Gió đã yếu đi, đôi lúc ngừng hẳn lại.
Để giết thời gian, gã đếm bao nhiêu lần gió thổi lướt qua mặt mình. Gã nghĩ đến việc ghi lại kết quả vào cái danh sách chép lại tất cả các khoái lạc của cuộc đời. Cuộc đời của những con người sung sướng.
Gã đã nép mình dưới một cái cây lớn từ nhiều giờ. Việc đến trước giờ hành động khiến gã có cảm giác hài lòng.
Tháng Tám. Tối thứ Bảy. Trời vẫn còn nóng.
Sáng đó khi thức dậy, gã cảm thấy mình không nên chờ đợi nữa. Như thường lệ, gã ngủ đúng tám tiếng, không ít hơn không nhiều hơn. Quyết định của gã được hình thành trong giấc mơ. Hôm nay, gã sẽ tái tạo chính xác điều gã đã được chiêm ngưỡng năm mươi mốt ngày trước. Đã đến lúc trưng bày nó cho những cái nhìn.
Gã dậy lúc năm giờ. Gã không thay đổi thói quen với cái cớ đó là ngày nghỉ của mình. Gã uống một tách trà đặc biệt mà gã đặt mua từ Thượng Hải, trải tấm thảm đỏ ra phòng khách và tập các động tác thể dục. Sau hai mươi phút, gã đo nhịp tim, ghi kết quả lại vào cuốn sổ theo dõi luyện tập và đi tắm. Sáu giờ mười lăm phút, gã ngồi xuống bàn. Ngày hôm đó, gã phải nghiên cứu một báo cáo chi tiết mà gã đã yêu cầu từ bộ phận Lao động, nơi người ta đang thảo luận về những biện pháp khác nhau để chống nạn thất nghiệp. Gã dùng bút chì gạch dưới nhiều câu, viết thêm vài chữ ra ngoài lề. Nhưng gã không tìm được gì mới mẻ hay bất ngờ. Tất cả các kết luận thống kê và phân tích do người công chức đó tập hợp, gã đều đã biết nằm lòng.
Gã đặt bút xuống và nghĩ đến những con người vô danh đã viết bản báo cáo không nói lên điều gì hết cả này. Họ không hề chịu nguy cơ mất việc, gã nghĩ. Họ sẽ không bao giờ có cơ may phát hiện ra ý nghĩa của tồn tại, tìm ra được những gì thực sự là quan trọng. Những gì mang lại cho một con người giá trị thật của anh ta.
Gã tiếp tục đọc cho đến mười giờ. Rồi gã mặc quần áo và đi chợ. Khi trở về, gã ăn trưa và nghỉ cho đến mười bốn giờ.
Phòng ngủ của gã hoàn toàn cách âm. Việc lắp đặt nó tốn của gã rất nhiều tiền, nhưng cũng đáng. Không có âm thanh nào ngoài phố lọt được vào. Các cửa sổ được xây bịt lại. Một hệ thống điều hòa không khí không gây tiếng động cung cấp cho gã không khí ở nhiệt độ thích hợp. Trên tường, một bức bình đồ được chiếu sáng cho phép gã theo dõi chuyển động của mặt trời. Căn phòng này là trung tâm của gã. Ở đây, gã có thể bình tâm tuyệt đối mà suy nghĩ. Đến chuyện đã xảy ra, và đến chuyện sẽ xảy ra.
Căn phòng cách âm là một điều tuyệt đối. Ở đó ngự trị một sự sáng sủa, một sự hiển nhiên mà gã không thể tìm thấy ở bất kỳ đâu khác.
Ở đây, không hề cần thiết phải tự hỏi gã là ai. Hoặc liệu gã có lý hay không.
Phải nghĩ rằng không có công lý.
• • •
Cuộc họp sẽ diễn ra trong một khách sạn ở phía Bắc trên núi. Người phụ trách văn phòng kỹ sư nơi gã làm việc vào thời đó đã không rào đón yêu cầu gã thay chỗ người lẽ ra phải đi đến đó nhưng lại bị ốm. Dĩ nhiên gã đã đồng ý, mặc dù đã có những kế hoạch khác cho kỳ nghỉ cuối tuần. Gã đã đồng ý vì muốn có cùng ý kiến với người sếp: về lợi ích của sự hiện diện của gã trong cuộc họp bàn về các công nghệ số mới. Cuộc họp nằm dưới sự chủ tọa của một quý ngài đã già - một trong những người phát mình ra máy tính tiền siêu thị sản xuất ở Atvidaberg. Ông ta nói về tương lai và tất cả những người tham gia ghi chép.
