Không lâu sau tám giờ, họ ngồi cùng nhau trong phòng họp và tổ chức nhanh một lễ tưởng niệm Svedberg. Lisa Holgersson đã đặt một ngọn nến thắp sẵn ở chỗ anh vẫn luôn ngồi. Cú sốc và nỗi buồn làm không khí quanh bàn chùng hẳn xuống. Lisa Holgersson nói rất ít. Bà rất xúc động; những người có mặt thầm mong bà nói được hết những gì bà định nói. Nếu bà gục ngã, tình hình sẽ trở nên bi đát với tất cả. Rồi họ im lặng một phút. Những hình ảnh đáng lo chạy qua tâm trí Wallander. Ông đã thấy khó khăn trong việc nhớ thật chính xác khuôn mặt Svedberg. Ông lại nghĩ đến những gì mình từng cảm thấy khi bố ông chết và, trước đó, khi Rydberg chết. Người ta giữ kỷ niệm về người chết. Thế nhưng, như thể họ chưa bao giờ tồn tại vậy.
Các đồng nghiệp dần tản đi. Rất nhanh chóng, chỉ còn lại nhóm điều tra và Lisa Holgersson đang nán lại một chút. Họ ngồi quanh bàn. Ngọn lửa nến run rẩy khi Martinsson đóng một cửa sổ lại. Wallander đưa mắt hỏi Lisa Holgersson, nhưng bà lắc đầu. Ông sẽ là người lên tiếng đầu tiên.
— Tất cả chúng ta đều mệt mỏi, – ông bắt đầu. – Chúng ta bị sốc, mất phương hướng, rã rời. Điều hẳn là chúng ta lo ngại nhất đã xảy đến. Thường thì, những vụ tội phạm trầm trọng mà chúng ta tìm cách phá án không liên quan đến cá nhân chúng ta. Lần này, chúng ta bị đánh trực diện. Thế nhưng, chúng ta phải cố gắng suy nghĩ và hành động như thường lệ, không được bị ảnh hưởng vì chuyện có quen biết nạn nhân.
Ông ngừng lại một chút và nhìn mọi người một lượt. Im lặng.
— Tôi đề nghị chúng ta tổng kết tình hình, – ông nói tiếp, – trước khi thực sự tổ chức công việc. Chúng ta biết rất ít. Svedberg đã bị bắn chết vào lúc mà chúng ta không biết, trong khoảng thời gian từ trưa thứ Tư đến tối thứ Năm. Ở nhà cậu ấy. Bởi một kẻ đã vào nhà cậu ấy mà không có vết phá cửa. Chúng ta giả định rằng khẩu súng trường tìm thấy trên mặt đất là vũ khí gây án. Căn hộ tạo ra cảm giác bị kẻ trộm đột nhập. Nếu đúng là như vậy thì Svedberg đã phải đối mặt với một tên trộm có vũ khí. Đó là một khả năng. Nhưng có thể còn có những cách giải thích khác. Chúng ta phải xem xét trên diện rộng, không được bỏ qua chi tiết Svedberg là cảnh sát. Điều đó rất có thể có ý nghĩa - không nhất thiết, nhưng có thể. Như tôi đã nói, chúng ta còn chưa biết giờ xảy ra án mạng chính xác. Chi tiết đáng ngạc nhiên là không có người hàng xóm nào nghe thấy tiếng súng. Vì vậy chúng ta sẽ chờ báo cáo của các bác sĩ pháp y ở Lund.
Ông rót cho mình một cốc nước, mà ông uống cạn một hơi, trước khi nói tiếp.
— Đó là tất cả những gì mà chúng ta biết. Chúng ta chỉ có thể nói thêm rằng Svedberg đã không đi làm vào thứ Năm. Biết cậu ấy, chúng ta biết rằng điều đó rất kỳ lạ, nhất là khi cậu ấy lại không báo tin cho ai. Cách giải thích duy nhất khả dĩ là cậu ấy không thể làm được việc ấy. Điều đó có nghĩa là gì, thì tất cả chúng ta đều hiểu.
Nyberg giơ tay.
— Tôi không phải là bác sĩ pháp y, – ông nói. – Nhưng tôi ngờ là cậu ấy đã bị giết ngay vào thứ Tư.
— Thêm một lý do nữa để chúng ta tự hỏi: điều gì đã ngăn cản cậu ấy đi làm vào ngày hôm qua? Tại sao cậu ấy không báo cho chúng ta? Khi nào thì cậu ấy bị giết?
Wallander nói tiếp về cuộc trò chuyện với Ylva Brink.
— Chị ấy cho tôi biết là còn có một người anh họ. Ngoài đó ra, tôi ghi lại được một chi tiết. Theo chị ấy, Svedberg than phiền vì nhiều việc quá. Tuy nhiên, vào thời gian đó cậu ấy đang nghỉ. Tôi thấy chuyện này rất lạ, nhất là khi thường thì cậu ấy không dành thời gian nghỉ cho những chuyến đi mệt mỏi.
— Có phải là thậm chí anh ấy còn chưa bao giờ rời khỏi Ystad không? – Martinsson hỏi.
— Rất hiếm khi. Một lần đi Bomholm và về trong ngày, hoặc một chuyến đi Ba Lan bằng phà. Ylva Brink đã xác nhận với tôi điều đó. Còn lại, Svedberg dành thời gian rỗi để nghiên cứu người Anhđiêng châu Mỹ và quan sát những ngôi sao. Theo chị họ của cậu ấy thì cậu ấy có một cái kính viễn vọng rất tốt để trong căn hộ. Nhưng tôi không tìm thấy nó.
— Tôi nghĩ là anh ấy hay quan sát chim chứ? – Hansson nói xen vào.
— Cũng có lúc. Cảm giác của tôi là Ylva Brink biết cậu ấy khá rõ. Gần đây, điều mà cậu ấy quan tâm là người Anhđiêng và những ngôi sao.
Cái nhìn của ông đi vòng quanh bàn.
