Đêm đó Wallander không sao ngủ được, về đến dưới nhà, khi bắt đầu lục túi tìm chìa khóa, sự lo lắng ào đến với một sức mạnh nhân lên gấp bội. Rất gần ông, trong bóng tối, một kẻ giết người đã hành động với rất nhiều sự cả quyết. Và giờ đây? Trong đầu hắn nghĩ gì? Hắn sẽ lại tiếp tục xuất hiện trở lại hay không? Wallander do dự, chùm chìa khóa cầm trên tay. Rồi ông quyết định bỏ nó vào trong túi áo vest và đi ra xe. Khi rời khỏi thành phố không một bóng người, ông nhét một cuộn băng cassette vào đài radio. Nhạc opera. Ông tắt ngay đi. Đêm rất yên tĩnh. Ông cần sự im lặng đó. Ông hạ cửa kính xuống và để không khí thổi đầy mặt. Sự lo lắng trào đến thành từng đợt. Ông những muốn xua đuổi sự hoang mang đó, cố bắt mình tin rằng kẻ giết người sẽ không quay trở lại nữa, nhưng không làm nổi. Mọi ý nghĩ về nghỉ ngơi đều vô ích. Tên giết người sẽ vẫn tiếp tục lảng vảng trong bóng tối cho đến khi bị tìm ra. Nhất thiết là phải bắt được hắn. Không thể có chuyện hắn gia nhập được danh sách những kẻ tội phạm không bị trừng trị vẫn ám ảnh những cơn ác mộng của ông, năm này qua năm khác, không ngừng nghỉ.
Ông nghĩ đến một sự kiện xảy ra vào đầu những năm 1980, khi ông vừa rời khỏi Malmo để đến sống ở Ystad cùng Mona và Linda. Rydberg đã gọi điện cho ông, rất muộn vào một buổi tối, nói rằng người ta vừa tìm thấy một cô gái trẻ chết trên một cánh đồng gần Borrie. Cô bị một vết thương lớn ở trán, giả thuyết về một cái chết tự nhiên có vẻ như bị loại bỏ. Họ đã đi đến đó trong đêm, đó là vào tháng Mười một. Tuyết rơi nhẹ. Cô gái đã bị giết, không còn nghi ngờ gì nữa - trên đường trở về nhà sau khi xem phim ở Ystad. Cô đã xuống bến xe bus quen thuộc và đi tắt qua cánh đồng để về trang trại nơi cô sống cùng gia đình. Không thấy cô về, bố cô đã cầm một cái đèn pin đi ra đường đợi cô; bằng cách đó mà ông đã tìm thấy cô. Cuộc điều tra kéo dài hàng năm trời. Hồ sơ dày hàng nghìn trang. Nhưng họ không bao giờ tìm ra thủ phạm, cũng như đoán ra động cơ của hắn. Dấu vết duy nhất là một cái panh xé vải bị gãy, đẫm máu, tìm thấy bên cạnh xác cô gái. Vụ giết người đó không bao giờ được làm sáng tỏ. Nhiều năm sau đó, một tối Rydberg vào phòng Wallander và nói về cô gái. Ông vừa có một ý nghĩ muốn chia sẻ. Wallander biết là thỉnh thoảng ông dành cả kỳ nghỉ cuối tuần ngồi ở sở cảnh sát đọc lại nhiều đoạn trong hồ sơ. Ông không bao giờ chịu thôi tìm cách phá vụ án đó. Vào cuối đời, khi sắp chết vì bệnh ung thư ở bệnh viện, lại một lần nữa ông nhắc đến cô gái nằm chết trên cánh đồng. Wallander đã hiểu được thông điệp: Rydberg yêu cầu ông không được quên cô. Ông chết đi, có thể là một ngày nào đó Wallander sẽ tìm được chìa khóa để giải câu đố. Kể từ cái chết của Rydberg, ông chưa bao giờ xuống kho lưu trữ để đọc hồ sơ. Hiếm khi ông nghĩ đến cô gái bị giết. Nhưng ông không quên cô. Thỉnh thoảng, cô gái vẫn hiện ra trong những giấc mơ của ông. Vẫn luôn là hình ảnh đó: Wallander cúi xuống cô, có thể có thêm Rydberg ở hậu cảnh, cô nhìn ông, nhưng cô bị tê liệt và không thể nói gì.