Một cuộc sauna tập thể được dự tính cho buổi tối cuối cùng. Nhưng gã không thích sauna, trần truồng trước mặt người khác. Không biết phải làm gì, cuối cùng gã ngồi đợi ở quán bar trong khi những người khác ngồi thở phì phò trên mấy cái ghế dài bằng gỗ. Sau đó, họ uống rượu. Ai đó kể một câu chuyện về cách tốt nhất để đuổi việc người khác. Tất cả những người có mặt đều nắm những vị trí quan trọng - trừ gã, khi đó mới chỉ là một kỹ sư bình thường. Mỗi người kể một giai thoại, và dần dần quay cả sang gã, chờ gã đóng góp giai thoại của mình. Gã không biết phải nói gì. Gã chưa từng bao giờ đuổi việc ai. Cũng chưa bao giờ tưởng tượng mình có thể bị thất nghiệp. Gã đã học. Gã biết nghề của mình. Và lúc nào gã cũng đồng ý.
Sau đó, sau thời điểm thảm họa, gã vẫn nhớ một câu chuyện trong số đó. Một người đàn ông béo tròn lùn tịt, trông đáng tởm, làm chủ doanh nghiệp ở Torshalla, kể mình đã triệu tập một trong số những người cộng sự lâu năm của mình đến phòng làm việc như thế nào. ‘Tôi vỗ vai hắn ta và nói: ‘Tôi thực sự tự hỏi không biết chúng tôi sẽ làm được gì trong suốt những năm vừa qua nếu không có anh.’ Thật là tuyệt vời. Thằng cha tự hào, thỏa mãn lắm, và cuối cùng không còn đề phòng gì nữa. Chỉ còn cần đóng phát đinh cuối thôi. Tôi chỉ nói thế này: ‘Nhưng dù sao thì từ mai chúng tôi cũng sẽ cố gắng làm điều đó.’ Thế là xong.’
Gã thường xuyên nhớ lại câu chuyện đó. Nếu có thể, gã sẵn sàng đi thẳng đến Torshalla để giết chết kẻ từng tự tán dương vì đã đuổi việc ông già kia.
Gã rời khỏi nhà vào lúc mười lăm giờ và lấy xe. Gã ra khỏi thành phố ở phía Đông, dừng lại ở một bãi đỗ xe ở Nybrostrand và chờ đợi. Khi đã chắc chắn là không có ai, gã nhanh chóng đi về phía một chiếc xe khác đỗ xa hơn một chút, xoay chìa khóa và nổ máy. Trước khi đi vào đường chính, gã đeo một cặp kính và đội một cái mũ lưỡi trai chụp sâu xuống trán. Trời nóng. Nhưng gã không hạ cửa kính xuống. Với cái xoang mũi yếu ớt, gã không muốn gặp phải nguy cơ bị cảm vì gió lùa.
Đến khu bảo tồn, gã nhận ra là mình gặp may. Không có cái xe nào. Gã chỉ có một mình. Vậy là không cần thiết phải lắp biển số giả. Thứ Bảy, quá mười sáu giờ - có khả năng là sẽ không có người nào lai vãng. Gã đã theo dõi lối vào khu bảo tồn ba buổi tối thứ Bảy liền. Những người khách muộn hiếm hoi đi khỏi trước hai mươi giờ.
Gã mở cốp xe, lấy ra hộp dụng cụ bằng nhựa. Gã cũng đã chuẩn bị bánh ngọt và trà trong một cái bình Thermos. Gã nhìn quanh, dỏng tai lên. Rồi gã biến mất vào một lối đi.
Cơn gió nhẹ rất khó nhận ra, nhưng gã đã cảm thấy. Tổng số đã lên tới hai mươi bảy cơn gió. Gã nhìn đồng hồ. Hai mươi giờ kém ba phút. Từ khi gã đến nơi, không có ai đi qua con đường. Chỉ có một con chó sủa, không lâu sau mười chín giờ. Gã biết điều đó có nghĩa là gì. Khu bảo tồn vắng biệt người. Gã sẽ được yên ổn.
