Chậm Một Bước

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 70 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
23

❊ ❊ ❊

Tòa nhà nằm ở lối vào thành phố. Nó nằm trong quần thể sáu tòa nhà cao bốn tầng giống hệt nhau. Nhiều năm trước, Wallander đã đến Lund cùng Linda, và cô đã chỉ cho ông những tòa nhà này, chỗ ở của sinh viên, nói rằng có thể cô sẽ ở đây nếu quyết định học ở thành phố. Rùng mình, ông tự hỏi mình sẽ phản ứng thế nào nếu tìm thấy Linda trong số những thanh niên ở khu bảo tồn.

Ông không cần phải tìm số tòa nhà; một chiếc xe cảnh sát đỗ ngay trước lối vào. Wallander cho điện thoại di động vào túi áo vest và xuống khỏi xe. Một người phụ nữ đang nằm phơi nắng trên một bãi cỏ. Wallander rất sẵn lòng nằm xuống bên cạnh cô để ngủ một lúc. Sự mệt mỏi trào lên thành từng đợt. Người cảnh sát đứng gác trước cửa ngáp dài và hờ hững đưa tay chỉ cho ông cầu thang.

Tầng trên cùng, không có thang máy.

Rồi anh ta tại ngáp. Wallander cảm thấy một ham muốn bất chợt được chỉnh cho anh ta một trận. Dù thế nào đi nữa, cấp bậc của ông cũng cao hơn, ông lại là đồng nghiệp đến từ một thành phố khác, và họ đang truy tìm một tên giết người đã gây năm án mạng. Vì thế ông không hề muốn nhìn thấy những cảnh sát ngáp vặt và không đủ cả sức để nói một câu chào.

Nhưng ông không nói gì. Ông trèo lên cầu thang. Ngoài một căn hộ phát ra tiếng nhạc bật rất to, cả tòa nhà có vẻ bị bỏ hoang. Ông nhớ ra đang là tháng Tám, học kỳ mới còn chưa bắt đầu. Cửa nhà Lena Norman mở hé, nhưng ông vẫn bấm chuông.

Ann-Britt ra mở cửa cho ông. Ông cố căn cứ vào biểu hiện của cô để đoán điều gì đang chờ đợi mình. Nhưng không được.

— Xin lỗi vì cái giọng đầy kịch tính ở điện thoại nhé. Nhưng tôi nghĩ là cậu sẽ hiểu.

Ông đi theo cô. Căn hộ không được thông gió đã từ lâu. Trong nhà trôi nổi một thứ mùi khô khốc khó tả mà ông thường xuyên nhận ra trong những tòa nhà xi măng hiếm khi mở cửa sổ. Ông nhớ đến một bài báo đăng trên một tạp chí cảnh sát Mỹ: FBI đang phát triển các phương pháp xác định chính xác một tòa nhà không được thông gió từ bao nhiêu thời gian. Ông không biết liệu Nyberg đã từng nghiên cứu kỹ thuật đó hay chưa.

Thêm một lần nữa, ông nhớ ra là mình phải trả tiền cho Edmundsson.

Căn hộ gồm hai phòng và một bếp nhỏ. Ann-Britt dẫn ông vào phòng khách đồng thời là phòng làm việc. Căn phòng ngập trong ánh nắng; bụi bay tứ tung trong ánh sáng. Ann-Britt chỉ cho ông một bức tường treo nhiều ảnh. Ông tìm kính và tiến lại gần. Ông nhận ra cô ngay: Lena Norman, ăn mặc cải trang. Bức ảnh được chụp ngoài trời, trong khu vườn của một lâu đài có mặt tiền bằng gạch đỏ. Bữa tiệc có vẻ như lấy cảm hứng từ thế kỷ mười chín. Martin Boge cũng có mặt. Bức ảnh thứ hai: một bữa tiệc khác, kiểu trang trí khác. Tiếp tục là Lena Norman. Đột nhiên, ông nhận ra Astrid Hillstrom. Hai người gần như khỏa thân. Wallander nghĩ rằng mình đoán ra đây là khung cảnh một nhà thổ. Nhưng cả hai cô gái đều vào vai không đạt lắm. Wallander đứng thẳng dậy và quay sang Ann-Britt.

— Họ cải trang, họ đóng các vai khác nhau.

— Tôi nghĩ là mọi chuyện còn đi xa hơn thế.

