Chậm Một Bước

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
18

❊ ❊ ❊

Thứ Ba 13 tháng Tám vào lúc năm giờ sáng, Wallander lái xe theo hướng Đông Bắc. Ông đã đi quá Solvesborg thì nhận ra mình hoàn toàn quên mất lời hứa sẽ đến gặp bác sĩ Goransson vào sáng nay. Ông dừng lại bên đường để gọi điện cho Martinsson. Lúc đó là sáu giờ rưỡi, thời tiết vẫn tiếp tục nóng và khô.

— Cậu gọi cho bác sĩ hộ tôi và nói với anh ta là tôi không thể đến được vì có công vụ gấp nhé.

— Anh bị ốm à?

— Tôi phải khám định kỳ thôi.

Hẳn Martinsson phải tự hỏi tại sao ông không tự gọi cho bác sĩ Goransson. Chính ông cũng tự hỏi mình như vậy. Và tại sao cứ phải khăng khăng tránh nói về bệnh tiểu đường? Bản thân ông cũng không hiểu nổi.

Không lâu trước khi đến Bromsebro, sự mệt mỏi buộc ông phải nghỉ một lúc. Ông rời khỏi đường và dừng lại cạnh một tấm bia kỷ niệm hiệp ước hòa bình giữa Thụy Điển và Đan Mạch từng được ký kết ở đây. Ông đi đến dưới một gốc cây để đi tiểu. Rồi ông lên xe, nhắm mắt lại và thiếp đi.

Trong giấc mơ, những bóng hình đáng lo ngại đi lại dưới một cơn mưa nặng hạt. Wallander tìm Ann-Britt mà không thấy. Bố ông hiện ra, rồi Linda, nhưng ông chỉ lờ mờ nhận ra cô. Và mưa rơi như trút.

Ông chầm chậm thoát ra khỏi giấc ngủ. Nhớ ra mình đang ở đâu ngay cả trước khi mở được mắt. Mặt trời rọi thẳng vào mặt ông. Ông toát mồ hôi, nhưng không thấy được nghỉ ngơi. Và thấy khát. Ông ngạc nhiên nhận ra mình đã ngủ được hơn nửa tiếng; khắp người ông đau nhức. Ông nổ máy. Sau khoảng hai mươi cây số, ông nhìn thấy một quán cà phê bên đường. Ông dừng lại để ăn sáng. Khi đi khỏi, ông mua nước - hai chai to - trước khi tiếp tục đi về hướng Kalmar, và vượt qua đó vào lúc quá chín giờ một chút. Điện thoại reo; đó là Ann-Britt, người chịu trách nhiệm chuẩn bị cho ông đến Ostergotland.

— Tôi đã nói chuyện với một đồng nghiệp ở Valdemarsvik. Tôi trình bày sự việc như thể chúng ta nhờ anh ta một việc riêng tư.

— Cậu đã làm đúng. Các đồng nghiệp của chúng ta không thích người khác giẫm lên lãnh thổ của mình.

— Nhất là cậu.

Đúng vậy. Ông không thích nhìn thấy cảnh sát từ các nơi khác đến Ystad.

— Phải đi như thế nào để đến được Bamso ?

— Còn tùy. Cậu còn cách đó xa không?

— Tôi vừa đi qua Kalmar. Còn một trăm cây số nữa là đến Vastervik. Và sau đó còn khoảng một trăm cây nữa.

— Thế thì cậu bị muộn rồi.

— Tại sao?

— Đồng nghiệp Valdemarsvik của chúng ta nói cậu nên đi tàu của bưu điện, sẽ rời khỏi Fyrudden giữa mười một giờ và mười một giờ rưỡi.

— Không có cách nào khác để đi đến đảo à?

— Tất nhiên là có chứ. Nhưng cậu sẽ phải tự hỏi lấy khi nào đến cảng.

— Có thể là tôi sẽ đến kịp vào lúc mười một giờ. Chúng ta không thể báo trước cho người của bưu điện là tôi sẽ đến à? Thư từ được lọc ở đâu? Norrkoping à?

— Tôi đang xem bản đồ đây. Theo tôi thì chắc là ở Gryt. Nếu ở đó có một cái bưu điện.

— Đó là ở đâu?

— Giữa Valdemarsvik và cảng Fyrudden. Cậu không có bản đồ à?

— Không, tôi để quên trên bàn rồi

— Được rồi, thế thì tôi sẽ gọi lại. Nhưng tôi cho là đi tàu của bưu điện là tốt nhất. Theo lời đồng nghiệp của chúng ta thì đó là phương tiện đi lại thông thường của những người muốn đến các hòn đảo - trừ khi có tàu riêng hoặc có người ra đón.

— Cậu muốn nói là Isa Edengren cũng đã đi như vậy?

— Rất có thể chứ.

Wallander suy nghĩ.

— Nhưng liệu cô ấy có đến được đó vào lúc mười một giờ không? Nếu rời khỏi bệnh viện trước sáu giờ một chút?