Wallander rời khỏi đường cao tốc. Mình không muốn cả đời bị ám ảnh bởi cái chết của ba thanh niên đó, ông nghĩ. Cũng như bởi cái chết của Svedberg. Phải tìm được kẻ hoặc những kẻ đã làm chuyện đó.
Ông dừng lại trước lối vào khu bảo tồn. Một chiếc xe cảnh sát đỗ trên bãi. Wallander ngạc nhiên khi nhận ra Edmundsson.
— Con chó của anh đâu rồi?
— Ở nhà. Tại sao lại bắt nó phải ngủ trong xe ôtô?
Wallander đồng ý. Quả thực là không có lý do nào.
— Bình thường chứ?
— Ngoài Nyberg và những người canh khu vực cấm, không có ai cả.
— Nyberg quay lại rồi à?
— Ông ấy vừa đến nơi.
Cả ông ấy cũng vậy, Wallander nghĩ, sự lo lắng không buông tha ông ấy. Lẽ ra mình không cần ngạc nhiên vì điều này.
— Thật là nóng đối với một tháng Tám, – Edmundsson nói thêm.
— Đừng lo, mùa thu sắp đến rồi.
Ông bật đèn pin và nhảy qua sợi dây nylông ngăn lối vào.
Ông đi sâu vào trong.
• • •
Gã đàn ông đã ở đó một lúc lâu. Ngay khi trời tối, gã đã chui vào khu bảo tồn, đi từ phía biển để không thu hút sự chú ý của cảnh sát. Gã đã đi dọc theo bờ biển, trèo qua những tảng đá, biến mất vào giữa đám cây cối. Gã không thể loại trừ khả năng có chó; do đó gã đã phải đi đường vòng rất xa và chỉ dừng lại khi đã đến được lối đi chính dẫn vào phần hoang dã của khu bảo tồn. Từ đó, gã có thể dễ dàng quay lại đường nếu một con chó đánh hơi thấy. Nhưng gã không lo lắng. Làm sao họ có thể đoán được là gã sẽ quay lại?
Náu mình trong bóng tối, gã quan sát những cảnh sát đi lại theo lối đi. Nhiều chiếc xe đã đi qua. Gã cũng nhìn thấy hai người phụ nữ. Nhiều người rời khỏi khu bảo tồn vào cùng một thời điểm, khoảng hai mươi hai giờ. Gã lợi dụng lúc đó để uống một ít trà. Chỗ trà mà gã mới đặt mua từ Thượng Hải đã đến nơi; gã sẽ đi lấy ở bưu điện ngay sáng sớm ngày mai. Sau khi để cái bình Thermos vào lại trong balô, gã chậm rãi tiến lại gần nơi đã giết họ. Vào lúc đó, gã đã chắc chắn được rằng lũ chó đã đi khỏi. Gã nhanh chóng nhìn thấy những ngọn đèn chiếu đang tỏa ra một thứ ánh sáng không thật trong khu rừng. Như thể, gã nghĩ, mình đang xem miễn phí một vở kịch không mở cửa bán vé. Gã có ham muốn lại gần thêm nữa để nghe được các cảnh sát nói gì với nhau. Và nhìn thấy mặt họ. Nhưng gã kiềm chế được ý muốn đó. Như mọi khi. Không kiểm soát được bản thân thì sẽ không bao giờ có thể chắc chắn sẽ kịp thời thoát ra.
Những cái bóng đang diễn kịch trong ánh sáng của những ngọn đèn chiếu.
Các cảnh sát giống như những tên khổng lồ. Ấn tượng giả tạo, gã biết rõ điều đó. Đám cảnh sát đang lạc lối giống như những con côn trùng mù quáng lạc vào một thế giới không thể đoán định. Một thế giới do gã tạo ra. Trong một lúc, gã tự cho phép mình cảm thấy hài lòng. Nhưng kiêu ngạo là một đức tính nguy hiểm. Kiêu ngạo khiến người ta dễ sai lầm.
