Chậm Một Bước

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 70 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
13

❊ ❊ ❊

Khi bóng tối buông xuống vào Chủ nhật 11 tháng Tám đó, trong lúc những ngọn đèn chiếu chĩa thứ ánh sáng ma quái của chúng lên khoảnh rừng thưa, Wallander làm mọi người sửng sốt khi đột ngột rời khỏi chỗ đó. Chỉ có Ann-Britt Hoglund được báo trước; ông kín đáo kéo cô ra lối đi giờ đây đã thay hình đổi dạng sau khi bị người và xe cộ giẫm lên, và hỏi mượn xe của cô, vì xe của ông vẫn để ở Mariagatan. Ông không nói mình sẽ đi đâu; trong trường hợp có một phát hiện quan trọng, họ vẫn có thể gọi cho ông bằng điện thoại di động. Ông biến mất dọc theo lối đi, trong khi Ann-Britt Hoglund quay lại khoảnh rừng thưa nơi công việc đang được thực hiện hối hả. Những cái xác không còn ở đó; người ta đã mang chúng đi không lâu sau bốn giờ. Cuối cùng Martinsson cũng nhận ra sự vắng mặt của Wallander. Rồi đến lượt Hansson và Nyberg. Cô nói sự thật cho họ: cô không biết gì cả. Ông đã mượn xe của cô và đã đi khỏi.

Trên thực tế, sự biến mất của ông không có gì lạ thường. Sau từng ấy giờ bên cạnh tấm vải xanh và đống xác người, ông đã quá chán. Cần khoảng cách để suy nghĩ. Xét cho cùng, ông là người chịu trách nhiệm đối với những cuộc điều tra. Hoặc phải nói là cuộc điều tra ở số ít, vì kể từ nay ông đã tin rằng mọi thứ có liên quan đến nhau: ba thanh niên, Svedberg, cái kính viễn vọng, tất cả. Khi người ta mang những cái xác đi, ông cảm thấy ngập tràn mệt mỏi và hoang mang. Ông tự buộc mình tiếp tục thêm vài giờ để thêm một lần nữa cố hiểu điều gì đã có thể xảy ra ở chỗ đó. Sau đó, nhu cầu biến đi trở nên quá mạnh. Ông biết mình muốn đi đâu. Đây không phải là một cuộc trốn chạy. Ngay cả trong những thời khắc mệt mỏi và suy sụp tồi tệ nhất, rất hiếm khi cái la bàn bên trong con người ông chỉ sai hướng. Ông bước đi thật nhanh, trên lối đi đã nhuốm màu hoàng hôn. Ông muốn có được lời khẳng định cho một điều. Ông đang vội. Vài phóng viên chờ ông ở lối vào khu bảo tồn. Tin đồn về một vụ tai nạn đã lan rất nhanh.

Wallander giơ tay để chặn các câu hỏi của họ lại. Ngày mai sẽ có một cuộc họp báo. Lúc này, cảnh sát không có gì để nói cả. Vì những lý do kỹ thuật liên quan đến cuộc điều tra, và có thể cả vì những lý do mà ông không thể nói ra. Lời khẳng định cuối cùng này có vẻ khá nguy hiểm, nhưng, vào lúc này, chuyện đó với ông hoàn toàn không có nghĩa lý gì. Điều duy nhất quan trọng là tìm ra kẻ hoặc những kẻ đã giết ba thanh niên. Nếu quả thực Svedberg có dính dáng, thì ông cũng không thể làm gì được, cần phải điều khiển cuộc điều tra đi theo đúng hướng. Hiện tại, ông không buồn quan tâm đến việc sự thật sẽ ra sao. Chỉ miễn là ông tìm được ra nó.

Trước khi lên đường trở về Ystad, ông dừng lại để kiểm tra xem có tay phóng viên nào đi theo mình không.