— Bằng ôtô thì có thể. Cô ấy có bằng lái mà. Và đừng quên là có thể cô ấy đã rời khỏi bệnh viện ngay vào lúc bốn giờ sáng.

Cô hứa sẽ gọi lại sau. Wallander tăng tốc. Mật độ xe cộ trên đường dày thêm. Có nhiều xe caravan. Ông nhận ra vẫn là mùa hè, vẫn là kỳ nghỉ. Trong một lúc, ông định bật còi hụ. Nhưng ông lại thôi. Ông tăng tốc thêm. Ann-Britt gọi lại sau khoảng hai mươi phút.

— Tôi đã có lý. Điểm lọc thư cuối là Gryt. Thậm chí tôi còn nói chuyện được với một người chuyển thư đến các đảo. Ông ấy có vẻ dễ chịu.

— Tên là gì?

— Tôi không nghe rõ lắm. Nhưng ông ấy sẽ đợi cậu, với điều kiện cậu đến được nơi trước mười hai giờ. Nếu không ông ấy có thể quay lại đón cậu trong buổi chiều. Nhưng tôi cho là sẽ đắt hơn rất nhiều đấy.

— Thế à? Nói thật là tôi đã định đòi thanh toán toàn bộ chuyến đi này đấy.

— Ở cảng có một bãi đỗ xe. Tàu của bưu điện đậu ở ngay cạnh.

— Cậu có số điện thoại của ông ấy không?

Wallander dừng xe để ghi lại số. Cùng lúc đó, ông bị một chiếc xe tải vượt qua, và vài phút sau phải rất khó khăn ông mới vượt được nó.

Mười hai giờ kém hai mươi phút, Wallander đến được chỗ rẽ vào Fyrudden. Ông tìm được một chỗ trên bãi đỗ xe và tiếp tục đi bộ cho đến mép nước. Một cơn gió nhẹ thổi trên cảng. Ông nhìn thấy một con tàu lớn chạy động cơ và một người đàn ông trạc năm mươi tuổi đang xếp những cái thùng cactông lên boong. Wallander ngần ngừ. Ông nghĩ một con tàu của bưu điện phải khác. Có thể là với một lá cờ in biểu tượng của bưu điện. Người đàn ông đứng dậy và nhìn thấy Wallander.

— Anh là người muốn đến Bamso phải không?

— Tôi đây.

Người đàn ông bước lên mặt đất và chìa tay cho ông.

— Lennart Westin.

— Rất tiếc là đã đến quá muộn.

— Có vội vã gì đâu.

— Tôi không biết liệu người gọi điện cho anh có nói rõ là tôi phải quay lại đây vào chiều nay hoặc muộn nhất là tối nay chưa.

— Anh không ngủ đêm ở đó à?

Tình huống trở nên khó xử. Thậm chí ông còn không biết liệu Ann-Britt có nói ông là cảnh sát hay không.

— Cho phép tôi giải thích. Tôi từ Ystad đến, tôi là thanh tra cảnh sát, đang tiến hành một cuộc điều tra.

— Ba thanh niên? Tôi đã đọc được trên báo. Có cả một cảnh sát bị giết phải không?

Wallander gật đầu. Westin suy nghĩ rất nhanh.

— Tôi nghĩ là tôi nhận ra họ, theo những bức ảnh đăng trên báo. Tôi muốn nói là các thanh niên ấy; ít nhất là một trong số họ. Tôi có cảm giác đã chở họ đến Bamso cách đây vài năm.

— Cùng với Isa à?

— Đúng vậy. Tôi nghĩ là vào khoảng cuối mùa thu, cách đây hai năm. Có một cơn bão, tôi đã tự hỏi không biết liệu có thể cập được vào Bamso hay không, cầu tàu ở vị trí không hề thuận lợi khi gió thổi từ hướng Tây Nam. Cuối cùng cũng cập được bờ, nhưng một chiếc vali của họ bị rơi xuống nước. Chúng tôi kịp vớt nó lên bằng sào móc. Chính vì chuyện đó mà tôi còn nhớ họ. Nếu quả đúng là họ… Không bao giờ có thể tin tưởng vào trí nhớ được.

— Hẳn là anh có lý. Mấy ngày gần đây anh có thấy Isa không? Hôm nay hoặc hôm qua?

— Không.

— Nhưng khi đến đây thì cô ấy hay đi tàu của anh chứ?

— Khi bố mẹ cô ấy ở đây thì họ đến đón. Nếu không, cô ấy đi cùng tôi.

— Vậy là cô ấy không có ở đây?

— Nếu cô ấy đến Bamso vào hôm nay hoặc hôm qua, thì chắc là đi cùng với một người khác.

— Ai?

Westin nhún vai.

— Lúc nào cũng có người sống trên các hòn đảo sẵn sàng chở. Isa biết phải gọi cho ai. Nhưng tôi nghĩ là dù sao thì cô ấy cũng sẽ nhờ tôi đầu tiên.

