Chậm Một Bước

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
8

❊ ❊ ❊

Istvan Kecskemeti đến Thụy Điển đúng bốn mươi năm trước trong làn sóng người nhập cư Hungari bị buộc phải rời khỏi đất nước mình sau khi cuộc nổi dậy bị đàn áp. Ông đến Trelleborg năm mười bốn tuổi, cùng bố mẹ và ba đứa em cả trai cả gái. Người bố, kỹ sư ở Hungari, từng được đi thăm các nhà máy Separator ở Stockholm vào cuối những năm 1920, và ông hy vọng tìm được việc làm ở đó. Nhưng thậm chí ông còn không đến được Trelleborg. Khi bước xuống cầu thang ở bến phà, ông gục xuống vì một cơn đau tim. Lần tiếp xúc thứ hai của ông với đất Thụy Điển là khi cơ thể ông đập xuống nền đường ẩm ướt. Người ta chôn ông ở nghĩa trang Trelleborg, và cả gia đình ở lại Scanie. Giờ đây Istvan đã năm mươi tư tuổi. Từ lâu ông đã là chủ một quán pizza ở Hamngatan, Ystad.

Wallander đã nghe chuyện đời ông nhiều năm trước. Thỉnh thoảng ông ăn tối ở chỗ Istvan và, nếu tối đó ít khách, Istvan sẵn sàng đến ngồi ở bàn ông để kể cho ông những mẩu chuyện quá khứ của mình.

Wallander đẩy cửa vào quán lúc mười tám giờ ba mươi phút. Ông có nửa giờ để ăn tối trước khi gặp Ylva Brink. Đúng như ông nghĩ, căn phòng vắng ngắt. Chỉ nghe tiếng một chiếc radio và một âm thanh có nhịp điệu vọng ra từ bếp. Istvan kết thúc một cuộc nói chuyện điện thoại sau quầy thanh toán; ông lấy tay ra hiệu cho Wallander, khi đó đã ngồi vào một cái bàn. Istvan bỏ máy và đến chỗ ông, vẻ nghiêm trang.

— Tin tức gì đáng sợ thế? Một cảnh sát bị chết à?

— Thật không may là đúng thế. Karl Evert Svedberg. Anh biết cậu ấy không?

— Tôi không nghĩ là anh ấy đã từng đến đây. Anh có muốn một cốc bia không? Tôi mời.

Wallander lắc đầu.

— Tôi muốn ăn nhanh một cái gì đó. Phù hợp với một người có lượng đường trong máu quá cao.

Istvan có vẻ nghĩ ngợi.

— Anh bị bệnh tiểu đường à?

— Không. Nhưng trong máu tôi có quá nhiều đường.

— Thế thì anh bị tiểu đường rồi.

— Cũng có thể là hơi hơi. Nhưng tôi đang vội.

— Thịt nướng trộn dầu và rau xalat được không?

— Quá tốt.

Istvan biến mất. Wallander tự vấn về phản ứng của mình. Tiểu đường không phải là một chứng bệnh đáng xấu hổ. Nhưng ông biết câu trả lời: ông thấy phiền hà vì trọng lượng quá cỡ của mình. Ông thích được lờ nó đi, nhắm mắt lại, làm như là nó không hề tồn tại.

Ông ăn - quá nhanh, như thường lệ - và gọi một tách cà phê. Istvan đang phải xoay xở với một đoàn khách du lịch Ba Lan. Càng tốt. Wallander không muốn trả lời những câu hỏi của ông về vụ giết người. Ông trả tiền và ra khỏi quán. Trời vẫn còn nóng. Trên phố đông người hơn thường lệ. Ông đi bộ quay lại sở cảnh sát, thỉnh thoảng gật đầu chào người quen. Ông suy nghĩ đến cách thức mình sẽ dùng để hỏi Ylva Brink. Không thể nghi ngờ sự thành thực và ý tốt của cô, nhưng cần phải làm cô nói những gì cô thực sự biết mà lại nghĩ là không biết. Một trong những câu hỏi liên quan đến người phụ nữ có tên Louise. Có thể là Ylva có những thông tin nào đó mà không hề ý thức được chăng?

Wallander đến sở không lâu sau mười chín giờ. Ylva Brink chưa có mặt. Ông đi thẳng đến phòng Martinsson. Hansson đang ở đó.

— Có gì mới không? – Wallander hỏi.

— Lời kêu gọi người làm chứng gần như không có kết quả. Thật đáng ngạc nhiên.

— Chưa có báo cáo sơ bộ của Lund à?

— Chưa, – Hansson nói. – Chúng ta không thể hy vọng gì trước thứ Hai.