Cô đi về phía một cái bàn đặt ở góc phòng cạnh cửa sổ, chất đống tài liệu và cặp đựng giấy tờ.

— Tôi đã nhìn qua đống giấy tờ. Chưa lâu lắm và chưa đi vào chi tiết, nhưng những gì nhìn thấy đã đủ làm tôi lo lắng.

Wallander giơ tay lên.

— Đợi đã. Trước tiên tôi phải uống một cốc nước và vào toalet.

— Bố tôi từng bị tiểu đường, - đột nhiên Ann-Britt nói.

Wallander đứng khựng lại.

— Cậu muốn nói gì?

— Chắc là cậu cũng bị bệnh đó. Cứ nhìn cậu tu từng lít nước và cả ngày chạy vào toalet là biết.

Trong một lúc, suýt nữa Wallander đã phá bỏ tất cả hàng rào ngăn cách để nói rằng cô có lý. Thay vào đó, ông lại lúng búng một câu trả lời và biến mất. Khi trở lại sau khi uống nước xong, nước trong bồn cầu vẫn tiếp tục chảy.

— Chắc là phao nước có vấn đề, nhưng thôi kệ đi.

Cô nhìn ông như thể đang chờ ông chịu nói ra tình trạng sức khỏe của mình. Ông quay ngay sang chuyện khác.

— Cậu nói là cậu lo lắng phải không. Vì chuyện gì?

— Tôi sẽ nói. Nhưng tôi tin đó còn chưa phải là tất cả. Chúng ta sẽ biết nhiều hơn sau khi nghiên cứu kỹ những thứ giấy tờ này.

Wallander ngồi xuống một cái ghế. Cô vẫn đứng.

— Họ cải trang, – cô nói. – Họ tổ chức những bữa tiệc. Họ chuyển từ một thời kỳ này sang một thời kỳ khác. Thỉnh thoảng, họ cũng đi vào tương lai, nhưng không thường xuyên lắm. Chắc là vì làm vậy khó hơn nhiều.. Không ai biết chúng ta sẽ ăn mặc ra sao trong một nghìn năm nữa, thậm chí trong năm mươi năm đã khó rồi. Tóm lại, tất cả những cái đó, chúng ta đều đã biết. Chúng ta đã nói chuyện với những người bạn của họ, những người không có mặt trong bữa tiệc đêm Saint-Jean. Cậu đã nói chuyện với Isa Edengren. Chúng ta biết rằng họ hay thuê quần áo ở Copenhagen. Nhưng chuyện còn đi xa hơn nhiều.

Cô cầm lấy một cặp đựng tài liệu bìa có những trang trí hình học.

— Có vẻ như họ là thành viên của một giáo phái bắt nguồn từ Mỹ. Chính xác hơn, một giáo phái đặt đại bản doanh ở Minneapolis. Hơi giống kiểu hội Tam điểm, hoặc Ku Klux Klan theo một lối mới. Tài liệu này có nội quy, quả là đáng sợ. Nó nói đến những bức thư đe dọa mà người ta nhận được khi làm đứt một mắt xích trong đường dây - cậu cũng biết đấy, những bức thư mà người ta phải chép ra và gửi cho mười người khác, nếu không sẽ chịu sự trừng phạt khủng khiếp. Ở đây, sự trừng phạt bao giờ cũng là án tử hình.

Họ trả phí cho văn phòng ở Minneapolis đó, và để đổi lại những kẻ kia hướng dẫn họ cách tổ chức các bữa tiệc. Nhưng còn có một đặc điểm mang tính tinh thần nữa. Nếu tôi hiểu đúng, những người di chuyển trong thời gian vào thời điểm chết sẽ có thể được lựa chọn hóa sang kiếp khác dưới dạng nào. Đọc cái này thấy khó chịu lắm. Dù thế nào đi nữa, Lena Norman có vẻ như là một thủ lĩnh của nhánh Thụy Điển của phong trào này.

Wallander chăm chú lắng nghe. Cô đã có lý khi bảo ông đến.

— Phong trào đó có tên không?

— Ở Thụy Điển thì tôi không biết. Ở Mỹ, họ có tên là Divine Movers. Nếu tôi hiểu đúng, yếu tố tôn giáo mang tính thuần túy nội tâm. Chỉ việc giữ bí mật đã được coi là ngang bằng với một lễ mixa. Và việc không đóng phí cho văn phòng ở Minneapolis đồng nghĩa với vi phạm giáo điều. Nói tóm lại là hết sức bậy bạ.