Westin nhìn đồng hồ đeo tay. Wallander vội quay lại xe để lấy cái túi xách nhỏ. Ông lên tàu. Westin chỉ cho ông một tấm bản đồ hàng hải.

— Tôi có thể chở anh đến thẳng Bamso. Nhưng như thế thì sẽ phải đi vòng. Nếu đi theo lộ trình bình thường, chúng ta sẽ đến được đó trong khoảng một tiếng nữa. Tôi còn phải ghé ba nơi trước đã.

— Không vấn đề gì.

— Khi nào thì anh muốn tôi quay lại đón?

Wallander suy nghĩ. Mọi dấu hiệu đều cho thấy Isa không có ở trên đảo. Đó là một sai lầm về phán đoán và một sự thất vọng. Nhưng giờ đây, khi đã thực hiện cả chuyến đi như thế, ông muốn xem xét ngôi nhà. Ông nghĩ mình sẽ cần vài giờ.

— Anh không cần trả lời ngay, – Westin vừa nói vừa chìa cácvidit của mình. – Anh có thể gọi cho tôi bằng điện thoại di động. Chiều và tối nay tôi có thể qua đón khi nào anh muốn. Tôi sống ở một hòn đảo không xa Bamso lắm, ông nói thêm và đưa tay chỉ một điểm trên bản đồ.

— Tôi sẽ gọi cho anh.

Westin nổ hai cái động cơ và tháo đống dây buộc. Chỗ ngồi bên cạnh lái tàu chất đống những chồng thư và báo. Có cả một cái két nhỏ. Con tàu này có vẻ dễ lái, Wallander nghĩ; hoặc là người lái rất khéo léo. Khi đã ra khỏi cảng, Westin bật thật to mấy cái động cơ. Chầm chậm, con tàu lấy trớn và dần tăng tốc.

— Anh làm nghề này được bao nhiêu lâu rồi?

Wallander phải gào lên để át tiếng ồn của máy.

— Lâu lắm rồi, – Westin hét lên. – Hơn hai mươi lăm năm!

— Thế còn mùa đông? Anh làm gì khi cả khu này bị đóng băng?

— Thủy phi cơ.

Wallander nhận ra sự mệt mỏi đã rời khỏi ông. Tốc độ, cảm giác vẫn thường có khi ở biển tạo cho ông một sự thoải mái không được chờ đợi. Lần cuối cùng ông cảm thấy điều đó là khi nào? Có thể là vào những ngày ở cùng Linda trên đảo Gotland. Ông không nghi ngờ rằng chở thư cho các hòn đảo ở đây là một công việc khó khăn. Nhưng, giờ đây, những cơn bão và những đêm mùa thu vẫn còn ở xa. Westin nheo mắt nhìn ông, như thể đoán ra những ý nghĩ của ông.

— Thế còn nghề cảnh sát có hay không?

Bình thường, Wallander sẵn sàng tìm cách bênh vực nghề nghiệp của mình. Nhưng khi ở bên cạnh Westin, trên con tàu đang lao hết tốc lực trên mặt nước gần như lặng tờ, câu hỏi đã mang một tính chất khác hẳn.

— Nhiều lúc tôi thấy nghi ngờ điều đó, – ông hét lên. – Nhưng khi sắp bước vào tuổi năm mươi, người ta sẽ cảm thấy rất cô độc trên ke tàu. Phần lớn những đoàn tàu đã đi khỏi.

— Mùa xuân vừa rồi tôi vừa tròn năm mươi tuổi, – Westin hét. – Tất cả những người mà tôi quen ở khu quần đảo này đều đến bữa tiệc sinh nhật của tôi.

— Ở đây ông quen bao nhiêu người?

— Tất cả. Đó là một bữa tiệc lớn.

Westin rẽ ngoặt và giảm tốc độ. Họ tiến lại gần một vách đá lởm chởm bên dưới là một cái chòi son đỏ và một cầu tàu dựng trên những cái cột đá cũ.

— Batsmanso, – Westin thông báo. – Khi tôi còn bé, có chín gia đình sống ở đây, tổng cộng hơn ba mươi người. Giờ thì có rất nhiều người đến nghỉ vào mùa hè. Khi mùa thu tới thì không còn mống nào, ngoài Zetterqvist đã chín mươi ba tuổi và vẫn tự xoay xở được một mình vào mùa đông. Ông ấy góa vợ ba lần rồi. Loại đàn ông bây giờ gần như không thể tìm nổi nữa có thể là bởi vì họ đã bắt đầu bị An sinh xã hội cấm cửa…

Wallander ngạc nhiên phá lên cười.

— Ông ấy làm nghề đánh cá à?

— Ông ấy làm rất nhiều việc trong đời. Thậm chí cả phi công lái máy bay ven biển, cách đây lâu rồi.

— Anh biết tất cả mọi người, và tất cả mọi người đều biết anh à?