— Giờ xảy ra án mạng. Cái đó quan trọng. Với cái đó, chúng ta sẽ có được một điểm xuất phát.

— Tôi đã tìm trong các hồ sơ, – Martinsson nói. – Vụ giết người và vụ trộm đó không gợi lên điều gì cả, ít nhất là nếu nhìn qua.

— Chúng ta còn chưa biết liệu đó có phải là một vụ trộm hay không, – Wallander phản đối.

— Thế thì có thể là gì?

— Chúng ta còn chưa biết gì cả. Tôi phải đi đây, tôi có cuộc hẹn với Ylva Brink. Tôi đề nghị sáng mai chúng ta họp vào lúc chín giờ.

Ông về phòng. Nhiều tin nhắn đang đợi ông trên bàn, trong đó có một cái của Lisa Holgersson, nói muốn nói chuyện với ông sớm nhất có thể được. Wallander bấm số phòng bà nhưng không có trả lời. Sau vài khó khăn, ông gọi được cho phòng tiếp tân. Có vẻ như là Ebba vắng mặt cả ngày. Wallander bỏ máy và đến phòng trực.

— Lisa về nhà rồi, – người cảnh sát trực trả lời ông.

Wallander quyết định một lúc nữa sẽ gọi đến nhà bà. Ông ra đứng ở lối vào để đợi Ylva Brink. Cô xuất hiện sau vài phút. Trong hành lang, Wallander hỏi cô muốn uống một cốc cà phê không. Cô từ chối.

Lần này, ông đã quyết định sẽ ghi âm cuộc nói chuyện. Thường thì máy thu âm tạo cho ông cảm giác về một thính giả không được mong muốn. Thêm nữa, sự tập trung của ông sẽ bị giảm sút. Nhưng lần này, ông muốn xâm nhập thật sâu từng lời của Ylva Brink. Ông muốn có một bản gỡ băng hoàn chỉnh, dựng lại từng chi tiết nhỏ nhất trong những câu trả lời của cô, một cách trực tiếp. Ông hỏi cô có thấy phiền nếu ông bật máy ghi âm không. Cô trả lời là không.

— Đây không phải là một cuộc thẩm vấn, – ông nói rõ. – Chỉ là để ghi nhớ cuộc nói chuyện. Máy ghi âm có trí nhớ tốt hơn tôi.

Băng bắt đầu chạy. Lúc đó mười chín giờ mười chín phút. Wallander hắng giọng.

— Thứ Sáu 9 tháng Tám 1996. Gặp Ylva Brink. Chủ đề: cái chết của thanh tra Karl Evert Svedberg, có thể là nạn nhân của một vụ giết người cố ý hoặc không cố ý.

— Liệu có thể là gì khác nếu không phải là một vụ giết người? – cô hỏi ngay.

— Đôi khi cảnh sát nói năng theo lối hơi quy chuẩn quá mức, – Wallander đáp, bối rối vì sự căng thẳng của chính mình. Vài giờ đã trôi qua, ông nói tiếp luôn. – Chị đã có thời gian để suy nghĩ. Chị được hỏi về những lý do có thể của vụ giết người đó…

— Tôi vẫn không sao tin nổi là chuyện đó đã thực sự xảy ra. Tôi đã nói chuyện với chồng tôi cách đây vài tiếng - có thể gọi điện thoại vệ tinh đến tàu. Anh ấy nghĩ là tôi bị điên. Nhưng, chính vào lúc đó, khi kể cho anh ấy toàn bộ câu chuyện, tôi hiểu ra rằng chuyện đó là hoàn toàn có thật.

— Tôi rất muốn lùi cuộc nói chuyện này lại sau, nhưng thật không may là không thể được. Chúng tôi phải bắt được kẻ giết người đó. Hắn ta đi trước chúng tôi, khoảng cách ngày một dài ra.

Cô không trả lời; cô đợi câu hỏi đầu tiên.

— Một người phụ nữ tên là Louise, mà Karl Evert có thể là đã quan hệ thường xuyên trong nhiều năm. Chị đã bao giờ gặp cô ấy chưa?

— Chưa.

— Chị đã bao giờ nghe nói đến cô ấy chưa?

— Chưa.

— Chị có phản ứng gì khi lần đầu tiên tôi nói đến sự tồn tại của người phụ nữ đó?

— Rằng điều đó không đúng.

— Bây giờ thì chị nghĩ gì?

— Rằng hẳn là đúng vậy. Nhưng không thể hiểu nổi.

— Karl Evert và chị hẳn đã từng phải nói chuyện về phụ nữ, trong suốt từng ấy năm. Tại sao cậu ấy không lấy vợ, vân vân. Cậu ấy nói gì về chuyện đó?

— Rằng cậu ấy là một gã trai già bỏ đi. Và cậu ấy thích như thế.