Khi đã vào thành phố, ông lấy hướng Lilla Norregatan và dừng lại trước nhà Svedberg. Máy trộn bê tông vẫn còn ở đó. Chùm chìa khóa của Svedberg nằm trong một cái túi áo của ông kể từ khi Nyberg đưa chúng cho ông. Giấy cảnh báo của cảnh sát vẫn dán trên cửa. Wallander bóc mẩu băng dính dán lên ổ khóa và mở cửa. Giống như lần đầu tiên, ông đứng bất động ở lối vào và lắng nghe. Không khí nặng nề và tù đọng. Ông vào bếp và mở cửa sổ. Rồi ông đứng trước bồn rửa tay, uống một cốc nước. Cùng lúc đó nhớ ra là sáng hôm sau sẽ có một cuộc hẹn với bác sĩ Goransson. Ông sẽ không có thời gian đi đến đó. Mặt khác, chưa có thay đổi gì kể từ khi ông nghe lời chẩn đoán. Ông vẫn ăn uống tồi tệ như thế và vẫn ít tập luyện như thế. Nhìn vào hoàn cảnh hiện thời, mọi việc đều có thể chờ đợi được, kể cả sức khỏe.

Phòng khách tắm trong ánh sáng của những ngọn đèn đường. Wallander đứng một lúc trước cái khung cảnh hoàng hôn đó. Ông cần suy nghĩ, chính vì vậy mà ông đã bỏ đi. Nhưng trong buổi sáng ông cũng có thêm một ý nghĩ mới. Họ đã nói về sự dính dáng có thể có của Svedberg, đã thoáng có cái suy nghĩ khó chịu nổi rằng rất có thể anh là tác giả của vụ giết người. Nhưng còn có một khả năng hoàn toàn khác, về bản chất là đáng tin nhất. Svedberg đã tự mình tiến hành một cuộc điều tra riêng, vô cùng bí mật. Anh đã dành một khoảng thời gian lớn trong kỳ nghỉ của mình để theo dấu các thanh niên mất tích. Có thể anh có một bí mật nào đó cần che giấu. Nhưng người ta cũng có thể nghĩ đến điều ngược lại: rằng anh đã tìm ra một hướng điều tra. Anh nghi Boge, Norman và Hillstrom không đi du lịch và đoán là đã có chuyện gì đó xảy đến với họ. Rồi trên đường đi anh đã chạm mặt một kẻ lạ. Một tối, hoặc một đêm, chính anh cũng bị giết. Điều đó không giải thích được sự im lặng của anh. Tại sao anh giữ những nghi ngờ đó cho riêng mình? Có thể là anh có những lý do riêng.

Cái ghế phôtơi đổ vẫn nằm trên đất. Không bật đèn phòng, Wallander đến ngồi cạnh sofa. Những sự kiện trong ngày lướt qua trong đầu ông như một cuộn phim. Rất nhanh, chỉ chưa đầy một giờ sau khi phát hiện những cái xác, ông đã tin rằng có điều gì đó không ổn. Cảm giác đó càng được củng cố hơn sau khi bác sĩ pháp y từ Lund đến hoàn thành việc xem xét sơ bộ những cái xác. Ông ta không thể khẳng định bao nhiêu thời gian đã trôi qua kể từ khi những người kia bị giết. Nhưng năm mươi ngày thì không thể, ông ta đã nói vậy. Ngay lập tức Wallander đã nghĩ rằng điều đó khiến họ có thể nghĩ như sau: hoặc là những phát súng đã được bắn vào một ngày nào đó sau ngày Saint-Jean, hoặc những cái xác đã được chuyển đi chỗ khác, tại một nơi có thể bảo quản tốt hơn ngoài trời. Nơi phát hiện những cái xác không nhất thiết là nơi xảy ra án mạng. Nhưng ông vẫn thấy khó mà tưởng tượng ra rằng người ta đã giết họ trước khi chuyển những cái xác đi nơi khác để rồi sau đó đặt lại đúng vào chỗ cũ. Hansson đã nêu giả thuyết rằng có thể quả thực họ đã đi du lịch, nhưng đã về sớm hơn dự định, và không báo cho bố mẹ hay bạn bè.

Điều đó là có thể. Không đáng tin, nhưng có thể. Ông không muốn loại bỏ giả thuyết nào. Ông đã tự quan sát và lắng nghe những người khác nói, với cảm giác đang lao sâu vào trong một tảng sương mù.

