Chậm Một Bước

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 42 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
28

❊ ❊ ❊

Sau này, Wallander luôn nghĩ về chuyện người phụ nữ ở cửa sổ và chuyện xảy ra sau đó như một cảnh tượng không thực. Không khí bất động, một trong những ngày tháng Tám nóng nực của năm đó, khu vườn màu xanh thẫm, Ann-Britt đứng dưới gốc một cây lê, điện thoại di động áp vào má, còn ông trên một cái ghế gỗ sơn trắng, đối diện với Lars Skander. Ann-Britt và ông đều cảm thấy ngay là đã quá muộn. Người phụ nữ sắp lao thẳng vào khoảng không, và họ không thể ngăn bà lại được. Bà sẽ rơi xuống lối đi lát đá bao quanh ngôi nhà. Bà vẫn có thể sống sót sau cú nhảy; nhưng có vẻ như là bà chủ định nhảy cắm đầu xuống đất.

Có một khoảnh khắc bất động, như thể hóa đá. Rồi Ann-Britt ném điện thoại đi, chạy vội vào nhà, trong khi Wallander lấy hết sức gào một câu mà ngay sau đó ông quên mất. Lars Skander chầm chậm đứng dậy, như thể không tin nổi vào những gì mình đang nhìn thấy. Trong lúc đó, người phụ nữ vẫn hét, người phụ nữ mẹ của cô dâu mới cưới, và sự đau đớn của bà như một viên kim cương xé toang cái ngày tháng Tám đẹp trời đó.

Đó là một tiếng hét không thể chịu đựng nổi.

Ann-Britt Hoglund chạy vào nhà trong khi Wallander đứng dưới cửa sổ, hai tay dang ra. Đột nhiên Lars Skander xuất hiện bên cạnh ông, giống như một bóng ma không chút sức lực, cái nhìn hướng về phía người phụ nữ bất hạnh đang cúi gập người ở bậu cửa sổ.

Rồi Ann-Britt hiện ra phía sau người phụ nữ và kéo mạnh bà vào bóng tối của căn phòng. Im lặng trở lại.

Lên đến tầng trên, họ thấy Ann-Britt đang ngồi dưới đất ôm người phụ nữ. Wallander đi xuống để gọi xe cứu thương. Nó đến rất nhanh. Sau khi xe đi khỏi, họ quay lại phía sau nhà. Ann-Britt nhặt điện thoại của mình từ đám cỏ lên. Wallander ngồi xuống một cái ghế trong vườn.

— Tôi vừa gặp được Martinsson thì cửa sổ mở. Hẳn là cậu ấy đang tự hỏi có chuyện gì xảy ra.

— Gọi lại cho cậu ấy đi, - Wallander nói.

Cô ngồi ở phía bên kia bàn. Một con ong bầu bay vo ve quanh họ.

Svedberg sợ ong đến bệnh hoạn. Giờ đây anh đã chết. Đó là lý do khiến họ ở đây, trong khu vườn của Lars Skander. Những người khác đã chết. Quá nhiều người.

— Tôi sẽ nói cho cậu điều tôi đang nghĩ, – Wallander lên tiếng. – Tôi sợ là hắn sẽ tiếp tục. Lúc nào tôi cũng sợ có ai đó gọi điện thoại cho tôi để nói rằng lại có chuyện xảy ra rồi. Tôi nóng lòng tìm kiếm một dấu hiệu cho thấy cơn ác mộng này sẽ sớm chấm dứt, hoặc ít nhất là chúng ta sẽ không phải cúi xuống nhìn những nạn nhân mới nữa. Nhưng tôi không tìm ra.

— Tất cả chúng ta đều thấy thế thôi.

Không có gì để thêm vào nữa. Nỗi sợ châm thẳng vào họ. Và sẽ tiếp tục giữ chặt họ trong gọng kìm cho đến khi họ tìm ra danh tánh và bắt được kẻ nào đó với sự chắc chắn là không bắt nhầm thủ phạm.

— Bà ấy suýt nhảy xuống khỏi cửa sổ, – Ann-Britt nói. – Không ai trong số chúng ta có thể hình dung nổi những gì mà bà ấy phải chịu đựng vào lúc này.

Cô gọi lại cho Martinsson, anh muốn biết chuyện gì đã xảy ra. Wallander dịch cái ghế để ngồi vào trong bóng râm và nối lại sợi dây suy tư của mình. Quyết định chụp ảnh ở Nybrostrand đã được lên vài tuần trước. Kẻ nào có thể biết được thông tin đó?