— Đúng thế. Nếu không thấy ông ấy trên cầu tàu, tôi sẽ đi xem liệu ông ấy có bị ốm không. Hoặc bị ngã. Khi người ta làm nghề đưa thư ở nông thôn, trên biển hoặc trên mặt đất, người ta biết rõ cuộc sống của người khác. Những gì họ làm, những nơi họ đi, khi nào họ trở về. Người ta biết hết cả, dù muốn hay không.

Westin vừa nhẹ nhàng cập tàu vào bờ. Trước tiên ông chuyển mấy cái thùng lên. Một đám người nhỏ nhanh chóng tụ tập lại. Westin vác thùng đựng thư đi vào ngôi nhà nhỏ màu đỏ. Wallander đặt chân lên đất liền. Vài miếng đá buộc lưới của dân chài dồn thành từng đống. Không khí mát mẻ.

Westin xuất hiện trở lại sau vài phút; họ tiếp tục đi qua phong cảnh liên tục thay đổi của quần đảo. Sau hai lần dừng, họ tiến lại gần Bamso, hòn đảo rậm rì cây cối. Trông nó biệt lập đến đáng ngạc nhiên, như thể bị vứt bỏ khỏi cộng đồng của quần đảo. Wallander cất tiếng.

— Chắc là anh biết cả nhà Edengren…

— Biết thì là nói quá. Hai vợ chồng, tôi muốn nói là hai bố mẹ ấy, tôi không gặp nhiều lắm. Tôi thấy họ có phần kiêu ngạo, nếu muốn gọi đúng tên các sự vật. Nhưng tôi thường xuyên chở Isa và Jorgen.

Wallander do dự.

— Chắc là ông biết là Jorgen đã chết?

— Tôi nghe nói cậu ấy bị tai nạn ôtô. Bố cậu ấy một hôm nói với tôi thế, khi tàu của họ gặp vấn đề với cái chân vịt và phải nhờ tôi đến đón.

— Thật là bi thảm, cái chết của một đứa bé.

— Tôi thì lại hay nghĩ Isa mới dễ gặp tai nạn.

— Tại sao?

— Cô ấy sống liều mạng lắm. Ít nhất là theo lời cô ấy nói.

— Cô ấy tâm sự với ông à?

— Không hề. Tôi có một đứa con trai cùng tuổi với Isa. Chúng cặp kè với nhau cách đây vài mùa hè, nhưng chuyện kết thúc rất nhanh chóng.

Tàu cập bờ. Wallander cầm lấy túi và bước lên cầu tàu.

— Chiều nay tôi sẽ gọi cho anh, – ông nói.

— Tôi ăn vào lúc sáu giờ. Anh có thể gọi cho tôi hoặc trước đó hoặc sau đó.

Wallander nhìn con tàu biến mất sau mũi đảo. Ông nhớ lại điều Westin vừa nói về cái chết của Jorgen. Hai vợ chồng Edengren đã che giấu sự thật. Một cái máy nướng bánh mì trong bồn tắm đã biến thành một vụ tai nạn ôtô.

Ông bước đi. Bên cạnh cầu tàu là một bãi để thuyền và một cái chòi khá giống ở Skarby, nơi ông đã tìm thấy Isa nằm bất tỉnh. Một con thuyền cũ nằm lật sấp trên đống mễ. Mùi nhựa đường thoảng qua trong không khí. Những cây sồi lớn mọc trên sườn dốc dẫn lên ngôi nhà màu đỏ hai tầng, cũ kỹ nhưng được chăm sóc rất cẩn thận. Vào đến sân, ông dừng lại và nhìn xung quanh. Ông nhìn thấy một cái thuyền buồm ngoài biển và nghe thấy tiếng động cơ xuồng gắn máy. Ông toát mồ hôi. Ông đặt túi xuống, cởi áo vest và treo nó vào tay dựa cầu thang dẫn lên thềm nhà. Những tấm riđô khép kín. Ông bước lên các bậc thang và gõ cửa. Không có ai trả lời. Ông thử quay nắm đấm. Cửa khóa. Ông ngần ngừ một lúc. Rồi ông đi vòng quanh nhà, với cảm giác đang lặp lại cùng những động tác ở lần đầu tiên đến Skarby. Ông nhìn thấy một khu vườn trồng cây ăn quả. Có táo, mận. Một cây sơri đơn độc. Bàn ghế trong vườn dồn thành một đống dưới một cái ôvăng nhựa.