— Tại sao cậu ấy lại cảm thấy phải làm việc quá sức? Điều đó có nghĩa là gì? Có thể là không quan trọng gì, nhưng chúng ta còn chưa biết gì hết cả.
— Trước cuộc họp tôi đã xem lại hồi đó cậu ấy lo vụ gì, – Ann- Britt nói xen vào. – Ngay trước khi đi nghỉ, cậu ấy đã thẩm vấn bố mẹ mấy thanh niên mất tích.
— Những thanh niên mất tích nào? – Lisa Holgersson hỏi.
Wallander tóm tắt ngắn gọn tình hình cho bà. Ann-Britt nói tiếp.
— Hai ngày cuối cùng, cậu ấy lần lượt đến gặp các gia đình Norman, Boge và Hillstrom. Nhưng tôi không tìm thấy ghi chép nào liên quan đến những lần gặp đó. Thậm chí tôi đã lục các ngăn kéo bàn làm việc của cậu ấy.
Wallander và Martinsson đưa mắt nhìn nhau.
— Không thể thế được, – Wallander nói. – Chúng tôi đã cùng thẩm vấn các gia đình, rất kỹ. Chưa bao giờ có vấn đề phải gặp thêm. Bởi vì chúng ta không có lý do để nghi ngờ bất cứ điều gì…
— Tôi không mơ ngủ đâu, – Ann-Britt vẫn khăng khăng. – Cậu ấy đã ghi lại giờ các cuộc gặp trong sổ agenda.
Wallander suy nghĩ.
— Thế thì Svedberg đã tự làm việc đó mà không báo cho chúng ta.
— Không giống anh ấy chút nào, – Martinsson nói.
— Không hề. Cả chuyện vắng mặt mà không thông báo nữa.
— Về các cuộc gặp, – Ann-Britt tiếp tục, – chúng ta có thể kiểm tra. Không có gì dễ hơn.
— Cậu làm việc đó đi. Nhớ tìm hiểu xem cậu ấy đã hỏi họ những gì.
— Nghĩ kỹ thì thật là phi lý, – Martinsson nói. – Từ thứ Tư chúng ta đã tìm cách gọi cho Svedberg để nói về các thanh niên mất tích. Giờ thì anh ấy không còn ở đây, và chúng ta vẫn nói về họ.
— Có tin mới gì không? – Lisa Holgersson hỏi.
— Không có gì, ngoài việc một bà mẹ ngày càng thấy lo lắng hơn. Bà ấy nhận được thêm một tấm bưu ảnh của con gái.
— Thế thì phải là dấu hiệu đáng mừng chứ?
— Đúng, trừ việc bà ấy cho rằng tấm bưu ảnh là giả.
— Gì cơ? – Hansson hỏi. – Không ai viết bưu ảnh giả cả. Séc thì có, đồng ý, nhưng còn bưu ảnh?
— Tôi nghĩ là chúng ta phải tách riêng hai vụ, – Wallander kết luận. – Chúng ta sẽ bắt đầu bằng việc tổ chức cuộc điều tra thứ nhất: phát hiện kẻ hoặc những kẻ đã giết Svedberg.
— Không có gì cho thấy có nhiều hơn một người liên quan, – Nyberg nói.
— Chúng ta có thể chắc chắn về điều đó không?
— Không.
Wallander để hai tay rơi xuống bàn.
— Chúng ta không thể chắc chắn về điều gì hết. Chúng ta phải xem xét trên phạm vi rộng, không coi gì là đúng sẵn cả. Tin về cái chết của Svedberg sẽ được chính thức loan báo trong vài giờ nữa. Lúc đó chúng ta đã phải bắt tay vào việc rồi.
— Dĩ nhiên là cuộc điều tra này phải được ưu tiên, – Lisa Holgersson nói. – Tất cả những gì có thể đợi sẽ đợi.
— Cuộc họp báo. Chúng ta phải bắt đầu bằng việc thoát khỏi cái đó.
— Chúng ta sẽ chỉ nói sự thật tối thiểu. Một cảnh sát bị giết. Chúng ta có dấu vết nào không?
— Không.
— Thế thì chúng ta sẽ nói như vậy.
— Thế còn chi tiết?
— Cậu ấy đã bị bắn. Chúng ta có vũ khí gây án. Có lý do kỹ thuật nào ngăn cản việc thông báo chuyện đó không?
— Tôi nghĩ là không.
Wallander đưa mắt nhìn quanh. Không ai có phản đối gì.
Lisa Holgersson đứng dậy.
— Tôi muốn anh có mặt ở cuộc họp báo, – bà nói. – Có thể là tất cả chúng ta cần đến đó. Dù gì thì người bị giết cũng là một đồng nghiệp và một người bạn.
Họ quyết định gặp lại nhau mười lăm phút trước khi cuộc họp báo bắt đầu. Lisa Holgersson ra khỏi phòng, và ngọn nến tắt phụt vì một cơn gió. Ann-Britt châm lại nó.
Thêm một lần nữa, họ tóm tắt lại những gì mà họ biết và chia nhau công việc. Bánh xe của cuộc điều tra được chầm chậm đẩy quay. Họ chuẩn bị kết thúc cuộc họp thì Martinsson giữ họ lại.
— Có lẽ là cần có một quyết định về vụ ba thanh niên mất tích. Không biết liệu họ có thuộc vào những việc có thể đợi không?
Wallander không biết. Nhưng quả thực là phải có một quyết định.
— Chúng ta sẽ chờ, – ông nói. – Ít nhất là vài ngày, sau đó sẽ xem xét. Trừ khi từ giờ đến lúc đó chúng ta phát hiện là Svedberg đã đặt những câu hỏi mà chúng ta chưa hề biết cho các gia đình.
Chín giờ mười lăm phút. Wallander đi lấy một cốc cà phê. Rồi ông về phòng, đóng cửa và lục các ngăn tủ để tìm một cuốn sổ mới. Ông mở nó ra và viết một từ duy nhất ở phía trên trang đầu tiên.
Svedberg.
Ở dưới, ông vẽ một chữ thập rồi lại xóa đi ngay.