— Chị có nhận xét gì đặc biệt khi nói chuyện về chủ đề đó không?

— Chẳng hạn như là gì?

— Rằng cậu ấy thiếu chắc chắn. Rằng cậu ấy không nói thật.

— Lúc nào cậu ấy cũng rất cương quyết.

Trong một lúc, Wallander nghĩ mình cảm nhận được một thoáng do dự.

— Chị từng nghĩ đến điều gì đó à?

Cô không trả lời ngay. Cuộn băng vẫn chạy.

— Tất nhiên, cũng có lúc tôi tự hỏi không biết cậu ấy có khác.

— Chị muốn nói cậu ấy là người đồng tính?

— Vâng.

— Tại sao?

— Như thế không phải là lôgic à?

Ý nghĩ này cũng từng có lúc chạy thoáng qua tâm trí Wallander.

— Có chứ, tất nhiên rồi.

— Cách đây nhiều năm, chúng tôi từng nói đến chuyện đó. Khi đó là ở nhà, một bữa ăn Giáng sinh, nếu tôi nhớ không nhầm. Không phải là về cậu ấy, mà về một người quen chung của chúng tôi. Cách cậu ấy kết tội thật là nặng nề. Tôi đã ngạc nhiên về điều đó.

— Cậu ấy đã kết tội người bạn đồng tính kia?

— Tất cả những người đồng tính. Thật là khó chịu. Tôi vẫn nghĩ cậu ấy là người có đầu óc thoáng.

— Sau đó có chuyện gì không?

— Không. Chúng tôi không bao giờ nói đến chuyện đó nữa.

Wallander suy nghĩ.

— Chị có ý tưởng nào về cách thức có thể sử dụng để tìm ra người phụ nữ đó không?

— Không.

— Vì cậu ấy gần như không bao giờ rời khỏi Ystad, hẳn là cô ta phải sống ở thành phố. Hoặc vùng phụ cận.

— Tôi không biết.

Cô nhìn đồng hồ.

— Khi nào chị phải làm tiếp?

— Trong nửa giờ nữa. Tôi không muốn đến muộn.

— Karl Evert cũng không. Đó là một cảnh sát rất đúng giờ.

— Đúng. Như người ta nói ấy. Có thể chỉnh đồng hồ theo cậu ấy.

— Trên thực tế thì cậu ấy thế nào?

— Anh đã hỏi tôi điều này rồi.

— Tôi hỏi thêm một lần nữa. Cậu ấy là-người như, thế-nào?

— Dễ mến.

— Theo cách nào?

— Dễ mến. Một người dễ mến. Tôi không biết phải nói như thế nào. Một người dễ mến có khả năng trở nên giận dữ.. Nhưng chuyện đó cũng hiếm khi. Cậu ấy rụt rè, cẩn thận. Hẳn là nhiều người thấy cậu ấy nhàm chán. Vô danh. Hơi chậm chạp, có lẽ. Nhưng không ngốc.

Wallander nghĩ rằng bức chân dung về Svedberg này hết sức chính xác. Nếu đổi vai, có khả năng ông cũng sẽ miêu tả anh theo đúng cách đó.

— Bạn thân nhất của cậu ấy là ai?

Lần này, câu trả lời làm ông sửng sốt.

— Tôi đã nghĩ đó là anh.

— Tôi?

— Cậu ấy nói thế đấy. Kurt Wallander là bạn thân nhất của em.

Wallander không tin vào tai mình. Ông vẫn luôn coi Svedberg như một đồng nghiệp trong số những người khác. Họ không giao du nhiều với nhau ngoài công việc, không bao giờ tâm sự. Rydberg từng là bạn ông, Ann-Britt Hoglund đang trở thành bạn ông. Nhưng không phải là Svedberg. Không thể được.

— Chị nói tôi mới biết điều đó đấy, – cuối cùng ông nói. – Về phần mình, tôi chưa bao giờ có cảm giác đó.

— Điều ấy không ngăn cản cậu ấy cảm thấy như vậy.

— Tất nhiên rồi.

Wallander có cảm giác lần đầu tiên nhìn thấy mức độ cô đơn thực sự của Svedberg. Nơi tình bạn được xây dựng trên cái điểm chung nhỏ xíu: sự thiếu vắng sự thân thiết.

Ông nhận ra mình đang nhìn chằm chằm cái máy ghi âm. Ông ngẩng đầu lên và tự buộc mình phải tiếp tục.

— Cậu ấy có bạn bè khác không? Những người mà cậu ấy hay gặp?