Tại sao họ vẫn chưa được thông báo gì về sự tồn tại của một người trợ lý của người thợ chụp ảnh? Sự sốt ruột gặm nhấm người ông.

Ann-Britt Hoglund hoàn thành cuộc nói chuyện với Martinsson. Rồi cô cũng chuyển chỗ vào trong bóng râm.

— Cậu ấy sẽ gọi lại. Có vẻ như là bố mẹ Wemer rất già. Cậu ấy nói là khó tưởng tượng nổi sự rụng rời và già nua lại có thể lớn đến thế.

— Rolf Haag có trợ lý nào không? Cảnh sát Malmo sẽ phải lo chuyện này. Chúng ta có thể gọi điện cho ai?

— Cậu còn nhớ Birch, người đã làm việc cùng chúng ta ở Lund hồi năm ngoái không?

— Dĩ nhiên là có!

Birch là một cảnh sát theo trường phái cũ mà Wallander đã rất thích khi được gặp.

— Bây giờ ông ấy đang ở Malmo. Tôi nghĩ là ông ấy sẽ lo chuyện này.

— Thế thì chắc chắn là ông ấy đã làm xong rồi.

Số điện thoại sở cảnh sát Malmo đã được ghi sẵn vào bộ nhớ máy điện thoại di động của ông. Ông gặp may, Birch đang có ở đó. Họ chào hỏi vài câu thân tình.

— Tôi đã báo cho Ystad, – Birch nói. – Họ chưa chuyển thông tin cho anh à?

— Chưa.

— Thế thì nghe tôi nói nhé. Rolf Haag có xưởng gần quảng trường Nobel. Anh ta chủ yếu chụp ảnh studio. Nhưng cũng làm vài cuốn sách du lịch, một về Érythrée, một về vùng Acores.

— Tôi ngắt lời anh nhé. Điều chủ yếu mà tôi muốn biết là anh ta có một người trợ lý hay không.

— Có.

Ông ra hiệu cho Ann-Britt rằng ông cần một cái bút chì. Trong túi áo sơ mi của mình, ông tìm được một tờ hóa đơn cũ.

— Anh ta tên là gì?

— Thường thì các thợ chụp ảnh có trợ lý nữ. Tôi không biết liệu điều ngược lại có đúng không.

— Cô ta tên là gì?

— Maria Hjortberg.

— Anh đã nói chuyện với cô ta chưa?

— Chưa, không thể. Từ thứ Sáu cô ta ở nhà bố mẹ ở vùng Hudiksvall, trong rừng. Không có điện thoại, và cô ta không mang theo di động. Tôi đã nói chuyện với cô gái ở cùng căn hộ với cô ta. Maria thỉnh thoảng thích được giải thoát khỏi những điều tuyệt diệu của công nghệ và vào rừng sống, không ai có thể liên lạc được. Nhưng tối nay cô ta sẽ về Malmo. Máy bay của cô ta sẽ đỗ xuống Sturup vào mười chín giờ mười lăm phút. Tôi có ý định chờ cô ta ở đó. Nhưng tôi đã tin chắc là cô ta không phải là người đã giết chết ông chủ của mình, cũng như những thanh niên kia.

Wallander đã hy vọng một câu trả lời khác. Ông nhận ra rằng sự sốt ruột và bực bội của mình đang tăng lên, điều đó khiến ông biến thành một cảnh sát tồi.

— Trước hết chúng tôi muốn biết ai biết về địa điểm mà họ sẽ chụp ảnh. Chúng tôi có những lý do để tin rằng số lượng những người đó không lớn đâu.

— Tối qua tôi đã lục tìm studio rồi. Mất một nửa đêm. Có một lá thư ngày 28 tháng Bảy, trong đó Torbjorn Wemer khẳng định địa điểm và thời gian với Haag.

— Lá thư được đánh dấu bưu điện ở đâu?

— Nó ghi Ystad.

— Bây giờ lá thư đó ở đâu?

— Trên giá sách phòng làm việc của tôi.

— Không có phong bì à? Không có dấu bưu điện à?

— Tôi nhớ đã nhìn thấy một cái túi rác trong văn phòng của studio. Có thể cái phong bì vẫn còn ở đó.

— Chúng tôi sẽ cần xem qua chỗ đó.

— Tại sao? Nếu lá thư được ghi Ystad, thì có thể đặt giả định rằng nó được đóng dấu ở cùng nơi chứ?

— Điều mà tôi quan tâm hơn cả là những dấu vết cho thấy cái phong bì đã được mở ra nhiều hơn một lần.