Wallander lật giở chồng hồ sơ mà cô chìa cho ông. Ở đâu cũng là những biểu tượng hình học, nhưng cũng có những bức ảnh tượng thần cổ và ảnh những người bị tra tấn, băm vằm. Ông ghê tởm đẩy nó ra xa.

— Cậu nghĩ chính đó là điều đã xảy ra ở khu bảo tồn à? Họ đã bị giết vì làm lộ bí mật?

— Có vẻ như là không thể loại bỏ giả thuyết đó.

Cô có lý. Không lâu trước đó, đã có một vụ tự sát tập thể ở Thụy Sỹ. Không lâu sau, vẫn giáo phái đó đã lặp lại hành động hy sinh, lần này là ở Pháp. Trên khắp châu Âu, số các giáo phái và lượng tín đồ không ngừng tăng lên mãi, tỉ lệ thuận với sự đi xuống của điều kiện sống. Thụy Điển không phải là ngoại lệ. Tháng Năm, Martinsson đã tham gia một hội thảo quốc gia ở Stockholm, để phản ứng trước sự hoành hành của các giáo phái đó, nhìn từ quan điểm của cảnh sát. Thường là rất khó để can thiệp. Họ không còn là những kẻ điên rồ biệt lập, mà là các hãng được tin học hóa, vây xung quanh là các luật sư và chuyên gia kế toán. Các thành viên sẵn sàng vay tiền để đóng phí khi không tự đủ sức về tài chính. Đàn áp về tình thân, kỹ thuật làm việc quen thuộc của các giáo phái này, không phải lúc nào cũng có thể bị coi là một hành động tội phạm. Khi trở về, Martinsson nói là sẽ phải xây dựng một hệ thống luật pháp mới nếu muốn tấn công vào những trò lừa đảo kiểu mới đó.

Wallander nhớ mình đã trả lời thế nào: những trò huyền bí, điên rồ mang tính tôn giáo và việc tự cô lập với thế giới luôn tăng lên vào những giai đoạn khủng hoảng kinh tế. Nhiều năm trước, ông từng bỏ cả một buổi tối tranh luận ở ban công cùng Rydberg về liên đoàn Sala nổi tiếng, hoành hành dữ dội trong những năm 1930, và sự tồn tại là hoàn toàn không thể vào mươi năm trước hoặc sau đó.

Có thể là những năm 1930 đang trở lại, ông nghĩ. Với một biến thể tàn bạo hơn.

— Đây là một phát hiện quan trọng, – ông kết luận. – Chúng ta sẽ cần được giúp đỡ. Ở trung tâm, có bộ phận chuyên trách về các giáo phái mới. Phía Mỹ hẳn cũng sẽ cung cấp cho chúng ta thông tin về các thành viên của nhóm Divine Movers này. Nhưng điều quan trọng hơn cả là phải làm cho các thanh niên khác nói ra, ngay cả khi làm vậy là vi phạm bí mật mà họ giữ gìn hết sức cẩn thận đó.

— Họ tuyên thệ, – cô vừa giở hồ sơ vừa nói. – Sau đó, họ phải ăn một mẩu gan ngựa sống.

— Họ phải tuyên thệ trước ai?

— Ở Thụy Điển thì chắc là Lena Norman.

Wallander lắc đầu.

— Nhưng cô ấy chết rồi. Liệu cô ấy có thể để lộ một bí mật, trong khi lại là một thành viên lãnh đạo? Cô ấy có người kế nhiệm được chỉ định không?

— Tôi không biết. Có thể là chúng ta sẽ biết sau khi đọc chỗ giấy tờ này.

Wallander đứng dậy và nhìn ra cửa sổ. Người phụ nữ đơn độc vẫn nằm phơi nắng trên bãi cỏ. Đột nhiên ông nghĩ đến người phụ nữ chủ quán cà phê gần Vastervik. Ông phải cố gắng lắm mới nhớ ra tên cô. Erika. Kỷ niệm đó khiến ông cảm thấy một nỗi tiếc nhớ rối bời.

— Có thể là chúng ta không nên quá thiên về hướng này, ông nói vẻ xa vắng. Dù sao thì cũng không thể lơ là những hướng khác.

— Những hướng nào?