Một lối đi dẫn từ cuối vườn vào bên trong đảo, nơi cây cối rậm rạp hơn. Wallander đi vào đó và quay đầu lại sau một trăm mét. Không còn nhìn thấy ngôi nhà nữa. Ông đi tiếp. Một con ong bầu bắt đầu chú ý đến mặt ông. Ông lấy tay xua nó đi và lại gần một cái hầm sát mặt đất, bên cạnh đường. Trên cửa khắc: 1897. Có một cái chìa khóa cắm ở ổ. Wallander mở ra. Bên trong tối và mát. Ông ngửi thấy mùi khoai tây. Khi mắt đã quen với bóng tối, ông bước vào. Cái hầm trống không. Ông đóng cửa lại và tiếp tục đi trên con đường giờ đây đã bắt đầu dốc lên. Bên trái, ông nhìn thấy biển thấp thoáng sau những tán lá. Theo vị trí của mặt trời, ông đang đi về hướng Bắc. Đi được khoảng năm trăm mét thì ông nhìn thấy một lối đi nhỏ hơn rẽ sang trái. Ông tiếp tục đi thẳng. Lối đi dừng lại cách đó vài trăm mét. Trước mặt ông là một đống đá phẳng đang dần biến thành những tảng đá. Bên kia đã là biển. Kết thúc của hòn đảo. Ông trèo lên những tảng đá. Một con mòng biển bay lượn trên những ngọn gió phía trên đầu ông. Ông ngồi xuống, lau mồ hôi trên mặt và thấy tiếc vì không mang theo một chai nước để trong cái túi. Ông hoàn toàn không nghĩ gì đến Svedberg hay các thanh niên bị giết.

Rồi ông đứng dậy và đi ngược lại con đường. Đến chỗ rẽ, ông chuyển sang lối đi nhỏ hơn. Nó dẫn đến một cái cảng tự nhiên; vài vòng sắt hoen gỉ được chốt vào những tảng đá. Nước lặng như mặt gương. Những cái cây lớn soi mình xuống đó. Ông quay lại ngôi nhà, kiểm tra xem điện thoại di động của mình có bật hay không. Ông đi tiểu dưới gốc một cây sồi. Ông lấy một chai nước trong túi và ngồi xuống bậc thềm. Miệng ông khô khốc. Khi đặt cái chai xuống, một điều gì đó thu hút sự chú ý của ông. Ông nhíu mày, chầm chậm nhìn ra xung quanh. Điều gì đó vừa làm rung cái máy báo động bên trong của ông. Điều gì? Ông chăm chăm nhìn vào cái túi đặt trên bậc thang đầu tiên của thềm nhà. Ông chắc chắn là đã để nó ở bậc thứ hai. Ông đi xuống và cố gắng nhìn lại hình ảnh đó. Trước tiên ông đã đặt cái túi xuống nền sỏi. Rồi ông cởi áo vest và treo nó lên tay vịn. Sau đó, ông đặt cái túi lên bậc thang thứ hai.

Trong khi ông đi dạo trên đảo, ai đó đã dịch chuyển chỗ của cái túi đen. Ông lại nhìn ra xung quanh, tất cả các giác quan căng thẳng. Ông xem xét đám cây cối, rồi ngôi nhà. Những tấm riđô vẫn đóng như trước. Ông trèo lên những bậc thang và thử quay nắm đấm cửa. Rồi ông nghĩ đến bãi để thuyền và cái chòi rất giống cái chòi ở Skarby. Ông xuống đến cầu tàu. Cánh cửa kho màu đen được chốt bằng một cái then gỗ đơn giản. Ông mở nó ra. Bãi nước trống không. Kích thước của đống dây rợ cho thấy bình thường ở đây để một chiếc thuyền lớn. Những cái vợt cá và lưới treo đầy trên tường. Ông ra khỏi và đóng cửa lại. Cái chòi, ở phía bên kia cầu tàu, dẫn thẳng xuống mé nước; thậm chí còn có một tay cầu thang như ở bể bơi. Wallander đứng nhìn nó không nhúc nhích. Rồi ông tiến đến cái cửa và tìm cách mở nó ra. Khóa kín. Ông gõ nhẹ hai cái.

— Isa, tôi biết là cô ở đó.

Ông lùi lại một bước và chờ đợi.

Khi cô mở cửa, ông gần như không nhận ra cô. Mái tóc dài đã được búi lên. Cô mặc một bộ đồ thợ máy màu đen. Cái nhìn của cô đầy thù địch; nhưng, Wallander nghĩ, đó cũng có thể là hiệu ứng của sợ hãi.

— Làm sao ông biết được tôi ở đây?

Giọng cô khàn và căng thẳng.

— Tôi đã không biết cho đến khi chính cô nói với tôi.

— Tôi không nói gì cả.

— Cảnh sát nhận ra các chi tiết. Chẳng hạn như một cái túi không được đặt lại đúng chỗ của nó.

Cô nhìn thẳng vào mặt ông như thể ông vừa nói điều gì đó khó hiểu lắm. Ông thấy cô đi chân trần.

— Tôi đói, – cô nói.

— Tôi cũng thế.

Cô bước đi.

— Trong nhà có đồ ăn đấy. Tại sao ông lại đến đây?

— Cô đã biến mất khỏi bệnh viện, nên chúng tôi buộc phải tìm lại cô.

— Tại sao?

— Cô cũng biết rõ như tôi chuyện gì đã xảy ra. Tôi không cần phải trả lời câu hỏi đó.