Tiếp tục thế nào đây? Ông đã có ý định ghi lại các suy nghĩ hồi đêm của mình. Nhưng ông đặt cái bút xuống. Ông đứng dậy và đi ra cửa sổ. Buổi sáng thật đẹp. Linh cảm của ông trở lại. Có điều gì đó không ổn. Nyberg đã nói đến khả năng dàn cảnh - nhưng vì cái gì? Bởi ai? Bằng tất cả sức lực của mình, Wallander hy vọng phát hiện ra một vụ trộm đột nhập tầm thường, bị biến thành thảm kịch, loại trừ tất cả các giả thuyết khác nhanh nhất có thể được. Ai đó bắn vào một cảnh sát và bỏ lại vũ khí - điều này cho thấy hắn ta không có máu lạnh. Bằng kinh nghiệm Wallander biết rằng một tên giết người như vậy dễ để bị bắt hơn là những tên khác. Trong trường hợp thuận lợi nhất, họ sẽ phát hiện được những dấu tay đưa họ thẳng đến đích, nằm trong một hồ sơ lưu trữ máy tính nào đó.
Ông quay lại bàn và viết vào cuốn sổ sự biến mất của một cái kính viễn vọng có khả năng rất đắt tiền. Rồi ông có hai quyết định. Ngay sau cuộc họp báo, ông sẽ đến gặp người anh họ của Svedberg, người sống ở Hedeskoga. Và ông sẽ quay lại căn hộ để lục tìm kỹ lưỡng hơn. Hơn nữa, hẳn là phải có một cái kho hoặc một cái hầm chứa đồ, hoặc cả hai.
Ông tìm số điện thoại của Sture Bjorklund trong danh bạ. Ông ta nhấc máy sau vài tiếng chuông.
— Trước hết cho phép tôi chia buồn với ông, – Wallander nói.
Giọng Sture Bjorklund có vẻ căng thẳng và xa vắng.
— Có thể tôi mới là người phải làm việc đó. Tôi cho là các ông biết em họ tôi rõ hơn là tôi. Ylva đã gọi cho tôi vào sáu giờ sáng để báo tin.
— Báo chí sẽ đưa tin.
— Tôi cũng nghĩ thế. Mặt khác, đây là lần thứ hai trong gia đình có người bị giết.
— A?
— Năm 1847, chính xác là ngày 12 tháng Tư, người anh trai của cụ cố Karl Evert đã bị giết bằng những nhát rìu ở Eslõv. Kẻ giết người là một tên coi ngựa cũ, một kẻ tên là Brun, bị đuổi việc vì nhiều tội lỗi. Tổ tiên của chúng tôi bán được kha khá gia súc và có tiền. Brun muốn cướp.
— Chuyện gì đã xảy ra? – Wallander hỏi, – cố giấu sự sốt ruột của mình.
— Cảnh sát, chắc là chỉ có viên cảnh sát trưởng địa phương, tỏ ra nhanh nhẹn một cách mẫu mực. Vài ngày sau Brun đã bị bắt, trong khi tìm cách trốn sang Đan Mạch. Hắn bị xử tội chết và bị hành hình. Oscar đệ nhất vừa lên ngôi, và ông ta bắt đầu bằng việc giải quyết một số vụ xử tội mà Charles XV không muốn thông qua. Oscar đã cho xử tử mười bốn người để ăn mừng sự lên ngôi của mình. Thế là Brun bị mất đầu. Chính xác là ở Malmo.
— Chuyện hay đấy.
— Tôi đã có một số nghiên cứu phả hệ, cách đây hai hay ba năm gì đó. Nhưng câu chuyện tên coi ngựa Brun và vụ giết người ở Eslõv thì trước đó đã nhiều người biết rồi.
— Nếu ông không thấy phiền, trong ngày hôm nay tôi muốn đến gặp ông.
Wallander cảm thấy giọng ông ta đanh lại ngay.
— Vì chuyện gì?
— Chúng tôi đang cố gắng dựng lại một hình ảnh hoàn chỉnh nhất có thể về Karl Evert.
Ông chưa bao giờ gọi Svedberg bằng tên; điều này khiến ông cảm thấy rất lạ.
— Tôi biết rất ít về cậu ấy, Bjorklund phản đối. Hơn nữa, chiều nay tôi phải đi tàu sang Copenhagen.
— Việc này gấp và sẽ không mất nhiều thời gian.
Im lặng một lúc. Wallander chờ đợi.
— Mấy giờ?
— Khoảng mười bốn giờ được không?
— Tôi sẽ báo hoãn cuộc hẹn ở Copenhagen vậy.
Sau đó ông ta hướng dẫn đường đi; địa chỉ không khó tìm lắm.
Sau khi bỏ máy, Wallander dành nửa tiếng đồng hồ để viết một bản tóm tắt tình hình cuộc điều tra cho chính mình. Ông không ngừng tìm kiếm nguồn gốc của cái trực giác xuất hiện ngay khi nhìn thấy xác Svedberg, rằng có điều gì đó không ổn. Nyberg cũng có cảm giác đó. Dĩ nhiên, đó có thể chỉ đơn giản là cái việc không thể hiểu nổi và không thể chịu đựng được khi tìm thấy một đồng nghiệp bị giết. Nhưng sự do dự vẫn dai dẳng ở đó.
Không lâu sau mười giờ, ông đi lấy một cốc cà phê khác. Có nhiều người trong căng tin, và cú sốc, sự nghi hoặc chung dễ dàng nhìn thấy. Wallander nán lại để nói vài câu với mấy cảnh sát giao thông, vài nữ thư ký. Rồi ông quay về phòng và bấm số điện thoại di động của Nyberg.
— Anh đang ở đâu? – Wallander hỏi.
— Trong căn hộ của Svedberg, mẹ kiếp. Anh còn nghĩ tôi ở đâu nữa?
— Anh có tìm thấy một cái kính viễn vọng không?
— Không.
— Ngoài đó ra?
— Không ít dấu tay trên khẩu súng. Ít nhất là hai hay ba cái mà chúng ta có thể dễ dàng lấy được.