Birch không đòi giải thích thêm. Ông sẽ quay lại studio ngay lập tức.

Đó là một giả thuyết đầy mạo hiểm, dù sao ông cũng đáp.

— Lúc này, tôi không có giả thuyết nào khác. Quả thực, có thể điều tôi tìm kiếm nhiều hơn cả là một khẳng định ngược lại, điều sẽ cho phép tôi quên cái hướng đó đi. Nhưng việc tên giết người đó là một kẻ có rất nhiều thông tin thì vô cùng chắc chắn. Vấn đề là biết được bằng cách nào hắn lấy được những thông tin ấy.

Birch hứa sẽ gọi lại khi có tin mới. Ann-Britt và Wallander quay về Ystad. Khi đó là mười hai giờ trưa. Ông bảo cô cho ông xuống gần nhà, vì nhất thiết ông phải ăn cái gì đó. Ngoài ra, cô được mời ăn cùng, ông nói, nhưng cô từ chối.

Ông rán hai quả trứng. Rồi ông nằm lên giường. Mười ba giờ mười phút, ông quay lại sở.

Ông vào phòng, lục tìm trong đống tin nhắn điện thoại và sau đó viết một tóm tắt, thẳng một lèo, tất cả những gì đã xảy ra cho đến lúc này. Tham vọng của ông rất đơn giản. Ông muốn có một ý tưởng về những thông tin mà tên giết người nhất thiết phải có được. Cái tối thiểu mà hắn phải biết để có thể hành động. Khi đọc lại các ghi chép của mình, ông có cảm giác là có thể mình đã vứt bỏ quá nhanh giả thuyết riêng về những lá thư bị mở trộm. Ông xuống chỗ tiếp tân và hỏi cô gái làm thay Ebba vào các dịp cuối tuần có biết trung tâm lọc thư của vùng Ystad ở đâu không. Cô không biết.

— Chắc là có thể hỏi được đấy, – ông tỏ vẻ thân ái gợi ý cho cô.

— Vào một ngày Chủ nhật?

— Với chúng ta, đây cũng là một ngày làm việc như mọi ngày khác.

— Nhưng với bưu điện thì chắc là không đâu.

Suýt nữa thì Wallander nổi cáu. Nhưng ông nghĩ lại.

— Theo tôi được biết, vẫn có người đến lấy thư ở các hòm thư vào Chủ nhật, ít nhất là một lần. Điều đó có nghĩa là ở bưu điện có ít nhất một người làm việc.

Cô hứa sẽ hỏi. Wallander quay lại phòng với cảm giác rất rõ là đã làm phiền cô. Ông vừa đóng cửa phòng thì một chi tiết bỗng hiện ra trong óc ông. Trong cuộc nói chuyện với Ann-Britt, họ đã nói đến sự tồn tại của hai người đưa thư trong cuộc điều tra này. Trên thực tế là còn có một người thứ ba. Ông ngồi xuống và cố nhớ lại. Sture Bjorklund đã nói gì? Ai đó đã vào nhà ông ta. Ai đó không có việc gì để làm ở đó. Tất cả các hàng xóm đều biết ông muốn được yên tĩnh. Người duy nhất đến thường xuyên là người đưa thư.

Một người đưa thư bỏ cái kính viễn vọng của Svedberg vào kho chứa đồ của anh họ anh, ông nghĩ. Điều đó không chỉ khó tin, mà còn điên rồ nữa. Chỗ bấu víu cuối cùng, khi không còn gì khác nữa cả.

Vừa thở dài, ông vừa bắt tay vào lật giở những báo cáo khác nhau mà ông chưa có thời gian để đọc. Ông vừa bắt đầu thì Martinsson xuất hiện. Wallander bỏ đống giấy tờ lại.

— Thế nào?

— Ann-Britt đã kể cho tôi chuyện đó, mẹ cô dâu định nhảy khỏi cửa sổ. Với chúng tôi thì khác. Bố mẹ Torbjorn Wemer quá già để có thể có cách phản ứng như vậy. Nhưng bi kịch thì ở mức độ kinh khủng. Torbjorn đã nhận lại trang trại, sự tiếp nối đã được đảm bảo, thế hệ mới đã thay thế. Họ có một người con trai khác, đã chết cách đây vài năm trong một tai nạn ôtô. Giờ thì họ không còn ai nữa cả.

— Tên giết người đã không nghĩ đến chuyện đó.

