thêm lên. Không thể coi nó như là không tồn tại được. Một sự tái phân chia dân cư đã bắt đầu thành hình: những người mà xã hội cần đến, và những người còn lại. Là cảnh sát, trong hoàn cảnh đó, sẽ đồng nghĩa với những lựa chọn ngày càng khó khăn hơn. Sẽ phải chấp nhận tiếp tục lau chùi bề mặt trong khi sự thối rữa đang lan tràn ở bên dưới, ở ngay phần nền móng của xã hội.

Mọi thứ sẽ trở nên khó nhọc hơn. Ông nghĩ đến những năm đang chờ đợi mình và cảm thấy có đầy đủ các lý do để sợ hãi.

Cái nhìn của ông lại rơi xuống con tàu. Đã đến lúc phải quay lại đó rồi. Westin đã nói ông cứ thoải mái về thời gian, nhưng ông thấy mình đã quá lạm dụng rồi.

Tuy vậy, có điều gì đó vẫn giữ ông lại. Cảm giác đang ở trên ngọn tháp vô hình ở tận cùng quần đảo. Tầm nhìn, cái tầm nhìn không bị hạn chế. Được một lần ở vào trung tâm của chính mình.

Ông sẵn sàng nán lại thêm một lúc nữa. Nhưng ông không muốn làm Westin sốt ruột. Chậm rãi, cẩn thận, ông bắt đầu tụt xuống khỏi tảng đá.

Trên đường trở lại, ông dừng chân gần đống phế tích. Đây đó những viên đá đã bật ra. Ông có cảm giác chúng đang chầm chậm chuẩn bị quay lại chỗ một hôm chúng đã bị giật ra khỏi.

Khi ra đến mép nước, ông nhặt một viên đá cho vào túi. Làm kỷ niệm. Rồi ông đi tiếp về mỏm đá nơi ông đã nhảy từ tàu lên bờ.

Westin nhìn thấy ông và bắt đầu chậm rãi cho tàu tiến lại gần những tảng đá.

Vào lúc nhảy lên boong, Wallander nhận ra là tuyết rơi. Thoạt tiên là những bông tuyết đơn lẻ; rồi mỗi lúc một dày hơn. Cơn bão đến từ phía Đông Bắc và tiến nhanh về quần đảo. Nhiệt độ đã giảm xuống dưới không.

Mùa thu kết thúc, mùa đông đang rảo bước.

Wallander lên tàu. Con tàu quay đầu. Ông nhìn thật lâu hòn đảo nhỏ đang biến mất dần dưới màn tuyết.

Ngày hôm sau, Chủ nhật 27 tháng Mười, ông về đến Ystad.

Tuyết đã ngừng rơi.

Ở Scanie, mùa thu vẫn tiếp tục.

HẾT

không mất nhiều thời gian để phát hiện Svedberg là một nhà sưu tầm. Những chiếc giày và áo vest cũ xơ ra này hẳn đã có tuổi thọ ít nhất là hai mươi năm. Ông tiếp tục cuộc tìm kiếm của mình, một cách có hệ thống. Trong một cái vali, ông tìm
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.