— Thế thì chỉ còn cách hy vọng là chúng có sẵn trong hồ sơ của chúng ta. Gì nữa không?
— Không có gì đặc biệt.
— Sau bữa trưa, tôi sẽ đến gặp anh họ Svedberg, ở Hedeskoga. Nhưng sau đó tôi muốn xem xét lại nhà Svedberg. Thật kỹ càng.
— Chúng tôi sắp xong rồi. Thật ra thì tôi không có ý định dự cuộc họp báo.
Wallander không nhớ lần nào Nyberg có mặt ở một cuộc họp báo chưa. Chỉ có một cách giải thích duy nhất: Nyberg muốn tỏ ra là mình đang rất tức giận. Trong thoáng chốc, Wallander thấy cảm động vì điều đó.
— Anh có tìm thấy cái chìa khóa nào không? – ông hỏi.
— Ôtô và hầm chứa đồ.
— Không có kho à?
— Tôi đã kiểm tra. Trong tòa nhà không có kho. Chỉ có tầng hầm thôi. Tôi sẽ mang chìa khóa cho anh vào lúc mười một giờ.
Wallander bỏ máy và đi sang phòng Martinsson.
— Xe của Svedberg. Chiếc Audi ấy. Nó ở đâu rồi?
Martinsson không biết. Cùng nhau, họ sang hỏi Hansson, nhưng anh cũng không biết. Ann-Britt Hoglund không có trong phòng. Martinsson nhìn đồng hồ đeo tay.
— Cái xe không thể ở xa được. Từ giờ đến mười một giờ tôi sẽ lo tìm ra nó.
Wallander quay lại phòng mình. Ở chỗ tiếp tân, ông nhìn thấy hoa bắt đầu được chuyển đến. Mắt Ebba đỏ vì khóc. Wallander không nói gì. Ông đi qua trước mặt bà, nhanh nhất có thể được.
Cuộc họp báo bắt đầu vào lúc mười một giờ đúng. Sau này, Wallander sẽ nghĩ là Lisa Holgersson đã hoàn thành công việc rất xuất sắc và đầy cương quyết. Ông cũng đã nói với bà điều đó, sẽ không ai có thể làm được tốt hơn.
Bà mặc đồng phục cảnh sát. Hai bó hoa hồng lớn đặt trên chiếc bàn trước mặt bà. Bà đi thẳng vào vấn đề, trình bày hết sức rõ ràng, trực tiếp, và lần này giọng bà không hề run. Một người đồng nghiệp được kính trọng, Karl Evert Svedberg, đã bị giết tại nhà. Lúc này còn chưa biết giờ của vụ giết người, cũng như động cơ, nhưng có vẻ như là Svedberg đã gặp phải một tên trộm có vũ khí. Cảnh sát còn chưa có hướng điều tra chính xác nào. Sau đó bà thuật lại khá lâu sự nghiệp và tính cách của Svedberg. Wallander vừa nghe bà nói vừa nghĩ là bà dành cho anh một hình ảnh đẹp và trung thành, mà không cần phải ngoa ngôn.
Không có nhiều câu hỏi. Wallander chịu trách nhiệm trả lời phần lớn trong số đó. Nyberg miêu tả vũ khí của án mạng, một khẩu súng săn hiệu Lambert Baron. Toàn bộ cuộc họp không kéo dài quá nửa tiếng đồng hồ. Lisa Holgersson chấp nhận trả lời một cuộc phỏng vấn của đài truyền hình địa phương trong khi Wallander lịch sự nói chuyện với vài đại điện của các tờ báo lá cải. Nhưng ông thấy thật khó để nén một tiếng gầm khi người ta đề nghị ông đứng trước tòa nhà ở Lilla Norregatan để chụp ảnh. Ông từ chối thẳng thừng.
Mười hai giờ, Lisa Holgersson mời những đồng nghiệp thân nhất của người quá cố về nhà bà để ăn trưa. Wallander và Martinsson kể lại những câu chuyện cũ hồi còn làm chung với Svedberg. Wallander cũng là người duy nhất biết lý do khiến Svedberg trở thành cảnh sát - ít nhất là lý do mà chính anh từng nói đến.
— Cậu ấy sợ bóng tối. Bị nó ám ảnh từ nhỏ, một nỗi sợ mà cậu ấy không thể hiểu cũng như vượt qua nổi. Cậu ấy trở thành cảnh sát vì cứ tưởng như thế sẽ học được cách chống trả lại nó. Nhưng nỗi sợ bóng tối chưa bao giờ chịu chấm dứt.
Không lâu trước mười bốn giờ, họ quay về sở. Wallander lên xe Martinsson.
— Bà ấy nói tốt quá, – Martinsson nói.
— Lisa là một bà sếp giỏi. Cậu cũng biết thế rồi chứ?
Martinsson không trả lời. Đột nhiên Wallander nghĩ đến một chuyện.
— Cậu đã tìm thấy chiếc Audi chưa?
— Đằng sau tòa nhà có một bãi đỗ xe riêng cho những người sống ở đó. Cái xe đỗ ở đấy. Tôi kiểm tra rồi.
— Cậu có tình cờ tìm thấy một cái kính viễn vọng trong cốp không?
— Không, chỉ có một bánh xe dự trữ và một đôi bốt. Và một bình xịt côn trùng trong ngăn để găng tay.
— Được rồi, – Wallander buồn bã nói. – Tháng Tám là tháng nhiều ong mà.