Chính xác như gã đã dự tính và lên chương trình.
Gã lại nhìn đồng hồ. Hai mươi giờ một phút. Gã quyết định chờ đến hai mươi giờ mười lăm phút.
• • •
Khi thời điểm đến, gã thận trọng đi xuống bờ dốc và chui vào bụi cây. Vài phút sau, gã đến được nơi. Gã nhận ra ngay là chưa từng có ai đến đây. Gã đã chăng một sợi dây giữa hai cái cây ở lối vào khoảnh rừng thưa. Sợi dây còn nguyên. Gã lấy cái xẻng gập lại được mà gã mang theo và bắt tay vào việc. Gã đào đất một cách có phương pháp, không hề vội vã. Đặc biệt gã không muốn toát mồ hôi vì, khi đó, nguy cơ bị cảm là quá lớn. Cứ tám nhát xẻng, gã lại dừng tay và dỏng tai nghe ngóng. Gã mất hai mươi phút để gạt đống đất cứng, để lộ ra tấm vải bạt. Trước khi mở nó ra, gã nhét vào lỗ mũi hai cái nút tẩm bạc hà và đội mặt nạ của bác sĩ phẫu thuật. Rồi gã cho tấm vải bạt vào hộp đồ nghề. Ba cái túi nylông nằm đó, sát cạnh nhau. Không hề có mùi lọt ra ngoài. Độ kín hoàn hảo. Gã cúi người xuống, nhấc cái túi đầu tiên lên và vác ra xa. Gã đã trở nên rất khỏe vì thường xuyên luyện tập. Gã chỉ mất mười phút để chuyển ba cái túi đến đúng chỗ ban đầu. Rồi gã trở lại khoảnh rừng thưa, hất lại đất về chỗ cũ và giẫm chân lên để san phẳng, đều đặn dừng lại để dỏng tai nghe ngóng.
Gã quay lại gốc cây để mấy cái túi. Trong hộp đồ nghề, gã lấy ra mảnh vải, những cái ly và vài túi nylông nhỏ đựng đống đồ ăn đã mốc mà gã cất ở chạn đồ ăn nhà mình.
Rồi gã mở mấy cái túi và lôi các xác chết ra. Những bộ tóc giả đã mất đi màu trắng của chúng, những vết máu ngả sang màu ghi. Gã phải vặn lại và bẻ nhiều chỗ trên mấy cái xác để tái hiện đúng bố cục bức ảnh chụp vào bữa tiệc.
Để kết thúc, gã rót một chút rượu vang vào một cái ly.
Gã lại dỏng tai lên. Vẫn im lặng như tờ.
Gã nhặt mấy cái túi lên, nhét chúng vào hộp đồ nghề và rời khỏi nơi đó sau khi cởi mặt nạ và chùi mấy cái nút bịt mũi. Gã không gặp phải ai trên đường quay trở lại lối vào khu bảo tồn. Bãi đỗ xe vắng tanh. Gã đi về hướng Nybrostrand, đỗ xe. Không lâu trước hai mươi hai giờ, gã đã về đến Ystad. Thay vì trở về nhà mình, gã đi tiếp theo hướng Trelleborg. Đến một lối đi nơi xe có thể lại gần sát biển, tránh xa những cái nhìn, gã dừng lại, nhét hai cái túi vào cái còn lại, nhét thêm vào mấy mảnh sắt vụn mà gã để trong cốp xe và vứt tất cả xuống nước. Cái túi chìm nghỉm ngay.
Khi về đến nhà, gã bắt đầu bằng việc đốt cái mặt nạ trong lò sưởi. Rồi gã cho đôi giày vừa đi lúc tối vào một cái túi đựng rác. Cái nút lỗ mũi trở về tủ thuốc. Gã tắm nước thật nóng và xịt thuốc tẩy trùng lên khắp người.
Rồi gã pha trà. Cái hộp đã sắp cạn, phải đặt ngay trà mới vào thứ Hai. Gã ghi điều đó lên cái bảng đặt trong bếp. Rồi gã xem vô tuyến, một cuộc tranh luận về những người vô gia cư. Như thường lệ, gã không biết được thêm điều gì mới ngoài những gì gã đã biết.
Khoảng nửa đêm, gã ngồi ở bàn bếp trước một chồng thư.
Đã đến lúc nghĩ đến tương lai.
Cẩn thận, gã mở cái phong bì đầu tiên và bắt đầu đọc.