Cô im lặng bước đi. Wallander nhìn trộm cô. Trông cô rất nhợt nhạt. Khuôn mặt cô nhàu nhĩ như mặt của một bà già.

— Làm cách nào mà cô đến được đây?

— Tôi đã gọi cho Lage ở Wetterso.

— Tại sao lại không phải là Westin?

— Các ông có khả năng gọi cho ông ấy để hỏi tôi có ở đây hay không.

— Và cô không muốn người ta biết điều đó?

Cô không trả lời. Cô rút từ trong túi một chiếc chìa khóa và mở cửa. Rồi cô đi vào các căn phòng của tầng trệt và kéo riđô. Cô làm việc đó vẻ hờ hững, gần như bạo liệt, như thể muốn phá hủy tất cả những gì có ở xung quanh. Wallander đi theo cô vào bếp. Cô đẩy một cánh cửa dẫn ra vườn và cắm cái ống nối bếp với một cái bình gaz. Wallander đã nhận ra là trong nhà không có điện. Cô quay sang và nhìn thẳng vào ông.

— Nấu bếp là một trong những việc hiếm hoi mà tôi biết làm.

Cô chỉ một cái tủ đựng đồ đông lạnh lớn và một cái tủ lạnh, cũng chạy bằng gaz.

— Có khối thứ để ăn, – cô nói vẻ khinh bỉ. – Bố mẹ tôi trả tiền cho một người chuyên đến đổ đầy các bình gaz. Họ muốn lúc nào cũng có đồ ăn, trong trường họp họ quyết định đến đây ở vài ngày, điều mà chưa bao giờ họ làm cả.

— Có thể nói rằng bố mẹ cô có rất nhiều tiền. Cho thuê dụng cụ nông nghiệp mà kiếm được đến thế cơ à?

Câu trả lời vọt ra như một sự phỉ nhổ.

— Mẹ tôi vừa ngu vừa bướng, đó không phải là lỗi của bà ta. Bố tôi thì còn xa mới có thể gọi là ngốc. Ngược lại; ông ta không đoái hoài đến gì hết đâu.

— Tôi đang nghe đây.

— Không phải bây giờ. Lát nữa, trong khi ăn.

Thông điệp rất rõ ràng: cô muốn ông rời khỏi bếp. Ông đi ra ngoài và gọi cho Ann-Britt bằng điện thoại di động.

— Isa Edengren đang ở đây, đúng như chúng ta đã nghĩ.

— Đúng như cậu đã nghĩ, – cô sửa lại. – Nói thật lòng là chúng tôi không mấy tin vào điều đó.

— Thỉnh thoảng tôi cũng phải có lý chứ. Tôi nghĩ là chúng tôi sẽ trở về Ystad vào tối hoặc đêm nay.

— Cậu nói chuyện với cô ấy rồi à?

— Chưa.

Cô tóm tắt các sự kiện buổi sáng ở Ystad. Vài người đã gọi đến để thông báo nhận ra người phụ nữ có tên Louise. Người ta đang kiểm tra tính xác thực của những thông tin đó. Cô hứa sẽ gọi cho ông ngay khi có tin mới.

Wallander quay vào bên trong và ngắm nhìn thật lâu một cái mô hình tàu thủy rất đẹp. Một cái tàu ba cột cũ. Mùi xào nấu tỏa ra từ trong bếp. Ông đói ngấu. Ông đã không ăn gì kể từ bữa sáng trên đường đi. Ông nghĩ đến một loạt câu hỏi muốn đặt cho Isa. Trước hết ông cần phải khám phá ra điều gì?

Ông không ngừng quay trở lại cùng một điểm: ông cần phải rút tỉa được điều mà cô biết mà không ý thức được.

Cô đã kê xong bàn ở hàng hiên lớn lắp kính chạy suốt một bên của ngôi nhà. Cô hỏi ông muốn uống gì. Nước. Cô uống rượu vang. Wallander lo lắng. Nếu cô uống quá nhiều, cuộc nói chuyện được trông chờ sẽ không thể tiến hành được. Nhưng trong cả bữa ăn cô chỉ uống một ly. Rồi cô pha cà phê. Khi Wallander muốn dọn bàn, cô ngăn ông lại. Có một cái đivăng và vài ghế phôtơi trong một góc hàng hiên. Cô mời ông đến đó ngồi. Qua cửa kính, ông nhìn thấy cầu tàu. Một con thuyền buồm chầm chậm lướt qua, những cái buồm cong mình theo gió.

— Ở đây đẹp thật đấy. Tôi chưa đến vùng này bao giờ.