Họ chia tay nhau trước sở. Wallander kiểm tra xem mình đã cầm chùm chìa khóa Nyberg đưa trong bữa ăn ở nhà Lisa Holgersson hay chưa. Nhưng trước hết là cuộc hẹn ở Hedeskoga. Ông lấy cửa ô đi về hướng Sjobo. Những chỉ dẫn của Bjorklund chính xác đến tuyệt đối, và không gặp khó khăn gì để ông tìm ra cái trang trại nhỏ nằm bên ngoài thành phố. Mặt tiền nhìn ra một bãi cỏ lớn, trên đó những bức tượng thạch cao vây quanh một đài phun nước. Wallander ngạc nhiên nhận ra đó là tượng đủ loại quỷ, với cái mồm hé mở và đầy vẻ hăm dọa. Ông thoáng tự hỏi mình sẽ tìm thấy gì trong vườn của một giáo sư xã hội học. Cùng lúc đó, một người đàn ông xuất hiện ở bậu cửa. Ông ta mặc một cái áo vest da, đi bốt và đội một cái mũ rơm thủng. Ông ta rất cao và gầy. Wallander nhận ra ngay một điểm giống Svedberg: đầu người đàn ông này gần như hói trụi. Nhưng có thể đó chỉ là một sự trùng hợp, không liên quan gì đến gene. Wallander mơ hồ cảm thấy bực bội. Ông hoàn toàn không tưởng tượng giáo sư Bjorklund như thế. Khuôn mặt rám nắng, một bộ râu hai hoặc ba ngày chưa cạo. Người ta có thể không chịu cạo râu mà vẫn được dạy ở đại học Copenhagen ư? Ở một khía cạnh khác, bây giờ mới là tháng Tám, còn lâu mới đến khai giảng.
Có thể là ông ta có những lý do khác để đến Copenhagen vào thời điểm này.
— Tôi hy vọng là không làm phiền ông quá nhiều.
Trước sự ngạc nhiên của Wallander, Sture Bjorklund hất đầu ra sau và phá lên cười - không hoàn toàn là không có ý chế giễu, ông cảm thấy thế.
— Thứ Sáu, tôi có thói quen đến gặp một bà ở Copenhagen. Người ta gọi đó là một tình nhân thì phải. Các thanh tra cảnh sát tỉnh lẻ có tình nhân không?
— Không thực sự là có, – Wallander nói.
— Đó là một giải pháp tuyệt vời cho các vấn đề của cuộc sống chung. Mỗi cuộc gặp đều có thể là lần cuối. Không còn những ràng buộc, sự phụ thuộc, những cuộc nói chuyện ban đêm lúc nào cũng có thể bị biến thành trò đập phá đồ đạc, những ảo tưởng hôn nhân và sự nghiêm túc.
Wallander nhận ra rằng người đàn ông đội mũ rơm với nụ cười lanh lảnh bắt đầu làm ông phát cáu.
— Dù thế nào đi nữa thì một vụ giết người cũng là chuyện nghiêm túc.
Sture Bjorklund gật đầu. Ông ta cởi chiếc mũ thủng như thể đang có nhu cầu biểu lộ điều gì đó, có thể là nỗi buồn.
— Vào đi, – ông ta nói.
Ngôi nhà mà Wallander đang bước vào không giống với bất kỳ nơi đâu mà ông từng thấy. Nhìn từ bên ngoài, đó là một nhà dài theo lối truyền thống ở Scanie. Nhưng cái thế giới hiện ra sau khi bước qua ngưỡng cửa hoàn toàn không thể đoán trước và gây hoang mang. Tất cả các vách tường ngăn đều bị phá bỏ. Toàn bộ ngôi nhà trở thành một căn phòng rộng mênh mông mở ra đến tận chái nhà, với nhiều ngọn tháp gắn cầu thang hình xoáy ốc làm bằng sắt rèn và gỗ mộc. Gần như không có đồ đạc; những bức tường trống trơn, trừ một bức được biến thành bể cá khổng lồ. Sture Bjorklund đi về phía cái bàn rất to đặt một cái ghế băng kiểu nhà thờ và một cái ghế thấp.
— Tôi vẫn luôn thích những loại ghế ngồi thật cứng, – ông ta tuyên bố. – Sự thiếu tiện nghi khiến người ta phải nhanh nhanh chóng chóng làm xong việc phải làm - ăn uống, suy nghĩ, hoặc nói chuyện với một cảnh sát.
Wallander ngồi xuống cái ghế băng nhà thờ. Quả thực là rất không êm ái.
— Nếu tôi hiểu đúng, ông bắt đầu, thì ông là giáo sư ở đại học Copenhagen.
— Tôi dạy xã hội học. Và cố gắng giảm số giờ giảng xuống đến mức tối thiểu. Những nghiên cứu riêng hấp dẫn tôi hơn nhiều. Hơn nữa, tôi có thể làm được ở nhà.
— Điều này không liên quan gì, nhưng tôi vẫn muốn hỏi ông: ông nghiên cứu gì?
— Mối quan hệ giữa người và những con quái vật.
Wallander tự hỏi không biết có phải ông ta đang đùa không và đợi tiếp đoạn sau, mà ông ta nói ngay.
— Cách tái hiện những con quái vật vào thời Trung cổ không hề giống với thế kỷ mười tám. Cách tái hiện của tôi không phải là cách của thế hệ sau tôi. Đó là một thế giới phức tạp và quyến rũ. Địa ngục, nơi trú ngụ của những điều khủng khiếp, chuyển dịch thường trực. Và nữa, điều đó giúp tôi kiếm được kha khá tiền.
— Theo cách nào?
— Tôi làm cố vấn cho các hãng của Mỹ sản xuất phim kinh dị chuyên đưa lên màn ảnh những con quái vật. Không phải tự tán dương, nhưng tôi là một trong những chuyên gia ăn khách nhất thế giới trong việc thương mại hóa những điều khủng khiếp. Còn có một người Nhật sống ở Hawaii nữa. Nhưng ngoài ông ta, thì chỉ có tôi.
Wallander bắt đầu tự hỏi không biết người đàn ông đang ngồi đối diện ông trên cái ghế thấp có bị ấm đầu không. Bjorklund chỉ một bức tranh để trên bàn.
— Tôi đã hỏi bọn nhóc bảy tuổi ở Ystad về hình dung của chúng về những con quái vật. Lấy cảm hứng từ những câu trả lời của chúng, tôi đã vẽ nhân vật này. Người Mỹ thích lắm. Nó sẽ có vai chính trong một loạt phim hoạt hình kinh dị với mục đích làm bọn trẻ từ bảy đến tám tuổi phải sợ hãi.