Câu trả lời là vô cùng dễ đoán. Không có hướng nào khác - ngoài giả thuyết về một kẻ loạn óc đơn độc. Giả thuyết lúc nào cũng có thể nghĩ đến khi không còn gì khác nữa.

— Tôi không sao hình dung nổi Svedberg trong khung cảnh này. Svedberg trong một giáo phái, tín đồ của sự luân hồi, cải trang, tuyên thệ và ăn gan ngựa sống, với tôi là không thể tưởng tượng được. Ngay cả khi rõ ràng là cậu ấy khác hẳn so với chúng ta vẫn nghĩ.

— Có thể là cậu ấy không liên quan một cách trực tiếp. Có thể là cậu ấy biết ai đó có liên quan trực tiếp.

Đột nhiên, ông nhớ đến Westin, người đưa thư của quần đảo. Ông đã nói điều gì đó trong chuyến đi trên tàu. Nhưng điều gì?

Ông bảo cô nhắc lại điều cô vừa nói. Rồi ông suy nghĩ trước khi trả lời.

— Có thể là cậu có lý. Svedberg nằm ở bên ngoài. Ở ngoại vi. Kẻ nào đó đã đi qua đường cậu ấy; kẻ nào đó có liên quan đến giáo phái này. Một bí mật bị lộ. Một nhóm hành quyết được cử đi. Svedberg điều tra một mình. Cậu ấy lo lắng. Cậu ấy sợ rằng nghi ngờ của mình là đúng. Kẻ đó đi qua đường cậu ấy một lần nữa. Và giết cậu ấy.

— Khó tin lắm.

— Cũng rất khó tin khi thấy bốn thanh niên bị giết trong rừng. Và một cảnh sát.

— Họ lấy gan ngựa ở đâu? Có thể là chúng ta sẽ phải liên lạc với các lò mổ ở Scanie chăng?

— Chỉ có một câu hỏi mà chúng ta nhất định phải trả lời. Cũng như trong tất cả những cuộc điều tra khó khăn khác. Chỉ một câu trả lời, và toàn bộ sẽ được giải quyết xong xuôi.

— Kẻ nào đứng sau cửa nhà Svedberg?

Ông gật đầu.

— Chính xác là như vậy. Nếu trả lời được câu hỏi đó, chúng ta sẽ có tất cả. Có thể là vẫn thiếu động cơ. Nhưng cái đó thì có thể tìm ra sau.

Wallander ngồi xuống lại.

— Cậu đã có thời gian nói chuyện với người Đan Mạch về người phụ nữ lạ mặt của chúng ta chưa?

— Ngày mai ảnh cô ấy sẽ được đăng báo. Có vẻ như là ở đó người ta nói rất nhiều về các thanh niên bị sát hại. Mà không chỉ ở Đan Mạch, trên toàn châu Âu, thậm chí cả ở Mỹ. Đêm qua Lisa đã bị một tay phóng viên Texas đánh thức.

— Trước đây thì họ hay gọi cho tôi. Expressen vào ba giờ sáng, Aftonbladet vào lúc ba rưỡi, hoặc ngược lại. Mãi vẫn mấy cái trò đó.

Ông đứng dậy.

— Chúng ta phải lục soát kỹ lưỡng căn hộ này, không được bỏ quên hầm và kho chứa đồ. Nếu có thời gian, chúng ta phải chuyển các thông tin này cho Interpol và cho người Mỹ vào ngay hôm nay. Martinsson sẽ thích làm việc này.

— Tôi nghĩ là cậu ấy mơ được trở thành nhân viên liên bang ở Mỹ hơn là thanh tra Ystad.

— Ai trong số chúng ta cũng đều có một giấc mơ, Wallander nói, trong một toan tính vụng về và vô ích, bảo vệ cho Martinsson.

Để đánh lạc hướng, ông bắt đầu tập hợp đống hồ sơ và giấy tờ để rải rác. Ann-Britt đi tìm mấy cái túi nylông ở trong bếp. Khi đi ra, họ nán lại ở cái lối vào nhỏ.

— Lúc nào tôi cũng có cảm giác đã bỏ qua điều gì đó. Hẳn là phải có một điểm giao nhau nằm đâu đó! Tôi có cảm giác nó nằm ở ngay trước mặt nhưng không sao chạm nổi vào. Nó có liên quan tới những lời của Westin.

— Westin?