— Họ đã mua hòn đảo cách đây khoảng ba mươi năm. Họ kể là tôi đã được hoài thai ở đây. Tôi sinh vào tháng Hai, nên chuyện đó là rất có thể. Trước hòn đảo thuộc về một cặp vợ chồng già đã sống ở đây cả đời. Tôi không biết bằng cách nào mà bố tôi nghe nói đến nó. Ông ta đã đến đây cùng một vali đầy tiền một trăm curon. Nhìn thì ấn tượng lắm, nhưng cũng không nhiều lắm đâu. Tất nhiên là cặp vợ chồng kia chưa bao giờ nhìn thấy từng ấy tiền. Phải mất vài tháng mới thuyết phục được họ. Rồi họ ký hợp đồng. Giá phải được giữ kín. Sự thật là bố tôi đã mua được hòn đảo này với cái giá như cho không.

— Cô muốn nói là ông ấy đã lừa họ?

— Tôi muốn nói là lúc nào bố tôi cũng là một kẻ lừa đảo.

— Nếu mọi chuyện được tiến hành theo đúng luật thì đó không nhất thiết là một trò lừa đảo. Có thể bố cô là một nhà kinh doanh rất thông minh.

— Buôn bán thì ông ta làm ở khắp nơi trên thế giới. Buôn kim cương và ngà voi ở châu Phi, đấy mới chỉ là vài thứ. Không ai biết chính xác ông ta làm gì đâu. Thỉnh thoảng có những người Nga đến gặp ông ấy ở Skarby. Không ai có thể làm tôi tin được việc buôn bán của họ là hợp pháp.

— Theo chỗ tôi biết thì ông ấy chưa bao giờ gặp rắc rối với chúng tôi cả.

— Ông ta ranh lắm. Và bướng bỉnh. Người ta có thể trách cứ ông ta rất nhiều chuyện, nhưng không phải là lười biếng. Những kẻ không đoái hoài đến cái gì không có thời gian để nghỉ ngơi.

Wallander đặt cái tách xuống.

— Nói về bố cô thế là đủ rồi. Bây giờ nói về cô nhé. Chính vì việc đó mà tôi đã đến đây. Tối nay chúng ta sẽ quay về phía Nam.

— Điều gì làm ông nghĩ là tôi sẽ đi cùng ông?

Wallander nhìn cô chăm chú một lúc trước khi trả lời.

— Ba trong số những người bạn thân nhất của cô đã bị giết. Nếu không bị ốm, lẽ ra cô đã phải tham gia bữa tiệc cùng với họ. Cô cũng hiểu rõ như tôi rằng điều đó có nghĩa là gì.

Cô thu mình lại trong chiếc phôtơi. Ông thấy rõ là cô đang sợ.

— Chúng tôi không biết tại sao chuyện đó lại xảy ra. Vì vậy chúng tôi buộc phải thận trọng.

Cuối cùng cô tỏ ra là đã hiểu.

— Tôi đang gặp nguy hiểm à?

— Rất có thể.

— Nhưng tại sao lại có kẻ muốn giết tôi?

— Tại sao lại có kẻ muốn giết các bạn cô? Martin, Lena, Astrid?

Cô lắc đầu.

— Tôi không biết.

Wallander kéo ghế phôtơi của mình lại gần ghế của cô.

— Tuy vậy, cô có thể giúp chúng tôi. Cần phải tìm ra kẻ đã làm chuyện đó. Để làm được điều ấy, chúng tôi phải hiểu được cái gì đã thúc đẩy hắn hành động.

— Nhưng chẳng có gì để hiểu cả!

— Cô phải suy nghĩ. Ai có thể ghét các cô, cả nhóm ấy? Dính dáng đến chuyện gì? Tại sao? Chắc chắn là phải có một câu trả lời.

Đột nhiên, ông quyết định chuyển hướng. Giờ đây cô đã lắng nghe ông, ông muốn tận dụng cơ hội.

— Cô phải trả lời tôi. Cô phải nói cho tôi sự thật. Sau đó tôi sẽ xem liệu cô có nói dối không.

— Tại sao tôi lại phải nói dối?

— Khi tôi tìm thấy cô, cô gần như đã chết. Tại sao cô muốn tự tử? Có phải là cô đã biết chuyện xảy ra cho các bạn cô?

Cô tỏ ra ngạc nhiên.

— Tất nhiên là không! Tôi cũng tự đặt cho mình những câu hỏi giống hệt mọi người.

Wallander cảm thấy cô nói thật.

— Tại sao cô lại định tự tử?

— Tôi không muốn sống nữa. Tôi không thấy có lý do nào khác để mà muốn kết thúc tất cả. Bố mẹ tôi đã đập tan nát cuộc đòi tôi giống như đã đập tan nát cuộc đời Jorgen. Tôi không còn muốn sống nữa.

