FYODOR, VỢ ANH TA, và bà cụ, mẹ của Fyodor, đứng với nhau, nhóm ba công dân - một tòa án công dân - nhìn Leo cởi áo khoác, thả nó trên ghế. Gã cởi áo len rồi qua cởi áo sơ mi. Sau lớp áo, dán vào người gã, là các chi tiết của những vụ giết người - những bức ảnh, những mô tả, lời khai, bản đồ chỉ vị trí của các vụ phạm tội - những mẩu chứng cứ quan trọng nhất họ góp nhặt được:
- Tôi phải cực kỳ thận trọng khi mang những tài liệu này đi. Đây là chi tiết của hơn bốn mươi vụ giết người, những đứa trẻ, cả trai lẫn gái, bị giết suốt nửa miền Tây đất nước. Chúng đã bị giết theo cùng một cách, cùng với cách thức mà giờ tôi tin là con trai anh chị bị giết.
Leo lôi giấy tờ trong ngực ra: những thứ gần da gã nhất ướt đẫm vì mồ hôi. Fyodor cầm lấy chúng và nhìn qua. Vợ anh ta bước tới, và cả mẹ anh ta nữa. Không lâu sau, ba người họ truyền tay nhau đọc hết tài liệu. Vợ Fyodor nói trước:
- Và nếu anh bắt được hắn ta, anh sẽ làm gì?
Rõ ràng đây là lần đầu tiên Leo bị hỏi câu đó. Cho đến giờ họ chỉ mới tập trung vào việc không biết có bắt được hắn hay không nữa.
- Tôi sẽ giết hắn.
Một khi Leo đã giải thích bản chất cuộc điều tra cá nhân của mình, Fyodor không lãng phí thời gian cho việc lăng mạ hay buộc tội nữa. Rõ ràng anh ta không mảy may có ý từ chối giúp đỡ họ hay nghi ngờ gì sự thành thực của họ hoặc lo lắng về những hậu quả. Và những ý nghĩ đó cũng không nảy ra trong đầu vợ hay mẹ anh ta, ít nhất là theo một cách đáng kể nào. Fyodor sẽ đưa họ đến nhà Galina ngay lập tức.
Con đường ngắn nhất tới đó là đi qua đường ray nơi Arkady được tìm thấy. Có vài tuyến đường chạy song song, một khoảng rộng, dọc hai bên là những cây cối và bụi cây um tùm. Khi ánh sáng chiều hôm tàn dần, Leo thấy thích vẻ quyến rũ của chốn hẻo lánh không người này. Ở trung tâm thành phố thì nó có vẻ vắng vẻ một cách kỳ quái. Có phải cậu bé đã chạy qua những tà vẹt này, bị người đàn ông kia rượt đuổi? Cậu bé có bị ngã xuống đất, chạy trong vô vọng? Trong bóng đêm, có con tàu nào thờ ơ chạy qua không? Leo mừng vì đã ra khỏi đường ray.
Tới gần căn hộ, Fyodor bảo Leo nên đứng ở ngoài. Galina đã bị gã làm cho sợ hãi trước đây: họ không thể liều để gã làm chị ta khiếp sợ không dám mở miệng lần nữa. Leo đồng ý. Chỉ có Raisa và Fyodor vào.
Raisa đi theo Fyodor lên cầu thang, đến căn hộ và gõ cửa. Cô nghe ra tiếng trẻ em đang chơi trong nhà. Cô hài lòng. Tất nhiên cô không tin một phụ nữ phải làm mẹ mới hiểu hết sự nghiêm trọng của vụ án này, nhưng việc con của chính Galina đang gặp nguy hiểm sẽ khiến chị ta dễ dàng tham gia.
Mở cửa là một phụ nữ mới ngoài ba mươi. Chị ta ăn mặc kín mít như thể trời đang giữa mùa đông. Chị ta có vẻ ốm. Đôi mắt lo lắng, ghi nhận từng chi tiết bề ngoài của Raisa và Fyodor. Fyodor dường như nhận ra chị ta:
- Galina, cô có nhớ tôi không? Tôi là Fyodor, bố của Arkady, đứa bé bị giết. Đây là bạn tôi, Raisa. Cô ấy sống ở Voualsk, thị trấn gần Ural. Galina ạ, lý do chúng tôi đến đây là vì người đàn ông giết con trai tôi đang giết những đứa trẻ khác ở các thị trấn khác. Đó là lý do Raisa đến Mátxcơva, để chúng ta có thể hợp tác cùng nhau. Chúng tôi cần cô giúp đỡ.