Ngày tháng Tám nóng nực trôi lê thê, vô tận. Họ đã tìm kiếm chỗ trú ẩn trong những công việc thủ tục, trong tính hiệu quả của nghề nghiệp. Thật cẩn thận, họ dò xét xung quanh. Wallander quan sát các đồng nghiệp bị sốc và tuyệt vọng đi lại trong im lặng, làm tất cả những gì được yêu cầu, và tự hỏi không biết mỗi người, theo cách riêng của mình, liệu đã từng ít nhất một lần trong ngày hôm đó hối tiếc là đã lựa chọn cái nghề này hay không. Đều đặn, họ tạm nghỉ một lúc và lùi ra xa một chút. Vài cái bàn và vài cái ghế nhẹ được đặt trên lối đi. Họ đến đó để uống cà phê - mỗi lúc một thêm lạnh ngắt, vì bình Thermos bị mở ra quá nhiều lần. Nhưng Wallander không nhìn thấy ai ăn bất kỳ cái gì trong cả ngày.

Điều làm ông thấy ấn tượng nhất là sự dẻo dai của Nyberg. Với một vẻ tức tối đầy giận dỗi, ông lục tìm mãi trong đống đồ ăn đã hỏng và bốc mùi, ra lệnh cho người chụp ảnh và người quay video, xếp các thứ đồ vật vào trong những cái túi nylông và ghi lại tất cả những gì tìm được lên những tấm thẻ phức tạp. Wallander biết rằng Nyberg căm ghét kẻ đã gây ra cái cảnh tượng ác mộng này, nơi ông đang buộc phải lùng sục tìm kiếm. Ông cũng biết là không ai có thể làm tốt việc này hơn Nyberg. Vào một lúc, ông nhận ra Martinsson đã kiệt sức. Ông kéo anh ra một chỗ và bảo anh về nhà, hoặc ít nhất là nghỉ một lúc; anh có thể nằm nghỉ trong xe của các kỹ thuật viên, ông nói. Nhưng Martinsson lắc đầu không nói gì trước khi quay lại gần mảnh vải màu xanh. Các chuyên gia huấn luyện chó từ Ystad đến, trong số đó có Edmundsson. Những con chó đánh hơi theo nhiều hướng: những thứ đồ bài tiết sau một bụi cây, những lon bia, rác rưởi. Tất cả đều được tập hợp và chép vào những tấm thẻ của Nyberg. Ở một chỗ khác, dưới một cái cây hơi lẻ loi, Kall, con chó của Edmundsson, tỏ vẻ tìm ra cái gì đó. Nhưng họ không thấy gì. Nhiều lần trong ngày, Wallander quay trở lại cái cây đó - một nơi lý tưởng, ông nhanh chóng nhận ra, để quan sát bữa tiệc mà không bị nhìn thấy. Một cơn rùng mình vô ý chạy qua người ông. Có phải kẻ giết người đã từng đứng đó, trước ông? Hắn đã nhìn thấy gì?

Không lâu sau mười hai giờ trưa, Nyberg lưu ý Wallander về cái đài bị đổ bên cạnh mảnh vải. Trong mấy cái giỏ, họ tìm được vài SBI băng cassette. Im lặng trùm xuống khi Wallander nhấn nút và một giọng trầm vang lên. Mọi người đều nhận ra: Fred Akerstrom hát một trong những Thư của Fredman. Wallander liếc nhìn Ann-Britt Hoglund.

Cô đã không nhầm. Đúng là bữa tiệc được tổ chức theo phong cách thời kỳ Bellman.

• • •

Một chiếc xe chạy qua dưới phố. Tiếng vô tuyến, có thể từ nhà người hàng xóm tầng dưới. Ông vào bếp và uống một cốc nước nữa. Rồi ông ngồi vào bàn. Ông vẫn không bật đèn trong nhà.

Trong buổi chiều, ông đã nói chuyện thật kỹ càng với Lisa Holgersson. Bố mẹ của các thanh niên sẽ được thông báo ngay khi những cái xác trên đường đến Viện pháp y Lund. Ông đề nghị đi cùng bà, nhưng bà muốn tự mình lo việc đó. Bà tỏ vẻ hết sức cương quyết. Ông không nói gì thêm nhưng khuyên bà nên có thêm một bác sĩ đi cùng mình. Và một tu sĩ.

Sẽ rất kinh khủng, ông kết luận. Tồi tệ hơn tất cả những gì chị có thể tưởng tượng.