***
Mười ba giờ ba mươi phút, cùng ngày thứ Bảy 10 tháng Tám đó, Wallander rời khỏi ngôi biệt thự của Hillstrom với ý định đi thẳng đến Skarby, đến nhà Isa Edengren - cô gái theo Eva Hillstrom lẽ ra phải tham gia bữa tiệc nhưng đến phút cuối lại không đi được. Wallander trách bà đã không báo thông tin đó sớm hơn. Nhưng ông cũng cảm thấy âm ỉ một cảm giác có tội. Tại sao ông không nghĩ sớm hơn rằng có thể đã xảy ra điều gì đó bất hạnh cho ba thanh niên đó?
Ông dừng lại trên quảng trường thành phố, nơi tập trung các tuyến xe bus, đi vào quán cà phê, gọi một chiếc sandwich và một chai nước, nhớ ra - quá muộn - rằng lẽ ra phải gọi một cái sandwich không bơ và định dùng dao để gạt chỗ bơ ra. Một người đàn ông ngồi hơi xa một chút quan sát ông - hẳn là vì ông ta nhận ra mình, Wallander nghĩ. Giờ đây, sẽ có tin đồn rằng cảnh sát giết thời gian bằng cách lấy dao gạt bơ ra khỏi bánh mì trong các quán cà phê thay vì tìm kiếm kẻ giết một đồng nghiệp. Wallander thở dài từ bên trong. Ông không bao giờ quen được với những tin đồn.
Ông uống một tách cà phê và vào toalet trước khi đi tiếp. Khi đã ra khỏi thành phố, ông chọn đường bên trong, ngả đi qua Bjaresjo. Ông vừa rời khỏi đường chính thì điện thoại di động rung lên. Ông dừng lại cạnh đường. Đó là Ann-Britt Hoglund.
— Tôi vừa đến gặp bố mẹ Lena Norman, – cô nói. – Tôi nghĩ đã tìm ra cái gì đó.
Wallander ấn sát điện thoại vào tai.
— Có vẻ như là có một người thứ tư lẽ ra phải tham gia bữa tiệc đó.
— Tôi biết rồi. Tôi đang đến nhà cô ấy đây.
— Isa Edengren?
— Phải. Eva Hillstrom đã cho tôi xem bức ảnh gốc bức ảnh của Svedberg. Con gái bà ấy đã chụp nó vào năm ngoái, bằng một máy ảnh có nút chụp tự động.
— Có thể nói rằng lúc nào Svedberg cũng đi trước chúng ta một đoạn.
— Chúng ta sẽ đuổi kịp thôi. Ngoài đó ra?
— Có nhiều người gọi điện đến. Nhưng không có thông tin nào quan trọng.
— Giúp tôi một việc nhé, – Wallander nói. – Gọi cho Ylva Brink và hỏi bà ấy kích thước cái kính viễn vọng của Svedberg. Nó có nặng lắm không? Tôi không thể hiểu nó có thể đi đâu.
— Chúng ta đã bỏ hẳn giả thuyết trộm đột nhập rồi à?
— Chúng ta không bỏ giả thuyết nào hết. Nhưng nếu ai đó đi dạo cùng một cái kính viễn vọng, rất có thể một người khác đã nhìn thấy.
— Việc rất gấp, hay có thể đợi được? Tôi phải đến Trelleborg để nói chuyện với một trong số các cậu thanh niên trong bức ảnh.
— Trong trường hợp đó thì đợi được. Ai phụ trách cậu thanh niên còn lại?
— Martinsson và Hansson, cùng nhau. Bây giờ họ đang ở Simrishamn, chỗ gia đình Boge.
Wallander gật đầu. Thế là tốt, ông nghĩ.
— Gặp được tất cả ngay trong ngày hôm nay là rất quan trọng, – ông nói. – Tôi tin là từ giờ đến tối chúng ta sẽ biết rõ thêm được nhiều điều.
Wallander đi tiếp. Khi đến Starby, ông lái xe theo các chỉ dẫn của Eva Hillstrom. Ông nhớ hình như bố Isa Edengren sở hữu một trang trại rất lớn, và nhiều máy móc nông nghiệp.