— Cậu ấy có quan hệ với một hiệp hội chuyên nghiên cứu người Anhđiêng châu Mỹ. Nhưng tôi tin là chuyện đó chủ yếu được thực hiện qua thư từ. Hội đó có tên là Indian Science; một cái tên từa tựa như thế. Nhưng tôi cũng không chắc lắm.

— Chúng tôi sẽ kiểm tra. Không có ai khác à?

Cô suy nghĩ.

— Đôi khi cậu ấy nói đến một chủ ngân hàng về hưu. Họ cùng ngắm sao với nhau.

— Ông ấy tên là gì?

Cô lại suy nghĩ.

— Sundelius. Bror Sundelius. Tôi biết là ông ấy sống ở thành phố. Nhưng chưa bao giờ gặp.

Wallander ghi lại cái tên vào sổ.

— Ai nữa?

— Chồng tôi.

Wallander đổi hướng.

— Chị có nhận ra một thay đổi nào đó ở cậu ấy thời gian gần đây không? Cậu ấy có vẻ lo lắng không? Hay suy nghĩ?

— Không. Ngoài chuyện mà tôi đã nói với anh. Rằng cậu ấy nhiều việc quá.

— Cậu ấy không giải thích chi tiết à?

— Không.

Wallander đột nhiên nghĩ đến sự tiếp nối mang tính lôgic của câu hỏi đó.

— Điều đó có làm chị thấy ngạc nhiên không? Khi cậu ấy tâm sự với chị chuyện này?

— Không hề.

— Như vậy là cậu ấy tự nói ra?

— Lẽ ra tôi phải nghĩ đến chuyện đó sớm hơn. Khi anh bảo tôi miêu tả cậu ấy, tôi đã quên mất một điều. Cậu ấy rất hay lo lắng quá mức. Chỉ một vết xước nhẹ cũng làm cậu ấy sợ. Nếu bị cảm, tức khắc cậu ấy nghĩ là mình bị một con virus nguy hiểm tấn công. Tôi nghĩ là cậu ấy vô cùng sợ hãi những con vi trùng.

Wallander nhìn thấy lại anh một cách hết sức rõ ràng. Svedberg lao vào phòng vệ sinh để rửa tay hai mươi lần một ngày. Svedberg tránh như tránh hủi tất cả những ai bị cảm cúm trong sở.

Cô lại nhìn đồng hồ. Không còn nhiều thời gian lắm.

— Cậu ấy có vũ khí không?

— Theo tôi biết thì không.

— Chị có thấy điều gì khác có thể là quan trọng không?

— Tôi rất buồn. Có thể cậu ấy không phải là một người thật xuất sắc. Nhưng tôi sẽ rất nhớ cậu ấy. Tôi chưa bao giờ gặp một ai trung thực đến mức đó.

Wallander tắt máy ghi âm và đưa Ylva Brink ra đến chỗ tiếp tân. Trong một lúc, cô có vẻ mất phương hướng.

— Tôi sẽ tổ chức đám tang thế nào bây giờ? Sture nói là phải rắc tro, không có linh mục lẫn lễ lạt. Nhưng tôi không biết cậu ấy muốn thế nào.

— Cậu ấy không để lại di chúc à?

— Tôi không nghĩ là có, nếu không hẳn là cậu ấy đã nói với tôi rồi.

— Liệu cậu ấy có két riêng ở ngân hàng không?

— Không.

— Cả cái đó, cậu ấy cũng nói với chị à?

— Vâng.

— Chúng tôi, các đồng nghiệp của cậu ấy, tất nhiên là chúng tôi muốn đóng góp cho lễ tang. Tôi sẽ nói chuyện với Lisa Holgersson và bảo bà ấy liên lạc với chị.

Ylva Brink biến mất giữa những cánh cửa lắp kính của sở cảnh sát. Wallander quay lại phòng mình. Một cái tên mới xuất hiện. Bror Sundelius, chủ ngân hàng về hưu. Wallander mở danh bạ. Ông ta sống ngay ở trung tâm, ở phố nhỏ Vadergrand. Wallander ghi lại số điện thoại của ông ta. Rồi ông nghĩ đến cuộc nói chuyện với Ylva Brink. Cô đã nói cho ông những gì? Người phụ nữ tên Louise là một bí mật được giữ rất cẩn thận. Giữ rất cẩn thận, ông nghĩ. Đó là từ chính xác. Ông ghi lại. Người ta giữ bí mật về một người phụ nữ trong nhiều năm vì những lý do nào? Ylva Brink từng nói đến một phản ứng rất mạnh liên quan đến những người đồng tính. Ngoài ra cậu ấy còn sợ vi trùng. Và có lúc ngắm sao cùng một chủ ngân hàng về hưu. Wallander đặt chiếc bút bi xuống và ngồi dựa lưng vào ghế phôtơi. Không có gì mới mẻ cả, ông nghĩ. Nhìn chung, Svedberg vẫn là người mà chúng ta biết. Với một điều đặc biệt duy nhất: người phụ nữ đó, Louise. Không gì dẫn chúng ta đến với một điểm trung tâm, một trung tâm có khả năng giải thích cái chết của cậu ấy.