• • •

Wallander đứng dậy, vào phòng làm việc, nhìn xung quanh. Rồi ông ngồi xuống. Những bức ảnh chạy suốt dọc cuộc điều tra này. Ba tấm bưu ảnh mà Eva Hillstrom ngay lập tức thấy nghi ngờ. Wallander đã không tin, mọi người đều không tin. Không ai đi viết những tấm bưu ảnh giả. Giờ đây con gái bà đã chết. Ai đó đã viết những tấm bưu ảnh đó. Ai đó đã đi những nơi đó, gửi bưu ảnh giả từ Hamburg, Paris, Viên, ai đó đã chủ tâm tạo ra một hướng đi giả. Nhưng tại sao? Ngay cả khi họ không bị giết vào đêm Saint-Jean, ba thanh niên cũng đã phải chết vào lúc tấm bưu ảnh cuối cùng được gửi, từ Viên. Tại sao lại có hướng đi giả đó?

Wallander chăm chú ngắm nhìn bóng tối. Mình sợ, ông nghĩ. Mình chưa bao giờ tin vào sự tồn tại của cái ác. Không có người xấu, không có sự tàn bạo ghi sâu vào những bộ gene. Ngược lại, có những hoàn cảnh tồi tệ. Cái ác không tồn tại. Nhưng hành động này có vẻ như liên quan đến một cái gì đó khác - miêu tả điều đó bằng cách nào đây? Một bộ óc tăm tối chăng?

Ông nghĩ đến Svedberg. Liệu anh có thể đi khắp châu Âu để gửi những tấm bưu ảnh từ các bưu điện khác nhau không? Khó tin lắm, nhưng không phải là không thể. Phải dựng lại thời gian biểu kỳ nghỉ của anh, biết được anh ở Thụy Điển vào những ngày nào một cách chắc chắn. Nhưng cần bao nhiêu thời gian để đi máy bay sang Paris và Viên và từ đó trở về? Cũng có lúc xảy ra những chuyện khó tin, Wallander nghĩ. Và Svedberg là một xạ thủ giỏi.

Vấn đề nằm ở chỗ phải biết liệu anh có đồng thời là một kẻ điên rồ hay không.

Ông cầm lấy cuốn sổ agenda của Svedberg trên bàn làm việc và giở nó ra thêm một lần nữa. Có một cái tên trở đi trở lại nhiều lần: ‘Adamsson’. Có phải đó là tên người phụ nữ trong bức ảnh chân dung, người mà Sture Bjorklund gọi là Louise? Louise Adamsson. Ông trở lại bếp và mở danh bạ ra xem. Không có Louise Adamsson nào. Có thể là cô đã lấy chồng. Có thể là cô trốn đằng sau một ai đó khác mang cái tên đó. Ông quay về phòng làm việc và ngồi xuống. Ông sẽ yêu cầu Martinsson kiểm tra Svedberg làm gì vào những ngày cái tên Adamsson xuất hiện trong cuốn sổ agenda.

Ông thay đổi tư thế ngồi trong ghế phôtơi. Vô cùng êm ái - hơn nhiều so với những cái ghế ở sở. Rồi ông đứng dậy. Không thể có chuyện ngủ. Ông vào phòng ngủ và bật đèn trần. Ông mở tủ, lục tìm trong đống quần áo của Svedberg. Không có gì khiến ông chú ý.

Ông tắt đèn và quay lại phòng khách. Ai đó đã từng đứng ở đây, tay cầm một khẩu súng săn. Một viên đạn bắn ra, nhằm thẳng vào mặt Svedberg. Khẩu súng đã bị bỏ lại. Đó là khởi đầu hay kết thúc của một chuỗi sự kiện? Hay vẫn còn có đoạn tiếp theo nữa?

Wallander lùi bước trước ý nghĩ đó - rằng có ai đó, có thể, đang rình mò ở bên ngoài, với ý định tiếp tục cuộc tàn sát lầm đường lạc lối đó.

Tất cả đều trượt đi. Ông tìm kiếm trong tuyệt vọng một đầu mối mà không sao tìm ra. Ông đứng ở chỗ họ đã tìm được khẩu súng. Tưởng tượng ra Svedberg đang ngồi trong ghế phô tơi. Hoặc đang đứng dậy. Máy trộn bê tông đang chạy và tạo ra một tiếng ồn kinh khủng. Hai phát súng, Svedberg chết trước cả khi thân hình anh chạm xuống đất.