Ông đi vào một lối đi và dừng xe. Ngôi nhà xây hai tầng. Một chiếc BMW đỗ trong sân. Ông xuống khỏi xe và bấm chuông cửa. Không có ai trả lời. Ông gõ cửa. Bấm chuông lần nữa. Khi đó là mười bốn giờ. Ông nhận ra là mình toát mồ hôi. Bấm chuông thêm một lần nữa, vẫn không có kết quả. Khi đi vòng quanh nhà, ông nhìn thấy một khu vườn lớn theo kiểu cổ với những cây ăn quả lớn được chăm sóc kỹ càng. Có một bể bơi và những cái ghế phôtơi có vẻ rất đắt tiền. Ở tận cùng khu vườn, ông nhìn thấy một cái chòi một nửa chìm vào dưới những cành cây. Sau khi nhìn quanh một vòng, ông đi về phía cái chòi. Cánh cửa sơn màu xanh lá cây mở hé. Ông gõ. Không có ai trả lời. Ông đẩy cửa. Những tấm riđô được kéo xuống sau mấy cái cửa sổ nhỏ. Sau một lúc, cái nhìn của ông bắt đầu quen với bóng tối.
Đột nhiên, ông nhận ra mình không phải là người duy nhất ở đây. Ai đó đang ngủ trên đivăng. Mái tóc đen lọt ra khỏi cái chăn. Người đó quay lưng về phía ông. Wallander đi ra, nhẹ nhàng đóng lại cửa và gõ tiếp. Không có phản ứng nào.
Ông bèn mở to cửa, tìm một công tắc điện, bật đèn lên và đi đến chỗ cái hình thù đang say ngủ. Ông chạm vào vai người đó. Không có gì. Khi đó ông hiểu ra là có điều gì đó không ổn và xoay người đang ngủ lại phía mình. Đó là Isa Edengren. Ông thử nói với cô, lay người cô. Hơi thở của cô nặng nề, chậm chạp. Ông lại lay người cô, mạnh hơn, thử dựng cô ngồi dậy, nhưng không nổi. Ông đặt cô nằm xuống, tìm điện thoại di động. Ông đã quên nó trên ghế bên sau cuộc nói chuyện với Ann-Britt. Ông chạy lại xe, bấm số cấp cứu và chỉ đường đến trang trại.
— Theo tôi, hoặc là một chứng bệnh, hoặc là một ý định tự tử. Trong khi chờ đợi tôi phải làm gì?
— Đừng để cô ấy ngừng thở. Ông là cảnh sát, ông biết phải làm thế nào.
***
Xe cứu thương đến nơi mười sáu phút sau đó. Lúc này, Wallander đã liên lạc với Ann-Britt Hoglund - vẫn chưa lên đường đi Trelleborg. Ông bảo cô đến bệnh viện chờ xe cứu thương đến, vì ông muốn ở lại Skarby thêm một lúc nữa. Ông nhìn xe cứu thương biến mất vào lối đi. Rồi ông tìm cách mở cửa ra vào. Khóa chặt. Ông đi vòng quanh nhà, nhưng cửa bếp cũng khóa. Cùng lúc đó, ông nghe có tiếng xe phanh lại trong sân và quay lại đó. Một người đàn ông mặc đồ xanh lao động và đi bốt cao su xuống khỏi một chiếc Fiat nhỏ.
— Tôi nhìn thấy xe cứu thương, – ông ta nói.
Cái nhìn của ông ta rất lo lắng. Wallander tự giới thiệu và nói thêm rằng có khả năng Isa Edengren bị ốm. Ông không muốn nói gì thêm nữa.
— Bố mẹ cô ấy đâu rồi? – ông hỏi.
— Đi du lịch rồi.
— Anh có thể nói cho tôi biết họ đi đâu không? Phải báo tin cho họ.
— Tây Ban Nha. Hoặc có thể là Pháp. Ở mỗi nước họ có một ngôi nhà.
Wallander tư lự, nghĩ đến những cánh cửa khóa.
— Tôi cho là Isa sống ở đây khi họ đi vắng?
Người đàn ông lắc đầu.
— Tôi phải hiểu chuyện đó thế nào?
— Tôi không dính vào những chuyện không liên quan đến tôi, – người đàn ông vừa nói vừa quay đi để ra xe.
— Quá muộn rồi, – Wallander nói không đo dự. – Ông đã làm. Ông tên là gì?
— Erik Lundberg.
— Và ông sống gần đây?