Wallander nhìn bức tranh. Rất khó chịu. Ông đặt nó xuống bàn.
— Ông cảm nghĩ gì về nó? – Bjorklund hỏi.
— Ông có thể gọi tôi là Wallander.
— Ông nghĩ gì về nó?
— Nó rất khó chịu.
— Chúng ta sống trong một thế giới khó chịu. Ông có đi xem kịch không?
— Không thường xuyên.
— Một nữ sinh viên của tôi, một cô gái có tài người Gentofte, đã lục tìm trong kịch mục của nhiều nhà hát trên khắp thế giới trong hai mươi năm vừa qua. Kết quả hết sức thú vị. Nhưng không hề đáng ngạc nhiên. Trong một thế giới ngày càng mang đậm dấu ấn của đổ nát hơn, sự nghèo đói, cướp bóc, sân khấu sẽ thường xuyên chú tâm nhiều hơn vào cuộc sống gia đình. Ít nhất thì Shakespeare cũng đã nhầm, chân lý của ông ta không còn giá trị gì ở cái thời đại đáng sợ của chúng ta nữa. Sân khấu không còn là một tấm gương của thế giới nữa.
Ông ta im lặng và đặt cái mũ rơm xuống bàn. Wallander nhận ra là người Bjorklund toát ra mùi mồ hôi.
— Tôi vừa quyết định cắt điện thoại, – ông ta nói tiếp. – Cách đây năm năm, tôi đã vứt tivi đi. Bây giờ đến lượt điện thoại phải biến khỏi cuộc đời tôi.
— Điều đó không đặt cho ông một vấn đề mang tính thực tiễn à?
Bjorklund nhìn ông vẻ nghiêm khắc.
— Tôi đòi quyền được tự mình quyết định thời điểm mà tôi muốn có liên hệ với xung quanh. Máy tính, dĩ nhiên, thì tôi giữ lại. Nhưng điện thoại thì tôi không muốn nữa.
Wallander gật đầu và chuyển sang thế tấn công.
— Em họ ông Karl Evert Svedberg đã bị giết. Ngoài Ylva Brink, ông là người bà con duy nhất. Lần cuối ông gặp cậu ấy là khi nào?
— Cách đây khoảng ba tuần.
— Ông có thể chính xác hơn được không?
— Thứ Sáu ngày 19 tháng Bảy vào lúc mười sáu giờ ba mươi.
Ông ta trả lời nhanh đến ngạc nhiên, không hề do dự.
— Làm thế nào mà ông lại có thể nhớ được giờ chính xác như vậy?
— Chúng tôi đã hẹn gặp vào giờ đó. Tôi phải đến gặp mấy người bạn ở Scotland và Kalle đến trông nhà cho tôi khi tôi đi vắng như thường lệ. Mặt khác đó là những lúc duy nhất mà chúng tôi gặp nhau. Khi tôi đi, và khi tôi về.
— ‘Trông nhà’ nghĩa là gì?
— Cậu ấy ở đây.
Wallander bị bất ngờ. Nhưng ông không có lý do gì để nghĩ là Bjorklund nói dối.
— Như vậy là đã nhiều lần như thế rồi?
— Đúng. Đều đặn, từ khoảng mười năm nay rồi. Việc đó có lợi cho cả hai chúng tôi.
Wallander suy nghĩ.
— Ông trở về khi nào?
— Ngày 27 tháng Bảy. Kalle đã ra sân bay đón tôi, lái xe đưa tôi về đây. Chúng tôi tạm biệt và cậu ấy quay về Ystad.
— Ông có cảm giác là cậu ấy bị mệt mỏi vì công việc không?
Thêm một lần nữa, Bjorklund hất đầu ra sau và lại ré lên tiếng cười đinh tai của ông.
— Một câu nói đùa đúng không. Nhưng không có gu mấy, nhỉ? Bây giờ khì cậu ấy đã chết.
— Đó không phải là một câu nói đùa.
Bjorklund mỉm cười.
— Ai cũng có thể mệt mỏi vì công việc, phải không nào? Khi người ta có những quan hệ nóng bỏng với một người đàn bà…
Wallander không tin vào tai mình.
— Ông muốn nói gì?
— Kalle gặp tình nhân ở đây khi tôi đi vắng. Chúng tôi đã thỏa thuận thế rồi. Họ ở đây khi tôi ở Scotland. Hoặc nơi khác.
Wallander không nói gì. Ông cố kìm nén hơi thở.
— Ông có vẻ bị bất ngờ, – Bjorklund nhận xét.
— Chỉ có một người đàn bà ấy thôi à? Cô ta tên là gì?
— Louise.
— Và ngoài đó ra?
— Tôi không biết. Tôi chưa bao giờ gặp cô ấy. Kalle là người rất bí mật. Hay phải dùng từ kín đáo?
Với Wallander, nỗi ngạc nhiên quá lớn. Chưa ai từng nghe nói đến một người đàn bà trong đời Svedberg, một quan hệ kéo dài thì lại càng không.
— Ông còn biết gì khác về cô ấy?
— Không có gì cả.
— Karl hẳn là phải nói cho ông điều gì đó chứ?
— Không bao giờ. Và tôi cũng không bao giờ hỏi. Chúng tôi không tò mò một cách vô ích.
Wallander không còn câu hỏi nào khác. Ông cảm thấy cần phải suy nghĩ về tất cả những gì vừa nghe thấy. Ông đứng dậy.
— Hết rồi à? – Bjorklund ngạc nhiên hỏi.
— Hiện tại thì chỉ có vậy. Nhưng ông sẽ sớm có tin của tôi.
Bjorklund đưa ông ra sân. Trời nóng, gần như không có gió.
— Ông có ý tưởng gì về kẻ đã giết cậu ấy không? – Wallander hỏi khi họ ra đến xe ông.
— Tôi nghĩ đó là một vụ trộm. Ai có thể biết được tên trộm có vũ khí đứng rình ở góc phố?