Nhưng ông không nghe thấy gì, không có tiếng nói nào, không có tiếng cãi nhau nào. Chỉ có sự khô khốc của những tiếng súng nổ. Ông đổi chỗ, đứng cạnh cái ghế phô tơi đổ. Cậu mở cửa cho ai đó mà cậu biết vào nhà, người mà cậu không sợ. Hoặc người đó có chìa khóa riêng, hoặc đồ nghề mở cửa của thợ khóa. Không phải là một cái xà beng; không có dấu phá khóa nào. Hắn ta có một khẩu súng săn. Cứ thử giả định đó là một người đàn ông. Hoặc là, đã có sẵn một khẩu súng trường trong nhà - mặc dù cậu không có giấy phép mang súng. Hơn thế nữa, một khẩu súng đã nạp đạn. Mà người đó biết là có tồn tại. Câu hỏi thì nhiều vô số. Nhưng, xét cho cùng, chúng được tóm tắt vào một từ ‘ai’ đơn giản và một từ ‘tại sao’ đơn giản. Một ai duy nhất. Và một tại sao duy nhất.

Ông quay lại bếp, ngồi vào bàn và gọi cho bệnh viện. Ông gặp may, người bác sĩ hôm trước đã nói chuyện với ông đang trực.

— Isa Edengren khỏe. Cô ấy sẽ xuất viện vào ngày mai hoặc ngày kia.

— Cô ấy nói gì?

— Không nhiều lắm. Nhưng, theo tôi, cô ấy khá hài lòng vì được anh tìm thấy.

— Anh nói đó là tôi?

— Tại sao lại phải giấu?

— Cô ấy phản ứng thế nào?

— Tôi không hiểu câu hỏi.

— Phản ứng với việc có một cảnh sát đến nhà cô ấy để thẩm vấn cô ấy.

— Tôi không biết.

— Tôi muốn nói chuyện với cô ấy sớm nhất có thể.

— Mai nếu anh muốn.

— Tốt nhất là tối nay. Tôi cũng cần gặp anh nữa.

— Chắc là chuyện gấp lắm phải không.

— Đúng.

— Tôi sắp về nhà. Cá nhân mà nói, tôi thích đợi đến mai hơn.

— Cá nhân mà nói, – Wallander đáp, – tôi thích chưa từng có cuộc nói chuyện này hơn. Tôi buộc phải yêu cầu anh ở lại đó. Tôi sẽ có mặt trong mười phút nữa.

— Đã xảy ra chuyện gì à?

— Đúng. Và không chỉ có vậy thôi đâu.

Wallander uống thêm một cốc nước nữa. Rồi ông rời khỏi căn hộ và đi sang bệnh viện. Trời vẫn còn nóng, gió rất nhẹ.

• • •

Người bác sĩ đợi ông trong hành lang của khu trực. Họ bước vào một phòng làm việc không người; Wallander đóng cửa lại. Trên đường đến bệnh viện, ông đã quyết định đi thẳng vào vấn đề. Ông thông báo cho người bác sĩ chuyện phát hiện ra những cái xác trong khu bảo tồn, và nói thêm rằng lẽ ra Isa Edengren đã phải có mặt cùng với những người bị sát hại đó. Ông chỉ không nhắc gì đến chi tiết ăn mặc giả trang và những bộ tóc giả. Người bác sĩ sửng sốt lắng nghe.

— Khi tôi còn là sinh viên, – cuối cùng ông nói, – đã có lúc tôi có ý định chọn chuyên ngành bác sĩ pháp y. Nghe anh nói, tôi thấy hài lòng vì đã không làm vậy.

— Anh có lý. Khủng khiếp lắm.

Người bác sĩ đứng dậy.

— Tôi cho là anh muốn gặp cô ấy ngay phải không?

— Còn một điều nữa. Tất cả những gì tôi vừa nói với anh là vô cùng bí mật.

— Anh quên mất bí mật ngành y rồi.

— Cũng vậy trong ngành cảnh sát. Nhưng người ta luôn phải ngạc nhiên trước số lượng những vụ rò rỉ thông tin.

Họ đi ra hành lang.

— Tôi đi xem cô ấy dậy chưa.

Wallander đợi. Ông không thích bệnh viện. Ông chỉ chực xong việc để đi khỏi.

Cùng lúc, ông nảy ra một ý. Goransson từng nói đến những phương pháp đơn giản để đo lượng đường trong máu. Người bác sĩ xuất hiện trở lại.

— Anh có thể vào, cô ấy dậy rồi.

— Một câu hỏi nữa thôi: anh có thể đo lượng đường trong máu cho tôi không?

Người bác sĩ ngạc nhiên nhìn ông.

— Tại sao?