Gã quay lại điểm xuất phát của mình. Gã vừa quyết định về nhà thì nhìn thấy một người đàn ông đơn độc xuất hiện trên lối đi. Cái đèn pin chiếu sáng đường đi và, trong một lúc, gã nhìn rõ mặt ông. Gã nhận ra ông. Ảnh ông từng được đăng trên báo. Ông tên là Nyberg, phụ trách kỹ thuật của cảnh sát Ystad. Gã mỉm cười với ý nghĩ tay Nyberg này sẽ không bao giờ hiểu được trò chơi ghép hình đang được bày ra trước mắt. Có thể là ông ta sẽ tìm ra được một số mảnh khác nhau, nhưng không bao giờ thấy được toàn bộ bức tranh ẩn giấu đằng sau.
Gã chuẩn bị băng qua đường thì lại nghe thấy tiếng bước chân. Rồi ánh sáng của một ngọn đèn hiện ra. Gã lùi vào bóng tối. Người đàn ông này to béo, bước đi để lộ sự mệt mỏi. Thêm một lần nữa, gã cảm thấy ham muốn được nhận ra, lướt qua thật nhanh bên cạnh người đàn ông đó như một con thú ăn đêm trước khi biến mất, bị bóng tối nuốt chửng.
Đột nhiên người đàn ông đứng sững lại và lia đèn dọc theo hàng cây bụi bên lối đi. Trong một lúc - đã chuyển hóa thành một nỗi khiếp sợ lớn lao - gã nghĩ mình đã bị nhìn thấy. Gã không thể trốn được nữa. Rồi quầng sáng xa dần. Người đàn ông tiếp tục bước đi. Gần như ngay lập tức, ông ta quay, lại và rọi đèn vào lối đi đằng sau mình. Rồi đèn tắt. Người đàn ông đứng im trong bóng tối. Cuối cùng đèn lại bật lên và ông ta biến mất.
Một lúc lâu, gã nằm dán chặt xuống mặt đất. Tim gã nhảy bật lên. Tại sao người đàn ông trên lối đi đó lại đứng im? Mặc dù gã không hề gây ra tiếng động nào hết; gã không hề để lại dấu vết nào hết.
Gã đứng như vậy bao nhiêu lâu? Lần đầu tiên, cái đồng hồ bên trong của gã loạn nhịp. Có thể là một giờ, có thể là hơn. Cuối cùng gã đứng dậy, đi qua đường và biến mất về phía biển. Ngày bắt đầu ló rạng.
• • •
Wallander nhìn thấy từ xa ánh sáng của những ngọn đèn chiếu đang soi sáng những cái cây. Không lâu sau đó, ông nghe thấy giọng nói mệt mỏi và tức tối của Nyberg. Một cảnh sát đang đứng hút thuốc trên lối đi.
Ông dỏng tai lên. Linh cảm đó từ đâu đến? Có thể là từ những ý nghĩ của chính ông, một lúc trước trong xe ôtô, về cái bóng vô hình đó, tên giết người trốn trong bóng tối đó. Đột nhiên, ông tưởng như mình nghe thấy một tiếng động. Ông dừng lại trên đường, đột nhiên thấy sợ hãi. Không có gì cả. Ông lại đứng yên, lần này tắt đèn đi, và cố gắng lắng nghe bằng tất cả sức lực của mình. Nhưng không nghe thấy gì cả, ngoài tiếng sóng biển vọng tới.
Ông tiếp tục bước đi và chào người cảnh sát đang hút thuốc. Khi nhìn thấy ông, anh ta định dụi điếu thuốc; Wallander ra hiệu tỏ ý không có vấn đề gì. Họ đang ở bên ngoài khu được những cái đèn chiếu rọi ánh sáng tới. Người cảnh sát còn trẻ: Bemt Svensson, một anh chàng tóc đỏ cao lớn có mặt ở Ystad từ sáu tháng nay. Wallander chưa bao giờ làm việc với anh ta, nhưng còn nhớ từng bắt tay anh ta ở trường đào tạo cảnh sát Stockholm, nơi ông đến dạy một lần cách đây một năm.
— Không có chuyện gì chứ?
— Tôi nghĩ là có một con cáo ở góc kia.
— Tại sao anh lại nghĩ thế?
— Tôi có cảm giác đã nhìn thấy một cái bóng to hơn một con mèo.
— Ở Scanie không có cáo. Chúng đã biến mất cùng bệnh dịch hạch.
— Dù vậy tôi vẫn nghĩ đó là một con cáo.
Wallander gật đầu.
— Nhất trí. Đó là một con cáo.