— Người đã chở tôi đến đảo Bamso, lái tàu bưu điện chở thư cho quần đảo. Trong cabin ông ấy đã nói một điều gì đó. Nhưng điều gì?

— Tại sao cậu không gọi cho ông ấy?

— Làm sao cậu lại có thể muốn ông ấy nhớ được những gì đã nói với tôi…

— Hai người có thể cùng nhau dựng lại cuộc nói chuyện. Nếu chuyện đúng là như vậy, cậu chỉ cần nghe thấy lại giọng nói của ông ấy là cái câu đó sẽ hiện ra ngay.

— Có thể là cậu có lý, – Wallander do dự nói. – Tôi sẽ gọi cho ông ấy.

Rồi ông nhớ đến một giọng nói quan trọng khác trong cuộc điều tra này.

— Thật ra thì Lundberg giả là kẻ nào? Kẻ đã gọi điện đến bệnh viện hỏi tin tức của Isa ấy?

— Martinsson phụ trách việc đó. Chúng ta đã phân chia công việc, tôi lo một việc mà cậu ấy không đủ thời gian để làm, và cậu ấy hứa sẽ nói chuyện với y tá.

Wallander đoán ra lời chỉ trích ngầm. Họ có quá nhiều việc; những việc đang chờ chất đống lên.

— Hôm nay tiếp viện từ Malmo sẽ đến nơi, – ông nói. – Có thể họ đã ở Ystad, đang đánh giá tình hình rồi.

— Chúng ta sẽ không thể trụ được lâu với cái nhịp điệu này. Chúng ta không có thời gian để suy nghĩ, không có thời gian để xem xét thật kỹ một chi tiết để xem liệu có quên mất điều gì đó không. Ai còn muốn làm cảnh sát nữa nếu điều cốt yếu không phải là làm việc tốt, mà là làm ra vẻ như vậy?

— Không ai cả.

Wallander nhấc mấy cái túi nylông lên và bắt đầu xuống thang gác.

Người phụ nữ trên bãi cỏ đã đi khỏi. Wallander lấy đường đi về Ystad, trong đầu nhớ lại tất cả những sự kiện xảy đến với mình cho đến lúc đó. Phát hiện trong căn hộ của Lena Norman có ý nghĩa gì? Liệu những bữa tiệc đó có những hàm ý sâu xa hơn là họ nghĩ không?

Ông nhớ lại giai đoạn, vài năm trước, khi Linda trải qua một cuộc khủng hoảng tôn giáo. Ngay sau cuộc ly hôn của ông, Linda cũng có vẻ lạc lái giống hệt ông. Ông nghe thấy cô lẩm nhẩm một mình, rất muộn trong đêm, hẳn là một kiểu cầu nguyện. Ông cũng tìm thấy trong phòng cô những cuốn sách về giáo phái Khoa học luận, và điều đó đã làm ông lo lắng một cách nghiêm túc. Ông đã cố nói chuyện với cô, nhưng không được. Cuối cùng, Mona đã lo việc đó. Ông không hề biết họ đã nói chuyện gì với nhau, nhưng, một ngày đẹp trời, những tiếng lẩm nhẩm chấm dứt, và Linda lại bắt đầu quan tâm trở lại công việc học hành - thời gian đó, cô muốn trở thành chuyên gia trang trí thảm.

Ông rùng mình. Nhiều giáo phái xuất hiện trong những thập niên vừa qua là những hãng thương mại vô cùng cứng rắn. Kể từ nay tôn giáo và huyền bí đã trở thành một món hàng bình thường. Ông còn nhớ cái giọng đầy khinh bỉ của bố ông khi nói về ‘sự cứu chuộc linh hồn’ - những kẻ cắn câu và sau đó vật lộn trong những tấm lưới của bọn tiên tri giả.

Liệu giải pháp có nằm trong những cái túi nylông này không?

Ông nhấn ga. Ông đang vội.