— Ngày mai tôi phải đến gặp một đồng nghiệp của anh, nhưng tôi sẽ không có thời gian.

— Anh bị tiểu đường à?

— Không. Chỉ có điều lượng đường của tôi quá cao.

— Thế thì anh bị tiểu đường rồi.

— Anh có thể đo lượng đường cho tôi hay không? Tôi không mang thẻ bảo hiểm. Nhưng có thể là người ta chấp nhận một ngoại lệ.

Một nữ y tá tiến lại gần trong hành lang. Người bác sĩ quay sang cô.

— Chúng ta có máy đo lượng đường không?

— Tất nhiên.

Wallander nhìn tấm các nhỏ trên áo bờ lu của cô gái ghi tên Brundin.

— Cô có thể đo lượng đường cho ông đây không? Sau đó ông ấy phải nói chuyện với Edengren.

Cô chích máu ở đầu ngón tay ông, làm rơi ra một giọt máu xuống một cái băng giấy và đưa nó vào một cái máy giống như đầu đọc đĩa CD.

— 1,5, – cô nói. – Hơi cao quá.

— Hơi cao quá à? Tốt, đó là tất cả những gì tôi muốn biết.

Cô ngạc nhiên nhìn ông, nhưng với vẻ khá thân ái.

— Tôi nghĩ là ông có một vấn đề nhỏ về cân nặng.

Wallander đồng ý. Ông cảm thấy xấu hổ, như một đứa bé bị bắt gặp làm việc gì đó không tốt.

Rồi ông vào phòng Isa Edengren. Ông nghĩ sẽ thấy cô trên giường, nhưng không, cô ngồi ở một cái ghế phô tơi, một cái chăn kéo cao lên đến cằm. Chỉ có một ngọn đèn cạnh giường chiếu sáng căn phòng. Wallander nhìn không rõ đường nét khuôn mặt cô. Khi tiến lại gần, ông nhìn thấy mắt cô. Cô nhìn ông chăm chú với vẻ sợ hãi. Ông chìa tay và tự giới thiệu. Rồi ông ngồi xuống một cái ghế cạnh cô.

Cô ta vẫn chưa biết chuyện gì đã xảy ra, ông nghĩ. Hay là cô ta đã nghĩ đến? Liệu cô ta có chờ đợi thông tin nào đó, cho đến lúc không đủ sức để chờ đợi nữa?

Ông kéo cái ghế lại gần. Cô vẫn không rời mắt khỏi ông. Khi bước vào phòng, ông nghĩ đến Linda. Cô cũng đã từng định tự tử, khi mới mười lăm tuổi. Sau chuyện đó, Wallander đã nghĩ rằng đó là một trong những lý do khiến Mona đòi ly dị. Xét cho cùng, đó là một điều mà mãi ông vẫn không thực sự hiểu được. Ông đã nói thẳng chuyện đó với Linda, thậm chí còn nhiều lần, trong những năm qua, nhưng điều gì đó vẫn luôn trượt đi mất. Việc bây giờ nói chuyện với cô gái này liệu có giúp ông hiểu được không?

— Chính tôi đã tìm thấy cô, – ông bắt đầu. – Cô đã biết điều đó rồi. Nhưng hẳn là không biết tôi làm gì ở Skarby. Tại sao tôi lại đi vòng quanh cái nhà khóa kín, tại sao tôi lại đi vào cái chòi nơi cô đang ngủ.

Ông dừng một chút để cô có cơ hội trả lời. Nhưng cô vẫn tiếp tục im lặng nhìn ông.

— Lẽ ra cô phải tham gia một bữa tiệc vào đêm Saint-Jean, – ông nói tiếp. – Cùng Martin, Astrid và Lena. Nhưng cô bị ốm, đau dạ dày, và cô đã ở lại nhà. Phải vậy không?

Cô vẫn không có phản ứng. Đột nhiên, Wallander không biết phải nói gì. Báo tin cho cô bằng cách nào đây? Mặt khác, cô sẽ có thể đọc được tin đó trên báo ngay vào ngày hôm sau. Cú sốc sẽ là không tránh khỏi, dù cho ông có làm gì đi nữa. Lẽ ra mình phải dẫn theo Ann-Britt, ông nghĩ, hẳn cô xoay xở tốt hơn mình. Ông tự buộc mình tiếp tục.