Ông bước vào vùng ánh sáng và cẩn thận trượt xuống dưới bờ dốc. Nyberg ngắm nhìn cái cây nơi người ta tìm thấy ba thanh niên ở dưới gốc. Giờ đây mảnh vải màu xanh đã được mang đi. Ông nhăn mặt khi nhìn thấy Wallander.
— Anh làm gì ở đây thế? Lẽ ra anh phải ngủ. Ai đó cần phải có đủ sức để tiếp tục.
Giọng Nyberg khàn đi vì mệt mỏi.
— Tôi biết. Nhưng tôi không ngủ được.
— Tất cả mọi người đều cần đi ngủ.
— Đúng thế, – Wallander nói. – Và cái loại chuyện này lẽ ra không được xảy ra.
Họ im lặng và nhìn một cảnh sát trong bộ quần áo lao động đang đào đất quanh cái cây bằng một cái xẻng nhỏ xíu.
— Tôi làm cảnh sát đã được bốn mươi năm rồi, – đột nhiên Nyberg nói. – Trong hai năm nữa tôi có thể xin nghỉ hưu, nếu muốn.
— Rồi anh sẽ làm gì?
— Có thể là loanh quanh thôi. Nhưng ít nhất thì tôi sẽ không phải thức đêm ở trong rừng cùng với mấy cái xác trẻ trung sắp phân hủy hết đó.
Wallander nhớ lại những lời của chủ ngân hàng Sundelius. Trước đây, sáng nào tôi cũng đi làm. Giờ thì tôi chỉ loanh quanh thôi.
— Anh sẽ tìm được một việc gì đó thôi, – ông nói giọng khích lệ.
Nyberg lẩm bẩm một câu trả lời không thể hiểu nổi.
Wallander ngáp dài. Rồi ông lắc đầu để xua đi sự mệt mỏi.
— Thật ra là tôi đến để chuẩn bị cho đoạn sau.
— Tìm kiếm, phải không?
— Nếu chúng ta không nhầm, hẳn là phải có thể suy ra được chỗ hắn đã giấu mấy cái xác.
— Chúng ta không biết liệu hắn có một mình hay không.
— Tôi thì nghĩ là đúng. Thật khó tin có hai người hợp tác cùng nhau để thực hiện cuộc thảm sát đó. Thêm nữa, chúng ta đặt giả định đó là một người đàn ông. Hiếm khi có người phụ nữ nào giết người bằng một viên đạn vào trán lắm. Nhất là thanh niên.
— Anh quên mất chuyện đã xảy ra hồi năm ngoái rồi à?
Đúng vậy. Năm trước, họ đã phải đối mặt với một cuộc điều tra nhiều cái chết, và cuối cùng là phải bắt giữ một người phụ nữ. Nhưng điều này không mảy may làm thay đổi ý kiến của Wallander.
— Chúng ta đang phải tìm kiếm một kẻ như thế nào? Một kẻ loạn óc cô độc chăng?
— Có thể. Không nhất thiết.
— Dù sao thì đó cũng có thể là một điểm xuất phát.
— Chính xác. Hắn ta chỉ có một mình. Hắn ta phải giấu ba cái xác. Sẽ phải tính toán như thế nào? Sẽ phải làm gì?
— Hắn sẽ phải rút ngắn hết mức khoảng cách phải đi. Vì những lý do thực tiễn. Hẳn là hắn buộc phải tự vác mấy cái xác. Trừ khi hắn có một cái xe đẩy, nhưng cái đó có thể thu hút sự chú ý. Tôi cho là chúng ta đang vớ phải một kẻ rất thận trọng.
— Và còn phải làm nhanh nữa. Hắn ở một nơi mở cửa cho mọi người. Lại là mùa hè. Có thể có người, ngay cả vào buổi đêm.
— Như vậy là hắn phải chôn họ ở gần đây.
— Nếu đặt giả thuyết hắn chôn họ. Còn có các khả năng khác nữa không?
— Hắn có thể treo họ lên một cái cây nếu có ròng rọc. Nhưng trong trường hợp đó, mấy cái xác phải bị hư hại nặng nề hơn nhiều.
Một ý nghĩ chạy qua óc Wallander.
— Anh có cảm giác những cái xác bị bọn thú chạm vào không? Chẳng hạn như là mỏ chim?
— Không. Nhưng chỉ các bác sĩ pháp y mới nói rõ được.