Lundberg chỉ một trang trại có thể nhìn thấy rõ từ chỗ họ đang đứng.
— Bây giờ, tôi muốn ông trả lời câu hỏi của tôi: Isa có sống ở đây trong khi bố mẹ cô ấy đi vắng không?
— Nó không được phép.
— Ông muốn nói gì?
— Nó ngủ trong cái chòi.
— Tại sao lại không ở trong nhà?
— Có nhiều chuyện xảy ra. Khi bố mẹ nó không có nhà. Những bữa tiệc, đồ đạc biến mất.
— Làm sao ông biết được những chuyện đó?
Câu trả lời của Lundberg làm ông sửng sốt.
— Họ không đối xử tốt với nó, ông thấy đấy. Mùa đông năm ngoái, khi trời lạnh âm mười độ, họ đi khỏi và khóa kín cửa. Cái chòi thì không có lò sưởi. Isa đã đến nhà chúng tôi, gần như chết lạnh, chúng tôi đã cho nó ở nhờ và nó đã kể lại nhiều chuyện. Không phải cho tôi. Mà vợ tôi.
— Thế thì chúng ta sang nhà ông. Tôi muốn biết cô ấy đã kể gì cho vợ ông. Đi trước đi, tôi sẽ đến nơi trong vài phút nữa.
Trước đó, ông muốn xem xét cái chòi. Ông không tìm được dấu vết gì của thuốc ngủ, không có lá thư nào. Ông nhìn quanh lần cuối cùng trước khi quay lại xe. Điện thoại của ông rung.
— Cô ấy đến đây rồi, – Ann-Britt Hoglund nói.
— Bác sĩ nói gì?
— Hiện tại thì chưa có gì nhiều.
Cô hứa sẽ gọi lại ngay khi có tin mới. Wallander đi tiểu cạnh xe trước khi đến nhà Lundberg. Một con chó dáng vẻ cảnh giác đứng chặn lối vào. Lundberg xuất hiện ở ngưỡng cửa và đuổi con vật đi. Wallander bước vào một cái bếp rất nóng. Vợ Lundberg đã đun cà phê. Bà tên là Barbro và giọng nói nặng âm sắc Goteborg.
— Isa khỏe không? – bà hỏi ngay.
— Tôi đang đợi một người đồng nghiệp gọi điện, hiện tại cô ấy ở bệnh viện chỗ Isa.
— Nó định tự tử à?
— Tôi chưa biết. Nhưng tôi không đánh thức được cô ấy dậy.
Ông ngồi xuống bàn bếp, điện thoại di động đặt bên cạnh.
— Tôi nghĩ đây không phải là lần đầu tiên, nếu ngay lập tức ông bà đã nghĩ đến một ý định tự tử như thế.
— Đó là một cái nhà toàn người tự tử, – Lundberg ngắt lời.
Sự khó chịu của ông thấy rất rõ; ông im lặng, như thể hối tiếc vì đã nói quá nhiều.
Barbro Lundberg đặt bình cà phê xuống bàn.
— Anh trai Isa chết cách đây hai năm, – bà nói. – Khi đó Jorgen mười chín tuổi. Nó chỉ hơn Isa một tuổi.
— Thế chuyện gì đã xảy ra?
— Nó nằm vào bồn tắm, – Lundberg nói. – Nhưng trước đó, nó đã viết một bức thư cho bố mẹ, nói rằng họ là bọn khốn kiếp. Rồi nó cắm điện một cái máy nướng bánh mì và thả nó rơi xuống nước.
Wallander im lặng lắng nghe; ông mơ hồ nhớ lại sự kiện đó.
Đột nhiên ông nhớ là chính Svedberg đã phụ trách vụ đó và khẳng định đó quả thực là một vụ tự tử. Hoặc một tai nạn - sự không chắc chắn vẫn thường xuyên dai dẳng như vậy.
Khi vào nhà, Wallander đã nhìn thấy một tờ báo trên cái ghế dài cũ đặt trước cửa sổ, với một tấm ảnh Svedberg ở trang nhất. Lúc này, ông cần một câu trả lời nhanh chóng cho một câu hỏi; ông giở tờ báo ra và chỉ bức ảnh.
— Có thể là ông bà đã nghe nói đến cái chết của người cảnh sát này…
Câu trả lời phóng ra trước cả khi Wallander kịp đặt câu hỏi.
— Anh ta đến cách đây một tháng.