Đột nhiên ông như thể nhìn thấy chuỗi các sự kiện với một sự sáng sủa đáng sợ. Svedberg đã không đi làm. Tại sao? Bởi vì cậu ấy đã chết. Cậu ấy bắt gặp một tên trộm, kẻ đã bắn chết cậu ấy bằng hai phát súng trường trước khi bỏ chạy, tay cầm cái kính viễn vọng. Một bi kịch lãng nhách, tầm thường và đáng sợ khủng khiếp.

Chỉ đơn giản là không có cách giải thích khả dĩ nào khác.

Hai mươi giờ mười phút, Wallander gọi điện về nhà Lisa Holgersson. Bà muốn nói chuyện với ông về đám tang; họ sẽ phải tham gia theo cách nào? Wallander bảo bà gọi cho Ylva Brink. Rồi ông tóm tắt những phát hiện của buổi chiều, nói thêm rằng càng ngày ông càng nghiêng về giả thuyết về một tên trộm dữ tợn, có thể là nghiện ngập.

— Sếp lớn đã gọi điện, – bà nói. – Ông ấy nói là rất tiếc và rất quan tâm.

— Theo đúng thứ tự đó?

— Thật may mắn là đúng thế.

Wallander thông báo với bà là sáng hôm sau sẽ có một cuộc họp vào lúc chín giờ và hứa sẽ báo cho bà biết nếu có một sự kiện mang tính quyết định xảy ra từ giờ cho đến lúc đó.

Sau đó ông bấm ngay số của chủ ngân hàng Sundelius. Không có người trả lời, thậm chí còn không có tin nhắn tự động.

Rồi ông suy nghĩ vẩn vơ một lúc. Phải tiếp tục thế nào đây? Sự sốt ruột gặm nhấm ông. Phải chờ đợi, ông biết. Báo cáo của các bác sĩ pháp y, kết quả của các phân tích kỹ thuật.

Ông ngồi xuống bàn. Tua lại cuộn băng và nghe lại cuộc nói chuyện. Những lời cuối cùng của Ylva Brink đọng lại trong tâm trí ông. Một người trung thực đến mức đó, cô đã nói như vậy về Svedberg.

— Mình đang mò kim đáy bể rồi, – ông nói to suy nghĩ của mình. – Chúng ta đang phải đối đầu với một tên trộm nguy hiểm. Không thể là cái gì khác.

Có người gõ cửa. Martinsson xuất hiện.

— Có nhiều phóng viên đang rất sốt ruột ở chỗ tiếp tân, mặc dù đã muộn…

— Chúng ta không có gì mới để thông báo cho họ.

— Tôi nghĩ họ sẽ hài lòng với mấy thứ cũ rích. Chỉ cần chúng ta cung cấp cho họ.

— Cậu không thể đuổi họ đi được à? Hứa với họ là sẽ có một cuộc họp báo ngay khi chúng ta tìm ra được điều gì mới.

— Anh quên mất là các cấp cao nhất của chúng ta đã ra chỉ thị rất rõ ràng là phải giữ quan hệ tốt với báo chí rồi à?

Wallander không hề quên, sếp lớn không ngừng ban xuống các chỉ thị ra lệnh cho các đơn vị cảnh sát phải tăng cường hợp tác với các phóng viên. Nhất định là không được phép từ chối họ, mà ngược lại còn phải sắp xếp thời gian để tiếp họ chu đáo nhất có thể được.

Wallander nặng nề đứng dậy.

— Tôi sẽ nói chuyện với họ.

Ông mất hai mươi phút để thuyết phục hai nhà báo là ông không có tin gì mới để báo cho họ. Lúc gần cuối, ông suýt mất bình tĩnh khi nhận ra họ công khai tỏ ra nghi ngờ lời nói của ông. Tệ hơn nữa: có vẻ như là ngay từ đầu họ đã chắc chắn là ông không nói thật. Ông vừa vặn giữ được bình tĩnh. Các nhà báo đi khỏi. Ông đi lấy một cốc cà phê và quay về phòng. Ông lại tìm cách liên lạc với Sundelius nhưng không có kết quả.

Hai mươi mốt giờ bốn mươi lăm phút. Cái nhiệt kế do chính tay Wallander treo ở phía bên kia cửa sổ chỉ 15 độ celcius. Một chiếc ôtô chạy qua dưới phố, dàn stereo bật hết cỡ. Ông cảm thấy bồn chồn và lo lắng. Kết luận của ông - một vụ trộm đột nhập tầm thường - không đủ làm ông cảm thấy dịu đi. Có cái gì đó khác

Và Louise là ai?