Họ bắt tay nhau. Wallander vừa bật khóa điện thì Bjorklund cúi xuống cửa kính xe.
— Có thể còn một điều khác nữa, – ông ta nói. – Louise nhuộm tóc. Đổi màu thường xuyên.
— Làm sao mà ông biết được?
— Tôi nhìn thấy trong nhà tắm, sau khi họ đi. Khi thì đỏ, khi thì đen. Hoặc vàng. Đổi liên tục.
— Nhưng vẫn là một người à?
— Thành thực mà nói, tôi nghĩ Kalle rất yêu cô ấy.
Wallander gật đầu. Ông nổ máy và đi về hướng Ystad. Mười lăm giờ.
Một điều rõ ràng, ông nghĩ. Svedberg, người bạn và người đồng nghiệp của chúng ta, chết mới được hai ngày, nhưng chúng ta đã biết về cậu ấy nhiều hơn là khi cậu ấy còn sống.
Mười lăm giờ mười phút, Wallander đỗ xe ở quảng trường trung tâm. Ông đi bộ qua quãng đường ngắn dẫn đến Lilla Norregatan.
Dù không biết tại sao, bụng ông thấy quặn lại vì bực bội.
Phải làm thật nhanh. Nhưng làm gì?
Wallander bắt đầu bằng việc xuống hầm để đồ.
• • •
Những bậc thang cứng như thể dẫn xuống nội tạng trái đất, chứ không phải xuống một tầng hầm bình thường. Ông đi đến một cánh cửa sắt sơn xanh, tìm được chìa khóa trong đống chìa khóa mà Nyberg đưa và mở cửa ra. Mùi mốc bay lơ lửng trong bóng tối. Ông bật chiếc đèn pin lúc nào cũng để trong xe và tìm được công tắt điện. Nó được lắp thấp đến khác thường, như thể là để dành cho những người rất nhỏ bé dùng. Ông đứng ở lối vào một hành lang hẹp hai bên là những khoang đan lưới sắt. Đã từng có lúc ông nghĩ rằng những cái hầm đặc trưng của Thụy Điển này rất giống với các nhà tù nguyên thủy. Thay vì nhốt tù nhân, chúng chứa những chiếc sofa hỏng, đồ trượt tuyết và hàng núi vali. Bức tường đằng sau trơ gạch ở đôi chỗ. Gạch rất cũ, có thể là đã nhiều thế kỷ. Hồi mùa xuân, Linda kể cho ông về một người khách kỳ dị ở quán ăn mà cô phục vụ. Người khách đó đeo kính một mắt, như thể là một người từ một thời xa xưa đến. Ông ta hỏi cô người ở đâu. Ông ta nói rằng theo âm sắc, ông ta đoán cô là người Sjobo. Cô trả lời cô là người Scanie, nhưng sinh ở Malmo và lớn lên ở Ystad; người khách đó bèn đọc cho cô những lời mà Strindberg vĩ đại từng dùng để miêu tả Ystad vào cuối thế kỷ trước. ‘Một ổ cướp biển’, Strindberg đã tuyên bố như vậy. Linda đã gọi ngay cho bố để kể chuyện đó, giọng đầy thích thú.
Hầm để đồ của Svedberg nằm ở cuối hành lang. Wallander nhận ra rằng tấm lưới sắt đã được gia cố bằng hai thanh sắt đặt chéo nhau, cài chặt bằng một cái khóa chắc chắn. Svedberg không làm việc gì nửa chừng. Tại sao? Wallander đã nghĩ đến việc mang theo một đôi găng tay nylông. Ông đi chúng vào, dò dẫm một lúc mới tìm được chìa khóa, mở cái khóa và xem xét nó thật chăm chú; trông nó có vẻ mới. Rồi ông bật đèn và nhìn xung quanh. Chỉ toàn là những thứ đồ hết sức tầm thường, ít nhất là ở vẻ ngoài. Thậm chí còn có một đôi gậy trượt tuyết, một mẫu rất cổ, dựa vào tường. Wallander tự hỏi không biết chúng làm gì ở đó; không thể tưởng tượng được cảnh Svedberg đi nó ở chân để đổ dốc. Tuy nhiên, lần gặp Sture Bjorklund cho thấy rằng cuộc đời Svedberg khác hoàn toàn với hình ảnh mà những người biết anh tưởng là có được về anh. Mình đang tiến đến một bí mật, Wallander nghĩ. Và mình còn chưa hề có ý tưởng gì về điều sẽ khám phá. Ông nhìn xung quanh. Tất cả đều có vẻ được sắp xếp ngăn nắp. Không có gì bị ném bừa bãi như trong căn hộ. Ông bắt đầu xem xét bên trong những cái vali và vài thùng cactông. Ông không mất nhiều thời gian để phát hiện Svedberg là một nhà sưu tầm. Những chiếc giày và áo vest cũ xơ ra này hẳn đã có tuổi thọ ít nhất là hai mươi năm. Ông tiếp tục cuộc tìm kiếm của mình, một cách có hệ thống. Trong một cái vali, ông tìm được vài album ảnh đã cũ. Ông ngồi xuống một cái hòm và lật giở album đầu tiên. Những hình ảnh vàng úa; những nhân vật chụp - những khung cảnh của Scanie; những ngày lễ trong những khu vườn mùa hè, những dáng vẻ cứng đờ thiếu tự nhiên, những khuôn mặt xa xôi không nhìn rõ đường nét; những con người cúi lom khom thu hoạch củ cải đường trên một cánh đồng, hậu cảnh là những cái xe kéo và ngựa; những người đánh xe cầm roi ngồi ngay ngắn, những tảng mây ở hậu cảnh, mặt đất ướt và nặng nề. Không có ghi chú nào, không có tên người, tên địa điểm nào. Ba quyển album giống hệt nhau. Wallander đoán rằng những bức ảnh mới nhất cũng đã được chụp vào những năm 1930. Sau đó, không còn gì nữa. Ông cẩn thận đặt lại chúng về chỗ và tiếp tục. Trong một lúc, tất cả những con người chết đã từ lâu đó trở lại sống động. Một cái vali đầy khăn trải bàn. Một cái khác đựng báo cũ từ cách sáu mươi năm. Ở tận trong cùng, sau đống đổ nát của một cái bàn đánh bạc cũ phủ dạ lót màu ghi, ông tìm thấy một thùng cactông đựng một cái trụ tròn bằng gỗ màu sáng. Ông tự hỏi không biết đó là cái gì. Rồi ông đoán ra đó là một thanh treo tóc giả. Ông phải mất hơn một tiếng đồng hồ mới xem xét được toàn bộ hầm để đồ. Không có gì làm ông chú ý. Ông đứng dậy và nhìn lần cuối cùng ra xung quanh. Ngay từ đầu, ông đã tìm cái đang thiếu. Một sự vắng mặt khả nghi. Hoặc một cái kính viễn vọng hiện đại. Ông đi ra và khóa cửa lại.