• • •

Khi về đến sở, việc đầu tiên của ông là đi tìm Edmundsson và trả cho anh tiền vay tối hôm trước. Rồi ông đi vào phòng họp, nơi Martinsson giới thiệu ba cảnh sát Malmo được cử đến tăng cường. Ông nhận ra một người trong số họ, một thanh tra khoảng sáu mươi tuổi tên là Rytter. Hai người còn lại trẻ hơn; ông chưa bao giờ gặp họ. Ông chào họ nhưng không ngồi lại lâu. Nhẩm tính chênh lệch giờ giữa Mỹ và Thụy Điển, ông yêu cầu Martinsson ghé qua phòng ông sau đó một lúc. Ông đi thẳng về phòng và bắt đầu chăm chú đọc các tài liệu tìm thấy ở nhà Lena Norma. Phần lớn trong số đó được viết bằng tiếng Anh. Nhiều lần ông phải tra từ điển. Ông nhanh chóng bị đau nửa đầu. Đọc được khoảng một nửa thì Martinsson đến gõ cửa. Đã hơn hai mươi ba giờ. Martinsson có vẻ nhợt nhạt, hai mắt thâm quầng. Wallander tự hỏi không biết trông mình ra sao.

— Ổn chứ?

— Đó là những cảnh sát giỏi, – Martinsson trả lời. – Nhất là người nhiều tuổi nhất, tôi nghĩ thế. Rytter.

— Chúng ta sẽ nhanh chóng thấy có thay đổi; họ sẽ làm đỡ cho chúng ta rất nhiều việc.

Martinsson tháo cà vạt và nới cổ áo sơ mi.

— Tôi có một việc giao cho cậu đây, – Wallander nói tiếp.

Ông kể chi tiết cho anh phát hiện trong căn hộ của Lena Norman. Martinsson có vẻ chậm rãi trở lại với cuộc sống. Đúng như Ann-Britt đã dự đoán, triển vọng được liên lạc với các đồng nghiệp Mỹ mang lại cho anh một nguồn năng lượng mới.

— Điều quan trọng hơn cả, – Wallander kết luận, – là có được một hình ảnh chính xác về tổ chức này. Dĩ nhiên, cậu phải giải thích cho họ biết những chuyện xảy ra ở chỗ chúng ta, cái chết của Svedberg và bốn thanh niên. Cung cấp cho họ một miêu tả chi tiết về nơi xảy ra án mạng. Mượn một tấm thẻ của Nyberg. Ở chỗ họ đã từng xảy ra điều gì đó tương tự chưa? Điều quan trọng nhất của tối nay là thiết lập liên lạc; ngày mai sẽ hoàn chỉnh mọi việc. Mặt khác, cũng phải nói chuyện với các đồng nghiệp châu Âu. Hẳn là giáo phái này cũng tồn tại ở bên ngoài Mỹ và Thụy Điển.

Martinsson nhìn đồng hồ đeo tay.

— Có lẽ bây giờ không phải là lúc tốt nhất để gọi cho họ, nhưng tôi sẽ thử.

Wallander đứng dậy và tập hợp đống tài liệu. Cùng nhau, họ sao lại những gì mà Wallander chưa có thời gian để xem qua.

— Sau ma túy, chắc đây là cái làm tôi sợ nhất đấy, – đột nhiên Martinsson nói. – Rằng các con tôi sẽ mắc bẫy một cơn ác mộng giả tôn giáo rồi không thoát ra được nữa, và rồi tôi sẽ mất hết khả năng nói chuyện được với chúng.

— Đã có lúc tôi từng phải lo lắng cho Linda về cùng vấn đề này.

Ông không nói gì thêm nữa, và Martinsson cũng không đặt cho ông câu hỏi nào. Đèn đỏ của máy photocopy bật sáng. Martinsson cho thêm giấy, Wallander nhớ đến Svedberg.

— Đơn kiện Svedberg mà hôm trước chúng ta nói chuyện. Cậu có tìm thấy không?

Martinsson nhìn thẳng vào ông và bối rối.

— Anh không nhận được mấy tờ giấy à?

— Giấy nào? Tôi có thấy gì dâu.

— Phải có người đưa chúng vào phòng anh rồi chứ.

Trong khi Martinsson tiếp tục sao chụp, Wallander quay lại phòng và tìm trong đống giấy tờ vứt rải rác. Không có gì hết. Martinsson cầm đống giấy tờ đã sao chụp xong quay lại.

— Anh có tìm thấy không?

— Không.

Martinsson đặt chồng tài liệu xuống bàn.

— Bọn giấy tờ có một năng lực mất tích rất kỳ lạ. Khi tất cả làm việc trên máy tính, loại vấn đề đó sẽ không còn nữa.

— Chính thế đấy, – Wallander nói; ông không tin tưởng gì vào máy tính cả.