Điện thoại đổ chuông. Những tay phóng viên khác, ông tuyệt vọng nghĩ. Nhưng đó là Sten Widén.

— Cậu làm cái quái quỷ gì thế? Tôi thì cứ chờ cậu. Xin lỗi, tôi biết là cậu nhiều việc. Thật ra thì tôi rất tiếc vì chuyện đã xảy ra.

Wallander thầm chửi thề. Ông đã quên biến là tối nay phải qua nhà bạn. Sten và ông quen nhau từ khi còn nhỏ và có chung một niềm ham mê nhạc opera. Sau này, hai người xa dần nhau. Wallander vào cảnh sát và Sten Widén nhận lại trang trại của ông bố, lấy làm nơi huấn luyện ngựa đua. Họ đã nối lại quan hệ vài năm trước và, kể từ đó, gặp nhau khá thường xuyên.

— Xin lỗi nhé. Lẽ ra tôi phải gọi cho cậu. Nhưng tôi hoàn toàn quên mất.

— Tôi đã nghe trên đài tin đồng nghiệp của cậu bị giết. Một vụ tấn công hoặc một vụ giết người, nếu tôi hiểu đúng.

— Chưa thể biết được. Nhưng bọn tôi đã qua một đêm và một ngày khủng khiếp.

— Chúng ta có thể gặp nhau một lần khác nếu cậu thích.

Wallander quyết định ngay.

— Tôi đến đây, – ông nói. – Tôi sẽ ở đó trong nửa tiếng nữa.

— Đừng tự cảm thấy bị bắt buộc đấy nhé.

— Tôi cần phải tránh xa nơi này một lúc.

Wallander ra khỏi sở, không nói là ông đi đâu. Nhưng trước khi rời khỏi Ystad, ông cũng ghé qua nhà để lấy điện thoại di động. Ông lấy đường E 65, đi qua Rydsgard và Skurup, lấy lối ra ở đoạn lâu đài Stjarnsund và, để lại đống đổ nát sau lưng, rẽ vào cái sân vuông của Sten Widén. Một con ngựa đực giống nhốt riêng hí lên trong một ngăn chuồng. Còn lại là im lặng hoàn toàn.

Sten Widén đi ra. Wallander có thói quen nhìn thấy ông trong bộ đồ lao động. Lúc này, ông mặc một chiếc sơ mi trắng và tóc ướt. Khi bắt tay ông, Wallander nhận ra mùi rượu. Sten Widén uống quá nhiều, Wallander biết điều đó, nhưng chưa bao giờ ông bình luận về chủ đề đó, chuyện này không liên quan đến ông.

— Buổi tối đẹp quá, – Widén nói. – Mùa hè đã đến cùng với tháng Tám. Hay là phải nói ngược lại? Tháng Tám đã đến cùng với mùa hè?

Một thoáng ghen tị nhói lên trong Wallander. Ông đã mơ ước được sống đúng như thế này, ở đồng quê, cùng một con chó, có thể là cùng cả Baiba nữa. Nhưng giấc mơ đã không trở thành hiện thực.

— Làm ăn thế nào? – ông hỏi.

— Không tốt lắm. Kỷ lục là vào những năm 1980, thời đó ai cũng có đủ tiền mua một con ngựa. Giờ thì người ta đếm từng xu và tối nào cũng cầu Chúa không phải trở thành nạn nhân của đợt đuổi việc kế tiếp.

— Tôi thì cứ nghĩ người giàu mới có ngựa đua! Và người giàu thì có bao giờ bị thất nghiệp đe dọa đâu, nhỉ?

— Người giàu thì tất nhiên là cũng có, nhưng ít hơn trước rồi. Người bình thường trèo qua hàng rào của họ và nhảy lên những thảm cỏ của họ. Tương tự với trò đánh golf.

Họ đi đến chỗ các tàu ngựa. Một cô gái mặc đồ cưỡi ngựa xuất hiện, tay dắt một con ngựa.

— Đây là người làm công duy nhất mà tôi còn, – Widén nói. – Cô ấy tên là Sofia. Tôi buộc phải cho những người khác nghỉ việc rồi.

Wallander nhớ đến một cô gái từng làm việc ở trại ngựa vài năm trước. Widén có quan hệ với cô gái ấy. Ông không nhớ nổi tên cô ta nữa, hình như là Jenny.

Widén nói vài câu với Sofia. Wallander nghĩ là mình hiểu ra rằng con ngựa tên là Black Triangle. Sự kỳ quặc của những cái tên ngựa chưa bao giờ thôi làm ông ngạc nhiên.