Martinsson đứng gần cửa sổ. Wallander thấy anh đang bị chấn động mạnh và tự hỏi anh sẽ còn trụ vững được bao nhiêu lâu nữa. Martinsson đã lựa chọn trở thành cảnh sát với những ý định tốt đẹp nhất, vào thời kỳ cái nghề này không đặc biệt hấp dẫn những người trẻ tuổi - sau đó là đến thời kỳ cảnh sát bị khinh bỉ. Martinsson vẫn nuôi giữ tham vọng ban đầu. Anh muốn trở thành một cảnh sát giỏi. Anh đã trở thành một cảnh sát giỏi. Nhưng, trong những năm vừa qua, Wallander cảm thấy càng ngày anh càng đánh mất dần những niềm tin của mình. Liệu anh có còn tiếp tục ở trong ngành cho đến lúc về hưu không? Wallander nghi ngờ điều đó. Nhất là khi ông phải tìm ra một giải pháp thay thế…

Martinsson quay sang.

— Hắn sẽ còn tiếp tục giết người, – anh nói không vòng vo.

— Chúng ta còn chưa biết.

— Có lý do gì để hắn dừng tay không? Sự căm thù của hắn dường như là không có giới hạn. Động cơ duy nhất khả dĩ là hắn giết người vì thích thú chuyện đó.

— Cái đó thì rất hiếm đấy. Vấn đề là ở chỗ chúng ta vẫn chưa tìm ra điều gì thúc đẩy hắn.

— Tôi tin là anh nhầm.

Những lời nói của Martinsson đầy sức nặng. Với Wallander, chúng vang lên như một lời buộc tội. Chĩa thẳng vào ông.

— Tôi nhầm về điều gì?

— Cách đây vài năm, có thể tôi sẽ đồng ý với anh. Không có bạo lực tự thân, trò bạo lực nào cũng có một cách giải thích, vân vân. Nhưng ở đây thì không phải như vậy nữa. Chúng ta đã không nhìn thấy gì, nhưng tại đất nước này đã diễn ra một thay đổi. Bạo lực đã trở thành chuyện bình thường. Chúng ta đã vượt qua một giới hạn vô hình. Hàng loạt thế hệ thanh niên đang lạc lối. Không còn ai dạy họ điều gì là tốt điều gì là xấu nữa. Không còn tốt với xấu. Mỗi người đòi hỏi quyền của riêng mình. Thế thì làm cảnh sát để làm gì?

— Chỉ cậu mới có thể trả lời được câu hỏi đó.

— Thì tôi đang cố làm việc đó đây.

Martinsson ngồi xuống cái phôtơi rệu rã đối diện với Wallander.

— Anh có biết Thụy Điển đã trở thành cái gì không? Một đất nước không có luật lệ. Cách đây mười lăm hay hai mươi năm ai có thể tin rằng một chuyện như thế này có thể xảy ra không?

— Chưa đến mức ấy đâu. Tôi không đồng ý. Nhưng quả thực là mọi chuyện đang tiến triển theo đúng hướng mà cậu nói. Cũng chính vì thế mà chúng ta phải kháng cự, cậu và tôi.

— Đó là điều tôi luôn nghĩ đến. Nhưng lúc này tôi có cảm giác chúng ta đang thua.

— Không cảnh sát nào không từng có lúc nghĩ đến điều này. Mà có thay đổi được gì đâu. Chúng ta phải kháng cự. Ở đây, ngay lập tức chúng ta phải kháng cự lại thằng điên kia. Chúng ta truy đuổi hắn. Chúng ta theo dấu hắn. Chúng ta sẽ không buông. Chúng ta sẽ bắt được hắn.

— Con trai tôi cũng muốn trở thành cảnh sát. Nó hỏi tôi về cái nghề này. Tôi không bao giờ biết phải trả lời thế nào.

— Bảo nó đến gặp tôi. Tôi sẽ giải thích cho nó.

— Nó mới mười một tuổi.

— Đó là một cái tuổi thích hợp để hiểu được nhiều chuyện.

— Tôi sẽ nói với nó.

Wallander thay đổi chủ đề.

— Bố mẹ Wemer biết gì về buổi chụp ảnh?

— Không gì hết, ngoài việc nó sẽ được tiến hành sau lễ cưới ở nhà thờ và trước bữa tối.

Wallander thả rơi hai tay xuống bàn.

— Quan trọng lắm đấy. Từ nay phải tăng tốc cuộc điều tra này.

— Chúng ta đã ngập ngụa đến đầu gối rồi. Làm thế nào bây giờ?

— Chúng ta sẽ thôi không nghĩ đến đầu gối nữa.

Wallander đứng dậy.