— Điều đó cho thấy rất có khả năng họ đã bị chôn. Nhưng bọn thú cũng đào đất chứ. Chúng ta có thể hình dung là mấy cái xác được bảo vệ cẩn thận. Trong hòm hoặc túi nhựa.
— Tôi không biết nhiều về ảnh hưởng của nhiệt độ lên tốc độ phân hủy. Dù thế nào đi nữa, những cái xác được bảo quản tại một nơi khép kín sẽ có quá trình phân hủy khác với những cái xác tiếp xúc trực tiếp với đất. Nói một cách khác, có thể họ ở đó từ lâu hơn là chúng ta nghĩ.
Wallander cảm thấy chi tiết này có thể mang tính quyết định.
— Điều đó dẫn chúng ta tới kết luận gì?
Nyberg dang hai tay.
— Hẳn là hắn đã không leo dốc, – ông chỉ bờ dốc.
— Và cũng không đi qua đường, trừ khi bắt buộc phải làm vậy.
Họ quay lưng lại bờ dốc và nhìn vào bóng tối phía bên ngoài những quầng sáng đang thu hút những con côn trùng nhảy múa.
— Bờ dốc tiếp tục ở phía trái, – Nyberg nói. – Nhưng, lại có một cái dốc khác ngay sau đó. Tôi không nghĩ là ở đó, cái dốc gần quá.
— Còn nếu đi thẳng?
— Đất bằng. Bụi cây dày. Bụi rậm.
— Bên phải?
— Trước tiên là bụi cây. Nhưng không dày lắm. Rồi đến rêu, mùa đông biến thành đầm lầy. Rồi lại những bụi cây.
— Chắc là ở đó rồi. Đi thẳng hoặc bên phải.
— Bên phải, – Nyberg nói. – Tôi quên mất một chi tiết. Nếu đi thẳng tiếp, sẽ đến một lối đi. Nhưng đó chưa phải là điều quan trọng nhất.
Ông gọi người cảnh sát mặc bộ đồ lao động đang đào đất dưới gốc cây.
— Nói xem anh đã tìm thấy gì khi tìm kiếm ở vùng đất thẳng trước mặt đi, – ông nói.
— Có không ít nấm.
Wallander đã hiểu.
— Hắn sẽ phải tránh một góc nhiều nấm, chỗ đó có thể thu hút nhiều người, ngay cả vào mùa hè?
Nyberg gật đầu.
— Tôi thích nấm lắm, và tôi đến những chỗ có nhiều, ngay cả khi không phải là mùa có nấm.
Người cảnh sát tiếp tục công việc của mình.
— Chúng ta sẽ bắt đầu từ bên phải, – Wallander kết luận. – Ngay khi có đủ ánh sáng. Chúng ta sẽ tìm một nơi đất có vẻ đã bị đào lên.
— Đấy là trong trường hợp chúng ta đúng. Cũng có khả năng chúng ta nhầm lẫn toàn bộ.
Wallander không có đủ sức để trả lời. Ông quyết định quay lại xe ngủ vài giờ. Nyberg đi cùng ông đến lối đi.
— Lúc nãy khi đến đây tôi có cảm giác là có ai đó, – Wallander nói. – Và Svensson thì nghĩ là đã nhìn thấy một con cáo.
— Người bình thường gặp ác mộng khi ngủ. Còn chúng ta thì sống trong ác mộng ngay cả khi thức.
— Tôi sợ hắn sẽ tái phạm.
Nyberg suy nghĩ trước khi trả lời.
— Dù thế nào thì chúng ta cũng biết là trước đó hắn chưa hề hành động. Kiểu giết người, mà đúng hơn là kiểu hành hình này không giống với bất kỳ điều gì từng được biết đến ở cái đất nước này. Nếu không thì chúng ta đã phải biết rồi.
— Dù vậy Martinsson cũng phải đưa thông tin ra nước ngoài để xem có điều gì tương tự ở các nước khác không.
— Anh sợ là chuyện sẽ tái diễn à?
— Anh thì không?
— Lúc nào tôi cũng lo lắng. Nhưng, ngay từ đầu, tôi đã có cảm giác điều xảy ra ở đây sẽ không thể lặp lại.
— Tôi hy vọng là anh có lý. Vài tiếng nữa tôi sẽ quay lại.