Khi đi lên về phía ánh sáng, ông nhận ra là mình đang khát. Ông đi qua quảng trường, vào một cái quán và gọi một tách cà phê và một chai nước suối, tự hỏi không biết mình có quyền ăn vài thứ đồ ngọt lặt vặt không. Tốt hon hết là nên từ bỏ ý định đó. Nhưng cuối cùng ông vẫn gọi một ít. Hai mươi phút sau, ông quay lại Lilla Norregatan. Một sự im lặng chết chóc bao trùm lên tòa nhà. Wallander đứng lấy hơi trước cửa căn hộ. Cánh cửa dán cảnh báo của cảnh sát cấm vào nơi xảy ra án mạng. Ông gỡ một đầu dải băng dính, cắm chìa khóa vào ổ và bước vào. Ngay lập tức, ông nghe thấy tiếng máy trộn bê tông trên phố. Tiếng ồn thật kinh khủng. Ông vào phòng khách, cố sức mà không sao tránh nổi việc liếc nhìn về nơi xác của Svedberg đã từng nằm và đi ra cửa sổ. Tiếng ồn của xe trộn bê tông vang lên giữa các tòa nhà. Bên cạnh, một xe tải đang trút vật liệu xây dựng xuống.
Đột nhiên, một ý nghĩ lướt qua tâm trí ông. Ông ra khỏi căn hộ và xuống phố. Một người đàn ông khá già, nửa người trên để trần, đang phun nước vào bên trong cái máy. Ông ta gật đầu chào khi nhìn thấy Wallander. Có vẻ như là ông ta nhận ngay ra ông là cảnh sát.
— Chuyện vừa xảy ra thật là kinh khủng, – ông ta gào lên.
— Tôi cần nói chuyện với ông.
Người đàn ông cầm ống nước gọi một người công nhân trẻ hơn đang hút thuốc trong bóng râm và đưa cho anh ta cái ống.
Họ đi vòng qua tòa nhà; tiếng ồn của máy trộn bê tông gần như biến mất hẳn.
— Vậy là ông đã biết chuyện, – Wallander bắt đầu.
— Một cảnh sát tên là Svedberg đã bị giết.
— Chính xác. Tôi muốn biết ông ở đây từ bao lâu rồi. Hình như là công trường vừa bắt đầu làm việc thì phải.
— Chúng tôi đến vào thứ Hai. Làm lại cầu thang.
— Khi nào thì các ông bắt đầu sử dụng máy trộn bê tông?
Người đàn ông suy nghĩ.
— Chắc là thứ Ba. Vào khoảng mười một giờ.
— Và sau đó nó chạy không ngừng à?
— Có thể nói là như vậy. Từ bảy giờ sáng đến năm giờ chiều. Đôi khi còn muộn hơn.
— Kể từ đầu lúc nào nó cũng nằm ở chỗ đó à?
— Đúng.
— Có nghĩa là các ông có thể nhìn được rất rõ người sống trong nhà đi lại.
Đột nhiên, người đàn ông tỏ vẻ hiểu ra ông muốn biết điều gì và vẻ mặt trở nên nghiêm trang hẳn.
— Dĩ nhiên là ông không biết ai sống trong nhà, – Wallander tiếp tục. – Nhưng có thể là ông có để ý đến những người qua lại nhiều lần.
— Tôi không biết người cảnh sát đó trông như thế nào. Nếu đó là điều ông muốn biết.
Wallander chưa hề tính đến khả năng đó.
— Tôi sẽ nói ai đó đưa ảnh cho ông xem, – ông nói. – Ông tên là gì?
— Nils Linnman. Giống tên người dẫn chương trình thế giới động vật ấy.
Wallander mơ hồ nhớ đến một khuôn mặt án ngữ trên truyền hình từ rất nhiều năm nay.
— Ông có thấy gì bất thường kể từ khi đến làm ở đây không? – Wallander vừa hỏi vừa tuyệt vọng lục tìm trong túi áo túi quần một tờ giấy và một cái bút chì.
— Ví dụ như cái gì?
— Ai đó trông căng thẳng. Ai đó có dáng vẻ vội vã. Thường thì người ta hay nhớ những gì không bình thường.
Linnman suy nghĩ. Wallander chờ đợi. Trời vẫn nóng; và ông cần đi toalet.
— Không, – cuối cùng Linnman nói. – Tôi không nhớ được gì hết cả. Nhưng có thể là Robban đã nhìn thấy cái gì đó.
— Robban?
— Người tôi đưa lại cái ống nước lúc nãy. Nhưng chắc là cũng khó, vì cậu ấy chỉ nghĩ đến cái xe máy của mình thôi.
— Chúng tôi sẽ hỏi anh ấy. Và nếu ông nhớ ra điều gì, tôi yêu cầu ông liên lạc với tôi ngay lập tức.
Lần này thì Wallander có mang theo cácvidit trên người. Linnman cầm lấy cái các mà ông chìa cho và cho nó vào một cái túi của bộ đồng phục làm việc của mình.
— Tôi sẽ quay lại, bây giờ tôi đi nói chuyện với Robban.