— Họp chung vào mười lăm giờ. Cả Thurnberg nữa. Tôi muốn cậu lo chuyện này.

Martinsson gật đầu. Ra đến cửa, anh quay đầu lại.

— Anh có nghiêm túc không, về chuyện thằng con tôi ấy?

— Khi nào xong được vụ này, tôi hứa sẽ trả lời tất cả các câu hỏi của nó. Thậm chí tôi sẽ cho nó đội thử mũ quân phục của tôi.

— Anh có à? – Martinsson hỏi, vẻ ngạc nhiên.

— Chắc chắn rồi, nhưng tôi không biết nó đang ở đâu nữa.

Wallander quay lại với những bản báo cáo. Điện thoại đổ chuông. Đó là cô gái ở chỗ tiếp tân; tất cả thư từ gửi đến các quận khác nhau trong vùng đều được lọc ở trung tâm lọc thư Ystad, nằm ở khu Mejerigatan, sau bệnh viện. Wallander ghi lại số điện thoại, cảm ơn cô đã giúp đỡ và gọi ngay đến trung tâm lọc thư. Không có ai trả lời. Ông nghĩ sẽ đi bộ đến đó - có thể ở đó có kẻ không buồn nhấc điện thoại lên nghe. Nhưng ông quyết định chờ. Ông cần chuẩn bị.

• • •

Wallander đi sang phòng họp với cảm giác mình sẽ phải đối đầu với công tố viên Thurnberg. Tại sao? Kể từ cuộc trao đổi đáng tiếc của họ ở Nybrostrand, Thurnberg đã không làm gì để ông có thể hình dung ra thái độ; và ông cũng không biết đơn kiện của Nils Hagroth sẽ có kết quả như thế nào. Tuy vậy, ông cảm thấy mình đang ở trong tình trạng chiến tranh chống lại Thurnberg.

Trong cuộc họp, ông nhận ra là mình đã nhầm. Thurnberg tỏ ra ủng hộ ông mỗi khi nhóm điều tra có những dấu hiệu nghi ngờ hay chia rẽ. Có thể là ông đã phán xét ông ta quá vội vã. Cái mà ông nghĩ là sự cao ngạo phải chăng chỉ là một cách tự vệ?

Wallander mở đầu cuộc họp bằng cách nhấn mạnh điều mà ông hàm ý là một đột phá mang tính quyết định. Họ phải tập trung vào một câu hỏi duy nhất: ai có thể có được thông tin về địa điểm và giờ diễn ra buổi chụp ảnh? Đó là điều mà tất cả họ sẽ phải cùng tham gia, ngay sau khi cuộc họp kết thúc. Tất cả những chuyện khác đều có tầm quan trọng thứ yếu.

Ông phải đối mặt với cả một đợt sóng phản đối. Trước tiên là từ phía Hansson, người thấy rằng ông đang đi quá nhanh trong công việc. Rất có thể là bố mẹ Wemer có biết, nhưng đã quên mất thì sao; Malin Skander và Torbjorn Wemer có rất nhiều bạn, họ hoàn toàn có thể biết chuyện. Theo Hansson, còn quá sớm để đặt tất cả trứng vào cùng một giỏ.

Vào lúc đó Thurnberg can thiệp, bằng một lối nói ngắn gọn và chính xác. Nhìn vào tình trạng cuộc điều tra, ông cho rằng Wallander có lý. Trong những ngày tới, chính xác hơn là những giờ tới, họ sẽ phải tập trung vào cái điểm có tính chất quyết định đó: ai biết được giờ và địa điểm của buổi chụp ảnh?

Rồi Thurnberg lại rút lui vào trong cái vỏ của mình. Nhưng kể từ khi Wallander có được sự ủng hộ của công tố viên, không còn nhiều điều để bàn cãi nữa. Phần còn lại của cuộc họp được dành để xây dựng một kế hoạch hành động và phân chia công việc. Ai sẽ nói chuyện với ai? Theo thứ tự nào? Wallander sẽ phụ trách cô nữ trợ lý người sẽ xuống sân bay Sturup trong vài giờ nữa.

Họ quyết định sẽ gặp lại trong buổi tối. Trong trường hợp có phát hiện quan trọng, cuộc họp sẽ được đẩy sớm lên.

Wallander rất ngắn gọn trong kết luận của mình.

— Có thể là chúng ta sắp vượt được qua bức tường rồi. Mọi người đều biết chúng ta đang phải làm việc trong những điều kiện như thế nào, ngay cả khi chúng ta không hay nói về chuyện đó. Tên giết người rất có thể sẽ tiếp tục. Hôm nay, ngày mai, tuần sau. Chúng ta không biết sẽ có được bao nhiêu thời gian. Nếu quả thực là như vậy thì đã là quá muộn rồi.