— Tháng Chín tới sẽ bắt đầu tập huấn sử dụng PEI. Anh cũng sẽ phải tham gia.

Wallander biết đó là chương trình mang tên ‘Giao thức điều tra tin học hóa’. Trên thực tế điều đó có nghĩa là ông không hiểu gì cả, về nguyên tắc, tin học hóa sẽ giúp tiết kiệm được nửa triệu giờ làm việc cho cảnh sát. Nhưng Wallander tự hỏi trên thực tế người ta sẽ mất bao nhiêu thời gian, vì những người như ông sẽ không bao giờ học sử dụng đến đầu đến đũa được.

Wallander ném một cái nhìn đen tối về phía giỏ rác đựng một tờ giấy mà ông đã vứt vào không lâu trước đó. Một dòng chữ đập vào mắt ông.

— SYSTINCO, – ông nói. – Cái này có gì liên quan đến hệ thống nữa không?

— Một dạng hệ thống dữ liệu. Anh biết không?

— Tôi có nghe nói đến, – ông nói dối.

— Tháng Chín tới tôi sẽ dạy anh dùng. Dễ hơn là anh tưởng nhiều đấy.

Martinsson đi khỏi. Năm phút sau, anh quay lại.

— Mấy tờ giấy ở trong phòng tôi. Người ta không còn chịu lắng nghe gì nữa cả.

Martinsson lại đi khỏi để liên lạc với cảnh sát Mỹ. Chắc là thông qua Interpol, Wallander nghĩ. Trừ khi Thụy Điển có đường dây trực tiếp với FBI? Ông gần như không biết gì về quan hệ quốc tế giữa cảnh sát các nước khác nhau. Tuy nhiên, mới đây ông đã làm việc với cảnh sát Nam Mỹ và với cảnh sát Latvia. Ông ngồi xuống và đọc đơn khiếu nại Karl Evert Svedberg. Nó được ghi ngày 19 tháng Chín năm 1985. Nghĩa là đã hơn mười năm. Người đâm đơn tên là Stig Stridh, sống ở Ystad. Tờ đơn được đánh bằng một cái máy chữ hỏng nút ‘e’, nhưng Wallander vẫn hiểu được rằng Stig Stridh đã bị đánh ở nhà mình, ngày 24 tháng Tám năm 1985, bởi chính em trai mình, khi đó vừa uống rượu và sang nhà anh ta vay tiền. Khi bị từ chối, người em trai nổi giận, và Stridh bị mất hai cái răng và bị một vết thương phía trên mắt trái. Em trai anh ta cũng đập phá phòng khách và lấy đi một cái máy ảnh. Sau khi người em trai đi khỏi, Stridh gọi điện cho cảnh sát. Hai cảnh sát, trong đó một người tên là Andersson, đã đến lấy đơn khiếu nại. Sau đó, Stridh tự đi đến bệnh viện, nơi anh ta được chăm sóc. Khi viết đơn, anh ta đã đến gặp một bác sĩ nha khoa để lắp hai cái răng. Ngày 26 tháng Tám, Stridh bị triệu tập đến sở cảnh sát để gặp thanh tra Karl Evert Svedberg. Người này đã thông báo là sẽ không có điều tra gì cả, vì không có bằng chứng nào chống lại người em trai. Stridh đã phản ứng dữ dội: em trai anh ta đã ăn cắp máy chụp ảnh và đập phá phòng khách của anh ta, hai cảnh sát đã chứng kiến hậu quả tận mắt, cũng như những thương tật mà anh ta phải chịu. Tuy nhiên Svedberg vẫn khẳng định là sẽ không có điều tra gì hết. Theo Stridh, thanh tra Svedberg đã tỏ ra rất khó chịu và đầy vẻ hăm dọa. Nếu anh ta định khởi kiện người em trai, Svedberg nói, anh ta sẽ phải trả một cái giá rất đắt. Stridh đã về nhà và viết ngay cho cảnh sát trưởng Bjork để khiếu nại. Vài ngày sau thanh tra Svedberg đến gặp anh ta ở nhà và một lần nữa lại tỏ ra đe dọa. Stridh sợ. Nhưng, sau khi hỏi ý kiến vài người bạn, anh ta đã quyết định khiếu nại thanh tra Svedberg.