Họ đi vào các tàu ngựa. Widén dừng lại trước một khoang.

— Giới thiệu với cậu Dreamgirl Express. Lúc này, có thể nói nó là cần câu cơm duy nhất của tôi. Còn lại thì tệ hại lắm. Các chủ trại ngựa khác đều than phiền mọi thứ thật đắt đỏ. Kế toán của tôi ngày càng hay gọi điện hơn và ngày càng sớm hon. Nói thật lòng, tôi không biết mình còn có thể trụ vững đến bao giờ nữa.

Wallander thận trọng vuốt ve mũi con ngựa cái.

— Đây không phải là lần đầu tiên, – ông nói. – Và lần nào mọi chuyện cũng ổn mà.

Widén gật đầu.

— Tôi không biết nữa. Nhưng tôi nghĩ có thể thu được một món khá từ cái trại. Và khi đó, tôi sẽ ra đi.

— Đi đâu?

— Tôi sẽ nhét đồ vào vali. Tôi sẽ tự đãi mình một đêm ngủ thật say và sáng ra tôi sẽ quyết định.

Họ rời khỏi chỗ tàu ngựa và đi về phía nhà, vừa là nơi ở vừa dùng làm văn phòng. Thường thì ở đó ngự trị một sự bừa bãi hỗn loạn. Lần này, Wallander ngạc nhiên nhận ra nó đã được dọn dẹp. Widén trả lời câu hỏi không phát thành lời của ông.

— Cách đây vài tháng, tôi đã phát hiện ra các phẩm chất trị liệu của việc dọn dẹp nhà cửa.

— Tôi thì không sao làm được như vậy. Mà tôi đã thử rồi đấy chứ.

Sten Widén chỉ một cái bàn xếp đầy chai lọ. Wallander ngần ngừ. Rồi ông gật đầu. Bác sĩ Goransson hẳn sẽ không đồng ý. Nhưng ngay lúc này, ông không đủ sức kháng cự.

Khoảng nửa đêm, Wallander nhận ra là ông bắt đầu say. Họ ra vườn sau nhà, và nhạc vẳng ra từ những cửa sổ để mở. Sten Widén nhắm mắt lại và dùng tay chỉ huy đoạn cuối bản Dom Juan. Wallander nghĩ đến Baiba. Con ngựa đực giống im lặng quan sát họ từ chuồng của mình.

Im lặng trùm xuống.

— Những giấc mơ thời trẻ thì bay đi nhưng âm nhạc thì còn ở lại, – Widén kết luận. – Tôi không hề muốn được trẻ trung vào thời này. Tôi quan sát những cô gái làm việc cho tôi ở tàu ngựa. Họ còn lại gì từ những hy vọng hoặc giấc mơ? Họ không được học hành tử tế, không chút tự tin nào vào bản thân. Ai sẽ cần đến họ, nếu tôi buộc phải đóng cửa?

— Thụy Điển đã trở thành một đất nước khó khăn. Khó khăn và dữ dằn.

— Làm sao mà cậu vẫn còn chịu đựng được cái nghề cảnh sát đó?

— Tôi không biết. Nhưng tôi không thích ý nghĩ một xã hội nằm dưới sự kiểm soát của tự vệ dân sự. Ý nghĩ đó làm tôi thấy sợ. Còn về phần cảnh sát, tôi không nghĩ mình là kẻ kém cỏi nhất.

— Tôi không định hỏi điều đó.

— Tôi biết. Nhưng tôi định trả lời như thế.

Họ quay vào nhà. Đêm trở nên ẩm ướt. Họ thỏa thuận rằng ngày mai Sten Widén sẽ mang xe của Wallander vào thành phố. Wallander sẽ đi taxi về. Ông không muốn ngủ ở nhà Widén.

— Cậu còn nhớ cái lần chúng ta sang Đức để nghe người ta chơi nhạc Wagner không? Hai mươi lăm năm rồi. Tôi tìm thấy đống ảnh. Cậu thích xem lại không?

— Đồng ý.

— Với tôi, chúng rất quý giá. Chính vì thế tôi đã cất chúng vào chỗ giấu đồ đạc.

Wallander nhìn thấy ông gỡ một mảnh vữa cạnh một cái cửa sổ, thò tay vào hốc rút ra một cái hộp sắt. Ông chìa một bức ảnh cho Wallander đang mở to mắt ngạc nhiên khi nhận ra chính mình. Bức ảnh được chụp ở một trạm nghỉ xe bên ngoài Lubeck. Wallander vung vẩy một chai bia, hình như ông đang hét một điều gì đó với người chụp ảnh. Những bức ảnh khác có cùng kiểu đó. Ông trả chúng cho Widén, lúc này đang thở dài.