Khi đứng dậy, Wallander nghĩ có lẽ mình nên nói một điều gì đó với Thurnberg. Nhưng gì bây giờ? Ông không nghĩ ra điều gì; ông bèn bỏ ý định.

Khi đó là mười sáu giờ ba mươi phút. Cô trợ lý của Haag sẽ xuống sân bay trong khoảng gần hai tiếng nữa. Ông thử gọi cho Birch nhưng không được.

Vậy là ông làm một việc chưa bao giờ từng làm. Ông khóa cửa phòng lại và nằm xuống đất. Ngay trước khi thiếp đi, ông nghe thấy có người gõ cửa. Ông không trả lời. Nếu muốn đủ sức để tiếp tục, ông cần ngủ được ít nhất một tiếng. Một cái đồng hồ báo thức nằm lăn lóc trong một cái ngăn kéo, ông cũng không biết vì sao nữa. Dù thế nào, nó cũng có mặt rất đúng lúc.

Ông lại mơ thấy bố mình. Những hình ảnh đầy lo lắng từ tuổi thơ hiện ra. Mùi nhựa thông. Những hình ảnh của cuộc đời ông, quay nhanh. Chuyến đi Rome. Đột nhiên, Martinsson đứng ở cầu thang quảng trường Espagna. Trông anh như một đứa trẻ nhỏ. Wallander gọi anh, nhưng Martinsson không nghe thấy. Sau đó là không gì nữa cả, giấc mơ bị cắt ngang nửa chừng.

Ông tỉnh dậy một cách khó nhọc và nghe thấy một tiếng rạn ở lưng. Ông quay chìa khóa trong ổ và lảo đảo đi vào toalet. Không có gì trên đời ông ghét hơn sự mệt mỏi gây tê liệt này. Nó làm ông trầm uất, khiến ông thấy buồn nôn. Và với tuổi tác càng ngày nó càng trở nên khó chịu đựng hơn. Ông nhúng cả mặt vào nước lạnh. Ông đi tiểu một lúc lâu. Ông tránh nhìn mình trong gương.

Mười tám giờ mười lăm phút, ông đi về hướng Sturup. Bầu trời vẫn trong vắt, không một gợn mây, ít gió. Nửa tiếng sau, ông dừng xe trước tòa nhà màu vàng của sân bay. Trong sảnh đến, ông nhìn thấy ngay dáng người cao lớn của Birch. Ông đang đứng dựa vào một bức tường, hai tay khoanh lại, và khuôn mặt sáng bừng khi nhận ra Wallander.

— Anh cũng đến à?

— Tôi nghĩ anh không nên đợi một mình.

— Có vẻ như là máy bay không bị muộn. Nhưng vẫn còn đủ thời gian uống một cốc cà phê.

— Cả chiều nay tôi đã lục tìm những cái túi đựng giấy tờ cũ, – Birch nói khi họ đã đứng trong hàng người đợi đến quầy tự phục vụ. – Có nhiều phong bì, nhưng không có cái mà anh muốn.

— Cuộc điều tra này rõ ràng là không hề gặp chút may mắn nào.

Birch lấy một cái bánh ngọt và một ít đồ ăn nhẹ cùng với tách cà phê của mình. Wallander tự buộc mình không bắt chước ông. Họ trả tiền ở két.

— Ngược lại, – Birch tiếp tục, – tôi đã gọi cho một kỹ thuật viên ở chỗ chúng tôi. Đó là một người có trí tưởng tượng rất tốt, rất hữu ích ở các hiện trường án mạng. Hakan Tobiasson. Anh đã nghe nói đến cậu ấy chưa?

Wallander lắc đầu.

— Tôi đã nói chuyện một lúc lâu với cậu ấy. Cậu ấy đang đi câu cá ở vịnh, nhưng có cầm theo điện thoại di động. Mặt khác, cá cắn câu hai lần trong khi chúng tôi nói chuyện. Tôi quên mất không hỏi là cá gì.

Họ nghe một thông tin đọc trên loa phát thanh, nhưng nó liên quan đến một chuyến bay chở hàng từ Marbella đến.

— Hakan đã nói với tôi đủ thứ kỹ thuật để mở trộm thư. Trước đây, người ta sử dụng hơi nước và kim khâu. Bây giờ thì tinh vi hơn nhiều. Cậu ấy đề nghị tôi đưa cho cậu ấy nhiều lá thư đã dán kín và quay trở lại một lúc sau. Theo cậu ấy, tôi sẽ không thể biết được cậu ấy đã mở chúng ra hay chưa.