Wallander quay về xe của mình ở lối vào khu bảo tồn. Cảm giác có ai đó không xuất hiện trở lại. Về đến xe, ông cuộn tròn trên băng ghế sau và thiếp đi ngay lập tức.
• • •
Khi ông tỉnh dậy, trời đã sáng bạch. Ai đó vừa gõ vào cửa kính. Ông nhận ra khuôn mặt Ann-Britt Hoglund và khó nhọc chui từ trong xe ra. Cả người ông đau nhức.
— Mấy giờ rồi?
— Bảy giờ.
— Tôi đã ngủ quá lâu. Lẽ ra đã phải bắt đầu đào đất rồi.
— Họ chỉ làm việc đó thôi mà. Chính vì vậy mà tôi đánh thức cậu dậy. Hansson đang đến.
Họ đi qua khoảnh rừng thưa, rảo bước chân. Wallander không thể tự ngăn mình càu nhàu.
— Tôi ghê tởm cái chuyện đó, ngủ trong một cái xe ôtô và bắt đầu một ngày theo cách ấy, không tắm rửa, không cạo râu. Tôi già quá rồi. Làm sao có thể suy nghĩ được khi chưa có lấy cả một cốc cà phê?
— Đừng lo lắng chuyện đó nữa đi. Ngay cả khi cảnh sát không dự tính đến bình Theratos, thì tôi cũng vẫn mang theo một cái. Thậm chí nếu muốn, cậu còn có thể ăn bánh nữa.
Wallander bước nhanh thêm, nhưng ông vẫn có cảm giác cô đi nhanh hơn ông. Điều đó làm ông thấy tức tối. Họ đi qua trước nơi ông đã cảm thấy có ai đó trong bóng tối, vài giờ trước đó. Ông đứng sững lại và nhìn xung quanh. Đột nhiên, ông nhận ra đó là một nơi lý tưởng để theo dõi những người đi lại trên lối đi. Ann-Britt ngạc nhiên nhìn ông. Wallander không đủ sức giải thích. Ông vừa có một quyết định.
— Giúp tôi một việc với, – ông nói. – Bảo Edmundsson mang con chó của cậu ấy đến đây và dò xét trong khoảng hai mươi mét tính từ lối đi.
— Tại sao?
— Bởi vì tôi yêu cầu cậu ấy làm việc đó. Hiện giờ thì chỉ nói được vậy thôi.
— Nhưng cậu ấy phải tìm cái gì?
— Tôi không biết. Một cái gì đó lẽ ra không được phép ở đó.
Cô không gặng hỏi nữa. Ông đã bắt đầu hối tiếc vì không biết cách giải thích rõ ràng hơn. Đã quá muộn. Cô chìa cho ông một tờ báo. Bức ảnh của người phụ nữ có tên Louise nằm ngay trên trang nhất. Ông liếc tên mấy bài báo.
— Ai lo việc này?
— Martinsson sẽ lọc thông tin nhận được.
— Quan trọng đấy.
— Cậu ấy có thói quen làm mọi việc rất kỹ càng.
— Không phải lúc nào cũng vậy.
Giọng của ông trở nên gây gổ. Ông không có lý do nào để đổ lên đầu Ann-Britt toàn bộ sự mệt mỏi dồn tụ lại của mình, nhưng hiện giờ ông không có ai khác ngoài cô. Mình sẽ xin lỗi sau, ông cáu kỉnh nghĩ. Khi tất cả mọi chuyện đã kết thúc.
Cùng lúc đó, ông nhận ra từ xa một người chạy bộ buổi sáng đang tiến lại gần trên lối đi. Ông phản ứng ngay tức khắc.
— Cái gì thế này? Thế còn dây ngăn? Ngoài chúng ta, không được phép để cả một con mèo vào đây.
Ông đứng giữa lối đi và chờ đợi. Người đang chạy, một người đàn ông khoảng ba mươi tuổi, phone nghe nhạc đeo ở tai, định chạy vòng để tránh. Wallander nắm lấy cánh tay anh ta. Rồi tất cả diễn ra rất nhanh. Người đàn ông, nghĩ là mình bị tấn công, quay ngoắt lại và tung một cú đấm bất ngờ. Wallander gục xuống lối đi. Vài giây sau khi tỉnh lại, Ann-Britt Hoglund đã tóm được kẻ vừa đấm ông và quặt tay anh ta ra sau lưng. Tai nghe nhạc, vẫn cắm vào máy nghe, rơi xuống bên cạnh Wallander, và ông kinh ngạc nhận ra một bản opera. Vài cảnh sát mặc đồng phục, được Ann-Britt báo động, chạy tới và còng tay anh ta lại. Trong lúc đó, Wallander đã đứng lên được, một cách thận trọng. Ông đã cắn vào lưỡi và quai hàm đau nhức. May mà không có cái răng nào bị gãy. Ông nhìn chăm chăm người đàn ông vừa đánh ông.