— Sau đó, mẹ Astrid đã nhận được những tấm bưu ảnh ký tên ba người, hoặc chỉ có chữ ký của Astrid. Từ Hamburg, Paris và Viên. Cô và các bạn có định đi du lịch không? Đi một cách bí mật sau bữa tiệc?

Khi cô lên tiếng, thì đó là một giọng nói nhỏ đến mức Wallander phải cố gắng lắm mới nghe rõ được.

— Không. Chúng tôi không quyết định gì hết.

Wallander thấy cổ họng se lại. Giọng của cô có vẻ mong manh kinh khủng, lúc nào cũng chỉ chực vỡ ra. Ông nghĩ đến điều mình sắp thông báo với cô. Rằng cơn đau bụng đã cứu sống cô.

Nếu có thể, Wallander sẵn sàng gọi điện cho người bác sĩ mà ông vừa gặp để xin lời khuyên. Nhưng điều gì đó ngăn cản ông làm điều đó, đẩy ông đi theo một hướng khác.

— Nói cho tôi về bữa tiệc đó đi, – ông nói.

— Tại sao?

Ông ngạc nhiên. Làm thế nào mà một giọng nói mảnh đến thế lại có thể trở nên cương quyết vậy được? Nhưng cùng lúc, cô không tỏ ra thực sự thù địch. Những câu trả lời tùy thuộc hoàn toàn vào cách ông đặt câu hỏi.

— Bởi vì tôi tự hỏi. Bởi vì mẹ Astrid thấy lo lắng.

— Đó là một bữa tiệc bình thường.

— Nhưng các bạn cải trang. Theo kiểu trang phục thời Bellman.

Cô không thể biết ông có thông tin đó từ đâu. Và có một nguy cơ. Cô có thể đóng kín mình lại. Ở một khía cạnh khác, một lát nữa có thể sẽ không nói chuyện với cô được nữa, khi cô đã biết tin về cái chết của những người bạn.

— Thỉnh thoảng chúng tôi làm vậy. Ăn mặc giả trang.

— Tại sao?

— Chỉ là một trò vui thôi.

— Chuyển từ thời này sang thời khác, theo ý thích?

— Phải.

— Lúc nào cũng là thời Bellman à?

— Chúng tôi không bao giờ lặp lại, – cô nói, giọng hơi có vẻ khinh miệt.

— Tại sao?

Cô không trả lời. Wallander hiểu ngay rằng điều đó quan trọng. Ông tìm cách tiếp cận theo một hướng khác.

— Liệu có biết được người ta ăn mặc như thế nào vào thế kỷ mười hai không?

— Có. Nhưng chúng tôi chưa bao giờ đóng vai thời đó.

— Các bạn đã lựa chọn các thời kỳ như thế nào?

Cô cũng không trả lời. Lần đầu tiên Wallander đoán ra được có một mối liên quan giữa những câu hỏi mà cô từ chối trả lời.

— Kể cho tôi những gì xảy ra vào ngày trước ngày Saint-Jean đi.

— Tôi bị ốm.

— Chắc là bất ngờ phải không.

— Thường thì vẫn vậy, với chứng tiêu chảy.

— Chuyện gì đã xảy ra?

— Martin qua đón tôi. Tôi nói là tôi không thể đến.

— Cậu ấy đã phản ứng như thế nào?

— Theo quy tắc.

— Nghĩa là?

— Cậu ấy hỏi có phải thật thế không. Theo quy tắc.

Wallander không hiểu.

— Cô muốn nói gì?

— Hoặc người ta nói thật, hoặc người ta nói dối. Khi nói dối, sẽ bị khai trừ.

Wallander suy nghĩ. Cô ta không muốn nói cho mình vì lý do gì mà họ không lặp lại, cũng không nói họ chọn các thời kỳ khác nhau như thế nào. Rồi cô ta khẳng định người ta có thể bị khai trừ nếu nói dối. Khai trừ khỏi cái gì?

— Vậy là các bạn coi tình bạn giữa các bạn với nhau là hết sức nghiêm túc? Chỉ một lời nói dối là đủ để bị khai trừ?

Cô có vẻ thực sự ngạc nhiên.

— Nếu không như thế thì tình bạn sẽ như thế nào?

Ông gật đầu.

— Rất tự nhiên, nó được dựa trên lòng tin.

— Nó còn có thể dựa trên cái gì khác được nữa?

— Tôi không biết. Có thể là tình yêu.