— Chúng ta sẽ cần đến cái phong bì đó, – Wallander nhắc lại.

Birch lau miệng.

— Tôi không hiểu câu chuyện cái phong bì đó lắm. Tôi cũng tự hỏi anh làm gì ở đây, dĩ nhiên rồi. Như vậy có nghĩa là với cậu, Maria Hjortberg là một người quan trọng.

Wallander tóm tắt các sự kiện xảy ra trong hai mươi tư giờ vừa rồi. Ông vừa kết thúc thì những hành khách đầu tiên của chuyến bay mà họ đang chờ bắt đầu xuất hiện. Birch làm ông kinh ngạc khi rút từ trong túi ra một tờ giấy trên đó đã ghi thật đậm tên của Maria Hjortberg. Ông đứng ở giữa lối đi với tấm bảng của mình. Wallander đứng hơi lùi về phía sau, chờ đợi.

Maria Hjortberg là một phụ nữ rất đẹp với cái nhìn đắm đuối và mái tóc dài sẫm màu. Cô đeo một cái balô trên một bên vai. Wallander nghĩ cô vẫn chưa biết tin cái chết của Rolf Haag. Nhưng Birch đã bắt đầu giải thích tình hình cho cô. Cô lắc đầu, vẻ hoài nghi. Birch vừa đỡ lấy cái balô vừa giới thiệu Wallander. Cô không có hành lý nào khác.

— Có ai đến đón cô không?

— Tôi định đi xe bus.

— Thế thì chúng tôi sẽ chờ cô về. Chúng tôi cần nói chuyện với cô và chuyện này không thể chờ được. Hoặc ở sở cảnh sát, hoặc ở studio.

— Rolf chết thật rồi à?

— Phải, – Birch nói, – và tôi rất lấy làm tiếc. Cô là trợ lý cho anh ấy được bao lâu rồi?

— Chưa lâu lắm. Từ tháng Tư.

Thế có nghĩa là có thể với cô ta mọi chuyện sẽ không đến nỗi nặng nề lắm, Wallander nghĩ. Trừ khi giữa họ có một quan hệ nào đó.

Cô nói thích nói chuyện ở studio hơn.

— Tốt hơn hết là anh chờ cô ấy đi. Tôi còn phải gọi vài cú điện thoại.

Ông muốn nói chuyện với Nyberg. Nhưng, khi lên đến đường cao tốc Malmo, ông quyết định đợi thêm. Ngay lúc này việc quan trọng là những gì mà Maria Hjortberg có thể nói với họ.

• • •

Hai tiếng sau, Wallander hiểu là cô sẽ không giúp được họ. Họ ở trong studio, vây quanh là chân máy, đèn chiếu, gương đủ mọi kích cỡ. Cô không biết về dự định chụp ảnh ở Nybrostrand. Rolf đã nói với cô rằng anh ta sẽ phải đến dự một đám cưới vào thứ Bảy, nhưng cô cứ nghĩ là với tư cách khách mời. Về phần mình, cô đi Hudiksvall vào chiều thứ Sáu. Sáng thứ Hai, họ sẽ phải chuẩn bị một công việc mới - chụp ảnh cho một văn phòng ngân hàng vừa mở ở Trelleborg. Cô chưa bao giờ nghe nói đến cả Malin Skander lẫn Torbjorn Wemer. Cùng nhau, họ giở cuốn sổ agenda trong đó ghi lại những cuộc hẹn khác nhau. Trang ngày thứ Bảy 17 tháng Tám trống không. Tối hôm trước khi lục tìm trong studio, Birch đã lấy đống thư từ. Ông chìa cho cô xem bức thư kia; cô chưa bao giờ nhìn thấy nó.

— Anh ấy là người mở thư, – cô nói. – Tôi giúp anh ấy trong những lần chụp và sau đó, rửa và phóng ảnh, chỉ vậy thôi.

— Có ai đó đã có thể nhìn thấy bức thư này không? – Wallander hỏi. – Một người hay đến studio, ngoài cô và Rolf? Có người dọn dẹp không? Một người gác cửa?

— Chúng tôi tự dọn dẹp. Và những người mà chúng tôi chụp ảnh trong studio không bao giờ vào văn phòng.

— Như vậy là chỉ có Rolf và cô vào đây?

— Chỉ Rolf thôi. Tôi không có việc gì làm trong này cả.