Wallander sửng sốt. Làm sao hình dung nổi là Svedberg lại đe dọa người khác? Nhìn chung cách xử sự của anh rất lạ. Có vẻ như là đã có đầy đủ lý do để mở một cuộc điều tra và buộc người em trai phải ra tòa. Ông đọc các tài liệu khác. Trước tiên là trả lời của Svedberg, ngày 4 tháng Mười một năm 1985. Câu trả lời ngắn gọi: Svedberg giải thích rằng anh đã tiến hành theo đúng các bước quen thuộc và khăng khăng chối là đã đe dọa và mọi cách thức không phù hợp với phẩm chất cảnh sát nào khác.

Tiếp theo đó là quyết định của người được giao trách nhiệm phân xử. Ông ta không thấy có lý do gì để mở một cuộc điều tra và đã bác bỏ đơn của Stig Stridh, rồi xếp vụ việc lại.

Wallander đặt đống giấy tờ xuống và nhíu mày. Ông đứng dậy đi gặp Martinsson, đang ngồi gõ máy tính.

— Cậu còn nhớ vụ Stridh đó không?

Martinsson suy nghĩ trước khi trả lời.

— Tôi nhớ là Svedberg không muốn nói đến chuyện đó. Và tất nhiên là cậu ấy thấy nhẹ người với quyết định của người phân xử.

— Nếu Stridh nói thật, thì cách xử sự của Svedberg thật là khó hiểu.

— Đó không phải là ý kiến của Svedberg.

— Tôi muốn tìm lại báo cáo viết vào tối 24 tháng Tám.

— Anh thực sự nghĩ là chuyện đó đáng làm à?

— Tôi còn chưa biết. Một trong hai cảnh sát đến gặp Stridh tối đó tên là Andersson.

— Hugo Andersson.

— Ông ấy làm gì rồi?

— Rời ngành cảnh sát năm 1988, tôi nghĩ thế. Ông ấy đi làm phụ trách an ninh ở đâu đó, chắc là tìm được thôi.

— Đơn kiện của Stridh không nói rõ người cảnh sát kia là ai. Nhưng chúng ta sẽ tìm được tên trong báo cáo. Ai có thể nhớ được vụ này?

— Nhiều khả năng là chỉ có Bjork.

— Tôi sẽ gọi cho ông ấy. Nhưng tôi nghĩ là sẽ bắt đầu với Stridh. Nếu ông ta còn sống.

— Tôi khó lòng thấy nổi việc này là quan trọng. Một tờ đơn kiện cũ kỹ thậm chí còn không được giải quyết…

— Thái độ của Svedberg khó hiểu lắm. Cậu ấy không thực hiện một điều tra lẽ ra phải làm. Cậu ấy cư xử đầy vẻ hăm dọa. Tôi thấy rất lạ. Và chúng ta cũng đang tìm kiếm các khía cạnh bất thường của con người Svedberg đây.

Martinsson gật đầu, anh đã hiểu.

— Tôi sẽ nhờ một đồng nghiệp Malmo giúp, – Wallander kết luận.

Ông trở lại phòng mình. Đã quá nửa đêm. Ông đã không đến gặp được bố mẹ Isa Edengren. Giờ thì muộn quá rồi. Ông ngồi xuống và giở danh bạ. Không có Stig Stridh nào trong số những người đăng ký. Ông sắp gọi cho bộ phận thông tin thì nhận ra là mình không đủ sức nữa. Phải chờ đến mai thôi. Hiện tại, ông cần ngủ. Ông lấy áo vest và rời khỏi sở. Một cơn gió nhẹ thổi trên bãi đỗ xe; cái nóng vẫn tiếp tục dai dẳng. Ông tìm được chìa khóa xe và mở cửa. Đột nhiên ông quay phắt lại và dỏng tai, dò tìm trong bóng tối bãi đỗ xe, nơi ánh sáng những ngọn đèn không chiếu được đến. Nỗi sợ đến từ bên trong, ông nghĩ.

Kẻ đó, dù có là ai đi nữa, cũng có rất nhiều thông tin.

Hắn không ở xa. Lúc nào hắn cũng có thể tiếp tục giết người.

không mất nhiều thời gian để phát hiện Svedberg là một nhà sưu tầm. Những chiếc giày và áo vest cũ xơ ra này hẳn đã có tuổi thọ ít nhất là hai mươi năm. Ông tiếp tục cuộc tìm kiếm của mình, một cách có hệ thống. Trong một cái vali, ông tìm
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.