— Nhà ông bà hay nhà Edengren?
— Trước tiên là nhà họ. Sau đó là nhà chúng tôi. Như ông hôm nay ấy.
— Khi đó bố mẹ cô ấy đi chưa?
— Chưa.
— Vậy là cậu ấy đã gặp bố mẹ Isa rồi?
— Làm sao tôi biết được. Dù sao thì khi đó bố mẹ nó chưa đi.
— Tại sao cậu ấy lại đến đây? Đến nhà ông bà ấy? Cậu ấy đã hỏi những gì?
— Anh ta hỏi chúng tôi về những bữa tiệc, – Barbro Lundberg nói. – Những bữa tiệc mà Isa đã tổ chức khi bố mẹ nó đi vắng. Tất nhiên là trước khi bố mẹ nó nhốt nó ở ngoài.
— Đó là điều duy nhất mà anh ta quan tâm, – người chồng nói thêm.
Sự chú ý của Wallander tăng lên ngay. Cuối cùng ông cũng nắm được một khả năng hiểu được các hoạt động của Svedberg trong mùa hè.
— Tôi muốn ông bà nhắc lại cho tôi thật chính xác những gì cậu ấy hỏi ông bà.
— Một tháng là khá lâu đấy.
— Nhưng ba người đã ngồi đây, ở cái bàn này chứ?
— Đúng.
— Tôi cho là ba người đã uống cà phê?
Người vợ mỉm cười.
— Anh ta đã ăn bánh ngọt tôi làm và khen ngon.
— Chắc là không lâu sau ngày Saint-Jean phải không?
Hai vợ chồng đưa mắt nhìn nhau. Wallander thấy rõ là họ đang cố gắng nhớ lại.
— Chắc là vào những ngày đầu tiên của tháng Bảy, – người vợ trả lời. – Quả thực là tôi không chắc lắm.
— Tốt lắm. Trước hết, cậu ấy đến gặp gia đình Edengren. Rồi cậu ấy sang nhà ông bà.
— Isa đi cùng anh ta. Nhưng nó bị ốm.
— Ốm?
— Dạ dày có vấn đề gì đó. Khi đó nó đã liệt giường một tuần rồi. Tôi thấy nó rất xanh xao.
— Vậy là Isa có mặt trong cuộc nói chuyện?
— Nó chỉ dẫn đường thôi, rồi quay về nhà luôn.
— Cậu ấy đã hỏi ông bà về các bữa tiệc?
— Đúng.
— Cậu ấy muốn biết gì?
— Liệu chúng tôi có biết những người thường được mời không. Nhưng tất nhiên là chúng tôi không biết rồi.
— Tại sao lại chắc chắn như thế?
— Trời ạ, thì đó là tụi thanh niên. Chúng đến bằng xe ôtô, và đi khỏi cũng vậy.
— Cậu ấy còn hỏi gì nữa?
— Rằng đó có phải là những bữa tiệc giả trang không.
— Cậu ấy nói đúng như thế à?
— Đúng.
— Không phải đâu, – người vợ xen vào. – Anh ta hỏi có phải các thanh niên đến dự tiệc ăn mặc giả trang hay không.
— Rồi sao? Họ có giả trang không?
Hai vợ chồng ngạc nhiên nhìn Wallander.
— Làm sao mà ông lại muốn chúng tôi biết điều đó được? Chúng tôi có ở đó đâu. Chúng tôi không thuộc loại người rình mò sau riđô. Nếu có nhìn thấy gì đó thì chỉ là hoàn toàn tình cờ thôi.
— Vậy là ông bà có nhìn thấy gì đó?
— Những bữa tiệc đó hình như được tổ chức vào mùa thu. Trời thì tối. Làm sao mà có thể biết liệu những người đó có cải trang hay không?
Wallander suy nghĩ.
— Cậu ấy còn hỏi ông bà gì nữa không?
— Không. Chủ yếu thời gian anh ta dùng để lấy bút bi gãi đầu. Có lẽ là anh ta ở lại đây khoảng nửa tiếng. Rồi anh ta xin phép và đi khỏi.
Điện thoại di động rung. Đó là Ann-Britt.
— Họ đang rửa ruột cô ấy.
— Tức là có ý định tự tử à?
— Hiếm khi nào người ta nuốt từng ấy viên thuốc ngủ vì nhầm lẫn.