— Gần đây có vụ trộm nào không?

— Không.

— Tôi đã lục trong những cái túi đựng rác, nhưng không tìm được cái phong bì đựng lá thư này.

— Rác được đổ vào thứ Hai. Rolf rất quan tâm đến sự sạch sẽ của studio.

Wallander liếc nhìn sang Birch. Không có lý do gì để nghi ngờ những lời của cô. Cuộc nói chuyện này không dẫn đến đâu cả.

— Rolf có kẻ thù không?

— Tại sao anh ấy lại có kẻ thù cơ chứ?

— Cô có nhận ra điều gì đó bất thường thời gian gần đây không? Anh ấy có lo lắng, sợ hãi gì không?

— Anh ấy vẫn như bình thường thôi.

— Quan hệ giữa hai người như thế nào?

Cô hiểu câu hỏi nhưng không tỏ ra.

— Không có gì cá nhân cả. Chúng tôi làm việc ăn ý với nhau. Anh ấy đã dạy cho tôi nhiều điều. Tôi cũng muốn trở thành thợ chụp ảnh.

— Người gần gũi với anh ấy là ai? Anh ấy có người yêu không?

— Đó là một người cô độc. Tôi không biết gì về cuộc sống riêng của anh ấy, không bao giờ anh ấy nói chuyện đó cả. Tôi không biết cô người yêu nào cả.

— Chúng tôi sẽ lục soát nhà anh ấy, – Birch nói. – Hiện tại, tôi tin là chúng tôi không còn câu hỏi nào nữa.

— Ngày mai tôi biết làm gì đây, nếu Rolf đã chết?

Cả Wallander lẫn Birch đều không trả lời được câu hỏi đó. Birch nhận đưa cô về nhà. Wallander phải quay lại Ystad. Họ chia tay nhau trên vỉa hè trước studio.

— Tôi vẫn không hiểu nổi, – cô nói. – Trong hai ngày, tôi đã ở một mình trong một ngôi nhà trong rừng. Và rồi bây giờ chuyện này…

Cô òa khóc. Birch vòng tay quanh vai cô.

— Tôi đưa cô ấy về đây, – ông nói. – Anh sẽ gọi cho tôi chứ?

— Khi nào tôi về đến Ystad. Anh đi đâu?

— Tôi sẽ đến xem xét căn hộ ngay tối nay.

Wallander kiểm tra xem đã có số di động của Birch chưa. Rồi ông quay lại xe, đỗ ở phía bên kia đường. Birch và Maria Hjortberg biến mất. Khi đó là hai mươi hai giờ ba mươi phút.

Ông chuẩn bị mở cửa xe thì điện thoại rung lên.

— Kurt Wallander?

— Tôi đây.

— Lone Kjaer ở Copenhagen. Louise đang ở quán L’Amigo. Anh muốn chúng tôi làm gì?

Wallander quyết định ngay.

— Tôi đang ở Malmo. Tôi lấy tàu và sẽ đến ngay. Nếu cô ta rời quán, tôi muốn các cô theo dõi.

— Nếu đi nhanh anh sẽ kịp chuyến tàu lúc hai mươi ba giờ. Anh sẽ đến được Copenhagen vào lúc mười hai giờ kém mười lăm phút. Tôi sẽ đợi anh ở bến.

— Đừng để mất dấu cô ta. Tôi cần cô ta.

— Chúng tôi sẽ không rời mắt khỏi cô ta. Tôi hứa.

• • •

Wallander đi về phía cảng và để xe lại.

Hai mươi ba giờ đúng, chiếc Sprinter rời bến, hướng về phía Copenhagen.

Wallander đứng ở boong trên, cái nhìn mất hút vào bóng tối. Ông tìm điện thoại di động. Nhớ ra là đã để nó ở ghế cạnh trên xe. Còn đèn pha? Ông có nhớ tắt chúng đi không? Ông hỏi một nữ tiếp viên xem có gọi điện được không.

— Rất tiếc, điện thoại đang bị hỏng.

Ông gật đầu. Chắc chắn Lone Kjaer có một cái điện thoại di động. Ông nhìn chăm chăm vào bóng tối. Ông cảm thấy sự căng thẳng đang tăng dần mức độ.

không mất nhiều thời gian để phát hiện Svedberg là một nhà sưu tầm. Những chiếc giày và áo vest cũ xơ ra này hẳn đã có tuổi thọ ít nhất là hai mươi năm. Ông tiếp tục cuộc tìm kiếm của mình, một cách có hệ thống. Trong một cái vali, ông tìm
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.