— Lối vào bị chặn. Anh làm cách nào mà vào được?
— Bị chặn?
Anh ta có vẻ ngạc nhiên một cách chân thành.
— Ghi tên anh ta lại và thả anh ta ra, Wallander nói với các cảnh sát. Và không để cho bất kỳ ai đi vào nữa.
— Tôi sẽ khiếu nại.
Wallander, đã quay đầu đi để sờ nắn cái miệng, chậm rãi quay lại.
— Họ anh là gì?
— Hagroth.
— Tên?
— Nils.
— Và anh khiếu nại điều gì?
— Tôi chạy, tôi không làm hại ai và tôi bị hành hung.
— Nhầm. Chính tôi mới bị hành hung, chứ không phải anh. Tôi là cảnh sát và tôi buộc phải bắt anh vì anh đã đi vào một khu vực cấm.
Người đàn ông định phản đối. Wallander giơ tay lên.
— Anh có thể phải ngồi tù một năm. Đả thương cảnh sát đang thi hành công vụ. Nghiêm trọng đấy. Hơn nữa, anh có nghĩa vụ phải tôn trọng lệnh của cảnh sát. Anh đang ở trong một khu vực cấm. Cái đó hơn một năm; cái đó là ba năm. Và anh không được phép trả tiền tại ngoại đâu. Anh đã bao giờ bị kết án chưa?
— Dĩ nhiên là chưa.
— Thế thì chỉ ba năm thôi. Nhưng nếu anh quên chuyện này đi và không thò mặt ra đây nữa, tôi sẽ xem xét có thể làm được gì.
Người đàn ông lại định phản đối. Wallander giơ ngay tay lên.
— Anh có mười giây để quyết định.
Người đàn ông gật đầu.
— Tháo còng cho anh ta, đưa anh ta ra cửa khu bảo tồn và ghi địa chỉ của anh ta lại.
Wallander tiếp tục đi. Má ông đau, nhưng cú sốc đã xua đi sự mệt mỏi. Ann-Britt đuổi kịp ông trên lối đi.
— Anh ta sẽ không bao giờ chịu án ba năm vì chuyện đó cả!
— Tôi biết làm sao được. Và tôi không nghĩ anh ta sẽ tìm cách kiểm tra đâu.
— Đây chính xác là loại sự cố mà cấp trên của chúng ta cố tránh, – cô nói, giọng mỉa mai. – Điều đó có thể làm hư hại lòng tin của người dân.
— Chuyện ấy chẳng là gì nếu đặt cạnh những gì có thể xảy ra nếu chúng ta không tìm được kẻ đã giết Boge, Norman và Hillstrom. Và cả một đồng nghiệp của chúng ta nữa.
Đến nơi, Wallander lấy một cốc cà phê và đi tìm Nyberg, lúc đó đang chuẩn bị tìm kiếm. Mắt Nyberg đỏ ngầu; ông bù xù và vô cùng tức giận.
— Lẽ ra tôi không phải lo tất cả những chuyện này! Mẹ kiếp, những người khác đâu hết rồi? Còn anh nữa? Tại sao anh lại chảy máu thế kia?
Bằng bản năng, Wallander giơ tay lên. Khóe môi ông có vết máu.
— Tôi vừa đánh nhau với một tay chạy bộ. Hansson sắp đến rồi.
— Với cái gì?
— Chúng ta sẽ nói chuyện đó sau.
Ông đến nơi Ann-Britt đang đứng và kéo cô ra một chỗ.
— Tôi để cậu tổ chức công việc nhé, – ông nói. – Chúng tôi đi tìm một nơi ba cái xác có thể đã được chôn xuống. Nyberg và tôi đều nghĩ là có một chỗ như thế.