— Chúng ta đã chơi đùa thật vui. Tôi không biết là kể từ đó đã có lúc nào chúng ta vui vẻ được như thế chưa.

Wallander tự rót thêm một cốc whisky. Widén có lý. Kể từ đó chưa bao giờ họ vui vẻ được như thế cả.

Gần một giờ sáng họ gọi điện đến sân bay Skurup để đặt một chiếc taxi. Wallander thấy đau đầu. Thêm nữa, ông buồn nôn. Và ông rất, rất mệt.

— Một lúc nào đó chúng ta phải quay lại Đức, – Sten Widén nói trong khi họ đứng chờ taxi ở sân.

— Không. Chúng ta sẽ phải đi đâu đó khác. Nhưng tôi không có trang trại để bán.

Xe đến. Wallander nói địa chỉ, taxi nổ máy. Sten Widén nhìn theo họ. Wallander, ngồi ở ghế sau, nằm gục trong một góc và nhắm mắt lại. Ông ngủ thiếp đi và ngay lập tức bắt đầu mơ.

Ngay sau cửa ô Rydsgard, một điều gì đó làm ông tỉnh lại. Thoạt tiên ông hoàn toàn không hiểu đó là gì. Một hình ảnh thoáng qua trong giấc mơ. Rồi điều đó quay trở lại: Sten Widén đã gỡ một mảnh vữa gần cửa sổ. Đột nhiên ông hoàn toàn tỉnh táo. Trong nhiều năm trời, Svedberg đã giữ một bí mật: một người phụ nữ có tên Louise. Nhưng trong các ngăn kéo của anh, Wallander chỉ tìm được vài bức thư cũ của bố mẹ anh.

Svedberg có một chỗ giấu đồ, ông nghĩ.

Ông ngả người về phía người lái xe, bảo anh ta không đến Mariagatan nữa, mà đến Lilla Norregatan. Ông xuống taxi vào lúc hơn hai giờ một chút. Chùm chìa khóa nhà Svedberg nằm trong túi áo ông. Ông mơ hồ nhớ đã nhìn thấy một hộp thuốc aspirin trong tủ thuốc.

Ông mở cửa căn hộ và nín thở. Rồi ông vào phòng tắm, tìm được hai viên thuốc mà ông uống cùng một cốc nước, ở trong bếp. Có tiếng thanh niên gọi nhau trên phố; rồi im lặng trùm xuống trở lại. Ông đặt cốc nước lên giá và bắt đầu tìm nơi giấu đồ của Svedberg. Ông phát hiện ra nó vào lúc ba giờ kém mười lăm phút: một khoảnh thảm trải sàn bị cắt ra dưới cái tủ trong phòng ngủ. Wallander hướng chùm sáng của cái đèn ngủ về phía cái hốc. Trong đó chỉ có một cái phong bì bằng bìa. Ông cầm lấy nó và quay lại bếp. Mép phong bì không dán. Ông mở nó ra.

Cũng như Sten Widén, Svedberg hẳn phải coi những bức ảnh là các đồ vật quý giá.

Có hai bức ảnh. Một cái chụp khuôn mặt một phụ nữ. Một tấm chân dung, có vẻ như được chụp trong studio.

Trên bức ảnh thứ hai, vài thanh niên ngồi dưới một cái cây nâng cốc về phía người chụp.

Khung cảnh thật êm đềm. Nhưng có một chi tiết thu hút sự chú ý của ông.

Có vẻ như là họ cải trang. Như thể bữa tiệc của họ diễn ra ở một thời đại khác.

Wallander đeo kính vào.

Một linh cảm làm bụng ông quặn lại.

Ông nhớ là đã nhìn thấy một cái kính lúp trong một ngăn kéo bàn làm việc của Svedberg. Ông đi tìm nó. Rồi ông chăm chú xem bức ảnh.

Ông thấy mơ hồ quen mặt những thanh niên này. Đặc biệt là cô gái ở bên phải.

Rồi ông nhận ra. Mới đây ông đã nhìn thấy một bức ảnh của cô - nhưng không giả trang..

Đó là Astrid Hillstrom.

Wallander nhẹ nhàng đặt bức ảnh xuống.

Một chiếc đồng hồ treo tường điểm ba giờ đúng.

không mất nhiều thời gian để phát hiện Svedberg là một nhà sưu tầm. Những chiếc giày và áo vest cũ xơ ra này hẳn đã có tuổi thọ ít nhất là hai mươi năm. Ông tiếp tục cuộc tìm kiếm của mình, một cách có hệ thống. Trong một cái vali, ông tìm
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.