Cô kéo chăn lên quấn quanh cổ.

— Cô đã nghĩ gì khi biết họ đi du lịch châu Âu? Mà không báo cho cô?

Cô nhìn ông thật lâu trước khi mở miệng.

— Tôi đã trả lời câu hỏi đó.

Mất một lúc Wallander mới hiểu.

— Cô muốn nói rằng người cảnh sát đến gặp cô hồi hè đã đặt cho cô cùng câu đó?

— Đúng.

— Cô còn nhớ ngày cậu ấy đến gặp cô không?

— Mồng 1 hoặc mồng 2 tháng Bảy.

— Cậu ấy còn hỏi gì nữa?

Đột nhiên cô ngả người về phía ông, nhanh đến mức ông run lên.

— Tôi biết anh ta đã chết. Svedberg. Có phải ông đến đây để nói cho tôi điều đó?

— Không hoàn toàn. Nhưng tôi rất muốn biết cậu ấy còn hỏi cô gì nữa không.

— Không.

Wallander nhíu mày.

— Lẽ ra cậu ấy phải hỏi gì khác nữa chứ?

— Không. Tôi có băng.

Mất một lúc Wallander mới hiểu.

— Cô đã ghi âm cuộc nói chuyện với Svedberg lên một cuộn băng cassette?

— Bí mật. Đó là một thói quen của tôi. Tôi ghi âm người ta nói mà họ không biết.

— Và cô đã làm chuyện đó với Svedberg?

— Đúng.

— Cuộn băng đó ở đâu?

— Trong cái chòi. Có một con thiên thần màu xanh trên cái hộp.

— Một thiên thần màu xanh?

— Tôi tự làm đấy.

Wallander gật đầu.

— Cô có thấy phiền không nếu tôi bảo ai đó đến lấy cuộn băng?

— Tại sao lại thấy phiền?

Wallander gọi về sở và ra lệnh cho một cảnh sát trực sai một đội điều tra đến lấy cuộn băng cassette. Và máy nghe mà ông nhớ đã nhìn thấy trên cái bàn cạnh sofa.

— Một con thiên thần màu xanh? – người cảnh sát ngạc nhiên.

— Trên cái hộp. Và rất gấp đấy.

Mất đúng hai mươi chín phút chờ đợi. Trong khoảng thời gian đó, Isa Edengren vào toalet hơn mười lăm phút. Khi cô quay lại, Wallander ngạc nhiên thấy cô đã gội đầu. Đã có lúc ông thoáng nghĩ hẳn mình cần lo là sẽ có thêm một ý định tự tử mới.

Người cảnh sát bước vào phòng cùng một cuộn băng cassette và cái máy nghe. Cô gật đầu. Đúng là nó. Cô đeo tai nghe và tìm đoạn đầu cuộc nói chuyện.

— Đây rồi.

Cô chìa tai nghe cho Wallander.

Giọng Svedberg đập mạnh vào tai ông; ông run lên, như thể bị ai đó đánh. Rồi ông nghe thấy Svedberg hắng giọng và đặt câu hỏi. Câu trả lời của Isa Edengren biến mất trong những tiếng lách tách. Ông tua lại băng và nghe thêm một lần nữa; ông đã không nhầm. Cô đã nói thật, nhưng tuy thế lại không đúng. Quả thực Svedberg đã đặt cùng câu hỏi. Nhưng không hoàn toàn. Có một khác biệt mang tính quyết định.

— Cô nghĩ gì khi hiểu ra là họ bỏ đi du lịch châu Âu? Mà không báo cho cô?

Đó là câu hỏi của Wallander. Svedberg thêm vào đó một câu thứ hai, cái làm thay đổi về căn bản ý nghĩa. Wallander nghe thêm một lần nữa giọng nói quen thuộc.

— Cô có thực sự nghĩ là họ đã đi không?

Isa không trả lời câu hỏi đó. Wallander bỏ tai nghe ra. Svedberg biết, ông nghĩ.

Ngay vào ngày mồng 1 hoặc mồng 2 tháng Bảy.

không mất nhiều thời gian để phát hiện Svedberg là một nhà sưu tầm. Những chiếc giày và áo vest cũ xơ ra này hẳn đã có tuổi thọ ít nhất là hai mươi năm. Ông tiếp tục cuộc tìm kiếm của mình, một cách có hệ thống. Trong một cái vali, ông tìm
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.