Bảy giờ rưỡi, bầu trời trong suốt. Không có nguy cơ trời mưa Wallander nghĩ. Càng tốt. Những dấu vết sẽ còn nguyên.
Hansson xuất hiện và trượt xuống bờ dốc. Anh cũng có vẻ kiệt sức như những người khác.
— Cậu biết hôm nay dự báo thời tiết như thế nào không?
Hansson đã nghe chương trình thời tiết ở trong xe.
— Không mưa. Hôm nay và cả ngày mai nữa.
Wallander tóm tắt nhanh tình hình. Việc Ann-Britt và Hansson xuất hiện khiến sự có mặt của ông trở nên không cần thiết. Nếu, về phần mình, Martinsson điều hành công việc ở sở, ông sẽ được tự do lo những vấn đề khác cấp bách hơn.
— Trên mặt anh có vết máu, – Hansson nói.
Wallander không trả lời và bấm số điện thoại của Martinsson.
— Tôi đến đây, – ông nói với anh. – Hansson và Ann-Britt sẽ ở lại đây.
— Có kết quả gì không?
— Vẫn còn quá sớm. Khi nào chúng ta có thể gặp được ai đó ở Lund?
— Tôi có thể thử ngay bây giờ.
— Làm đi. Và nói với họ là rất gấp. Cái mà chúng ta muốn nhất là giờ giấc tương đối. Nếu họ có thể cung cấp cho chúng ta tiến trình xảy ra vụ án thì càng tốt nữa.
— Tại sao?
— Tôi không biết liệu điều đó có quan trọng không. Nhưng nếu quả là vậy, tên giết người chỉ muốn giết một trong ba thanh niên thôi.
Martinsson hiểu ra và hứa sẽ gọi ngay cho Lund. Wallander cho điện thoại di động vào túi.
— Tôi về Ystad đây, – ông nói. – Báo cho tôi ngay khi nào có tin gì mới.
Trên lối đi, ông gặp Edmundsson và con chó của anh. Hẳn Ann-Britt Hoglund đã gọi thẳng cho anh, trong lúc Wallander không để ý. Và Edmundsson cũng đã hành động rất nhanh.
— Cậu mang chó đến bằng máy bay trực thăng đấy à? – ông hỏi.
— Một đồng nghiệp đã ghé qua mang nó theo. Chính xác thì anh muốn gì?
Wallander giải thích.
— Không tìm gì đặc biệt à?
— Tất cả những gì lẽ ra không được phép ở đó. Nếu tìm thấy gì thì báo ngay cho Nyberg. Khi nào xong, anh có thể đến giúp những người khác. Họ đang tìm nơi để đào.
Edmundsson tái mặt.
— Có những cái xác nữa à?
Wallander nhảy dựng. Khả năng này thậm chí còn chưa lướt qua óc ông. Rồi ông tự yên tâm với ý nghĩ chuyện đó thật khó tin.
— Không. Chúng ta tìm một cái hố nơi có thể mấy cái xác đã được giấu.
— Trong khi chờ đợi điều gì?
Wallander đi khỏi mà không trả lời. Edmundsson có lý, ông nghĩ. Trong khi chờ đợi điều gì? Tại sao kẻ giết người lại muốn giấu mấy cái xác? Trước khi lôi chúng lên? Chúng ta đã cố gắng tìm cách có được một câu trả lời khả dĩ. Nhưng có thể là câu hỏi đó còn quan trọng hơn chúng ta từng nghĩ.
Ông về đến xe, cái quai hàm còn đau hơn. Ông chuẩn bị nổ máy thì điện thoại đổ chuông.
Trả lời của Lund, Wallander nghĩ khi nhận ra giọng Martinsson. Ngay lập tức, ông cảm thấy sự căng thẳng tăng lên.
— Họ đã nói gì?
— Ai?
— Cậu không gọi cho Viện pháp y Lund à?
— Không. Tôi vừa nhận được một cú điện thoại khác.
Đột nhiên Wallander nhận ra sự lo lắng trong giọng nói của Martinsson.
Ôi không, ông nghĩ. Đừng có thêm một nạn nhân mới nữa. Chúng ta sẽ không đủ sức.
— Bệnh viện gọi, – Martinsson nói. – Có vẻ như là Isa Edengren trốn rồi.
Bảng đồng hồ trong xe chỉ tám giờ ba phút. Thứ Hai ngày 12 tháng Tám.