— Bác sĩ có thể khẳng định điều đó không?
— Việc cô ấy rơi vào hôn mê cho thấy bị nhiễm độc. Cái đó thì chắc.
— Sẽ không sao chứ?
— Không sao đâu, theo lời người ta nói với tôi.
— Trong trường hợp đó, tốt hơn hết là cậu đi Trelleborg đi.
— Tôi cũng nghĩ thế. Hẹn lát nữa gặp nhé.
Wallander bỏ máy. Người chồng và người vợ lo lắng nhìn ông.
— Có vẻ như là cô ấy không gặp nguy hiểm. Nhưng tôi phải nói chuyện với bố mẹ cô ấy.
— Chúng tôi có vài số điện thoại đây, – Lundberg nói và đứng dậy.
— Họ muốn chúng tôi gọi trong trường hợp xảy ra chuyện gì đó với cái nhà. Nhưng không phải vì những chuyện khác.
— Không phải là nếu Isa bị ốm chẳng hạn, phải không?
Bà im lặng gật đầu. Người chồng quay lại với một mẩu giấy trên tay. Wallander chép lại hai số điện thoại.
— Chúng tôi có thể đến thăm nó ở bệnh viện không? – người vợ hỏi.
— Chắc chắn rồi. Nhưng chờ đến mai đi, như thế sẽ tốt hơn.
Lundberg đi cùng ông ra đến xe.
— Ông có chìa khóa nhà không?
— Chắc sẽ không bao giờ họ đưa cho chúng tôi cầm hộ đâu.
Wallander từ biệt và đi lại con đường theo chiều ngược lại cho đến trang trại nhà Edengren. Trong nửa giờ tiếp theo, ông lục soát thật kỹ cái chòi, mà hoàn toàn không biết mình tìm gì. Rồi ông ngồi xuống cái đivăng nơi đã tìm thấy Isa Edengren.
Điều gì đó đang lặp lại, ông nghĩ. Svedberg đến gặp cô gái không tham gia bữa tiệc đêm Saint-Jean. Và là người, vì lý do đó, đã không mất tích. Svedberg đã đặt nhiều câu hỏi về các bữa tiệc và những người ăn mặc giả trang.
Giờ đây Isa Edengren định tự tử và Svedberg đã bị giết.
Wallander đứng dậy và ra khỏi cái chòi.
Ông thấy lo lắng. Có vẻ như là ông không tìm ra được điều gì hợp lý. Ông phải quay đầu về hướng nào đây? Tất cả các hướng đều có thể, không cái nào nổi trội hơn cái nào.
Ông lên xe và quay về Ystad. Trước mọi việc, ông muốn thực hiện chuyến viếng thăm thứ hai đến chỗ Sture Bjorklund.
• • •
Ông phanh xe trong sân trang trại Hedeskoga vào lúc gần mười sáu giờ. Ông gõ cửa và chờ đợi. Hẳn Sture Bjorklund đang ở Copenhagen. Hoặc ở Mỹ, đang đề xuất những ý tưởng mới nhất về những con quái vật cho các nhà sản xuất. Wallander đập một cú mạnh vào cửa. Rồi ông đi vòng quanh nhà mà không đợi trả lời. Khu vườn bị bỏ hoang, vài thứ đồ gỗ nát gần hết nằm đây đó trong đám cỏ mọc cao. Wallander tiến lại gần một cửa sổ và nhìn vào bên trong. Rồi ông tiếp tục về phía chái nhà bên kia, hẳn là dùng để đồ. Ông xoay nắm đấm; cửa không khóa. Ông bước vào. Không nhìn thấy công tắc điện nào. Ông mở to cửa và chặn nó bằng một mẩu gỗ. Một sự bừa bộn ngự trị ở bên trong. Ông sắp quay ra thì sự chú ý của ông bị thu hút bởi một thứ đồ vật giấu dưới một tấm vải bạt, trong góc nhà. Ông quỳ gối xuống và thận trọng nhấc tấm bạt lên. Một cái máy gì đó. Ông nhấc tấm bạt cao lên thêm một chút nữa. Đúng là một cái máy. Chính xác hơn thì là một thứ dụng cụ.
Ông không nhớ mình đã từng nhìn thấy cái gì tương tự.
Tuy nhiên, ông hiểu ngay ra đó là cái gì.
Một cái kính viễn vọng.