Wallander đợi đoạn sau. Nhưng cô chỉ im lặng. Khi đó ông quyết định quay trở lại với chuyện đã xảy ra ở khu bảo tồn. Trong gần ba giờ, ông buộc được cô quay lại với quá khứ. Ông không bỏ sót điều gì, ngay cả những chi tiết nhỏ nhất. Ông quay lại một số điểm, có khi nhiều lần. Ông đi ngược trở lại rất xa trong câu chuyện của họ. Cô gặp Lena Norman lần đầu tiên khi nào? Năm nào, tháng nào, ngày nào? Họ đã gặp nhau bằng cách nào? Tại sao lại trở thành bạn? Bằng cách nào cô trở thành bạn của Martin Boge? Khi cô khẳng định là không nhớ hoặc không chắc về một chi tiết, ông liền bắt đầu lại từ đầu. Sự do dự và lãng quên vẫn luôn có thể phải chịu khuất phục, nếu biết cách kiên nhẫn. Ở mỗi bước của cuộc thẩm vấn, ông thúc giục cô nhớ lại liệu có một ai khác đã có mặt không, thậm chí ngay cả khi cô không nhìn thấy. Một cái bóng trong một góc nào đó.

Ông nói. Kẻ nào đó vô hình, ở đó mà không ai nhận ra. Ông hỏi cô về tất cả các biến cố, các sự kiện bất ngờ nhất đã có thể xảy ra. Sau một lúc, cô hiểu ra cách làm của ông và trả lời dễ dàng hơn.

Khoảng mười bảy giờ, họ quyết định ở lại trên đảo cho đến sáng mai. Wallander gọi cho Westin để báo tin. Ông hứa sẽ đến đón họ, không hỏi câu nào về Isa. Nhưng Wallander có cảm giác ông biết cô đang ở Bamso. Sau đó, họ đi dạo trên đảo, vẫn tiếp tục nói chuyện. Thỉnh thoảng, Isa ngừng lời để chỉ cho ông những nơi mà cô từng chơi khi còn nhỏ. Họ đi đến mũi đảo, trên những tảng đá. Cô làm ông sửng sốt khi đột nhiên chỉ một cái hõm đá: cô đã mất trinh ở đây. Cô không nói rõ là với ai.

Họ quay ngược trở lại. Trời bắt đầu tối; Isa thắp những ngọn đèn dầu trong khắp ngôi nhà. Ông gọi điện thoại cho Martinsson, anh không có gì mới để báo. Vẫn chưa nhận diện được Louise. Wallander thông báo là ông sẽ ngủ đêm ở Bamso và ngày hôm sau sẽ trở về Ystad cùng Isa Edengren.

Họ dành cả buổi tối để nói chuyện.

Thỉnh thoảng, họ ngừng lời để uống trà và ăn sandwich. Hoặc chỉ để nghỉ ngơi. Nhiều lần Wallander bước ra ngoài bóng đêm và đi tiểu ở một gốc cây. Chỉ nghe tiếng xào xạc của lá, trong sự tĩnh lặng. Rồi họ tiếp tục cuộc nói chuyện. Một cách chậm rãi, dần dần Wallander bắt đầu hiểu được các trò chơi của họ. Họ đóng các vai. Họ cải trang, tổ chức những bữa tiệc, chuyển từ một thời kỳ này sang một thời kỳ khác. Khi đề cập công việc chuyển bị cho bữa tiệc cuối cùng, ngày Saint-Jean, Wallander đã vô cùng cẩn thận, vô cùng chậm rãi. Ai có thể biết được kế hoạch của họ? Không ai hết, cô nói. Ông không thể chấp nhận câu trả lời đó. Phải có ai đó biết.

— Chúng ta sẽ bắt đầu lại từ đầu. Thêm một lần nữa. Khi nào thì bọn cô quyết định tổ chức một buổi picnic theo thời kỳ của Bellman?

Họ chia tay nhau vào lúc một rưỡi sáng. Wallander mệt mỏi đến mức thấy buồn nôn. Cô vẫn chưa cung cấp được cho ông hướng đi mà ông hy vọng. Nhưng ông còn có một chặng đường dài trên xe ôtô về Ystad để tiếp tục cuộc nói chuyện. Ông không có ý định đầu hàng.

Cô bảo ông lên ngủ ở một phòng tầng trên. Cô ngủ ở tầng trệt. Cô đưa cho ông một cái đèn dầu và chúc ông ngủ ngon. Ông dọn giường và mở hé cửa sổ. Bên ngoài, trời tối đen.

Ông nằm dài ra giường và thổi tắt đèn. Ông nghe tiếng Isa đang lục sục trong bếp. Rồi tiếng một cánh cửa đóng và khóa lại. Im lặng trùm xuống.

Ông ngủ thiếp đi ngay lập tức.

Không ai nhận ra con tàu tối om cập bến ở bãi Vikfjarden vào một giờ khuya khoắt. Và không ai nghe thấy tiếng hắn khi hắn im lặng trườn vào vũng nước nhỏ ở bờ Tây hòn đảo.

không mất nhiều thời gian để phát hiện Svedberg là một nhà sưu tầm. Những chiếc giày và áo vest cũ xơ ra này hẳn đã có tuổi thọ ít nhất là hai mươi năm. Ông tiếp tục cuộc tìm kiếm của mình, một cách có hệ thống. Trong một cái vali, ông tìm
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.