Giọng Galina nhỏ nhẹ, gần như thì thầm:
- Tôi có thể giúp gì được? Tôi không biết gì hết.
Đoán được câu trả lời như vậy, Raisa nói rõ:
- Fyodor đến đây không phải với tư cách nhân viên MGB. Chúng tôi là một nhóm những người làm cha mẹ, bất cứ công dân nào cũng phẫn nộ trước tội ác này. Tên của chị sẽ không xuất hiện trong bất cứ tài liệu nào, không có tài liệu nào hết. Chị sẽ không nghe hoặc gặp lại chúng tôi nữa. Chúng tôi chỉ cần biết hắn ta trông thế nào. Hắn bao nhiêu tuổi? Hắn cao không? Tóc hắn màu gì? Hắn mặc quần áo đắt tiền hay rẻ tiền?
- Nhưng người đàn ông tôi đã nhìn thấy không đi cùng đứa trẻ. Tôi đã nói với anh rồi.
Fyodor trả lời:
- Làm ơn đi, Galina, cho chúng tôi vào một lúc thôi. Đừng nói chuyện ở hành lang.
Chị ta lắc đầu:
- Tôi không thể giúp anh được. Tôi không biết gì hết.
Fyodor bắt đầu nổi nóng. Raisa chạm tay anh ta, bảo anh ta im lặng. Họ phải bình tĩnh, họ không thể dọa nạt chị ta. Sự kiên nhẫn là chìa khóa:
- Được rồi, được rồi. Galina. Chị không thấy người đàn ông đi cùng một đứa bé. Fyodor đã giải thích là chị thấy một người đàn ông với túi dụng cụ, có phải thế không?
Chị ta gật đầu.
- Chị có thể mô tả hắn không?
- Nhưng hắn không đi cùng đứa trẻ.
- Chúng tôi hiểu. Hắn không đi cùng đứa trẻ. Chị đã nói rõ điều đó. Hắn chỉ có một túi dụng cụ. Nhưng trông hắn thế nào?
Galina cân nhắc. Raisa nín thở, cảm thấy chị ta sắp nói rồi. Họ không cần thông tin được viết ra. Họ không cần ký vào bản khai. Họ chỉ cần mô tả, nó sẽ được vứt đi, và có thể chối bỏ được. Ba mươi giây, chỉ cần thế thôi.
Bỗng nhiên Fyodor cắt ngang sự yên lặng, nói:
- Không có nguy hại gì vì kể cho chúng tôi về người đàn ông có túi dụng cụ trông thế nào. Không ai có thể gặp rắc rối khi miêu tả một công nhân đường sắt.
Raisa nhìn Fyodor. Anh ta đã mắc sai lầm. Người ta có thể gặp rắc rối vì mô tả một công nhân đường sắt. Họ có thể gặp rắc rối vì ít hơn thế nhiều. Cách an toàn nhất luôn là không làm gì hết. Galina lắc đầu, bước lùi lại.
- Tôi xin lỗi, trời lúc đó tối quá. Tôi không thấy hắn ta. Hắn có một cái túi, tôi chỉ nhớ được thế.
Fyodor đặt tay lên cửa.
- Không, Galina, làm ơn...
Galina lắc đầu:
- Đi đi.
- Làm ơn, làm ơn mà...
Như một con thú hoảng sợ, giọng chị ta run rẩy lo lắng:
- Đi đi!
Một thoảng lặng yên. Tiếng ồn bọn trẻ chơi đùa ngừng lại. Chồng Galina xuất hiện.
- Có chuyện gì thế?
Các cánh cửa dọc hành lang mở ra, mọi người nhìn chằm, bình phẩm, chỉ trỏ làm Galina lo lắng thêm. Nhận thấy họ đang mất khả năng kiểm soát tình hình, họ sắp mất nhân chứng, Raisa bước lên, ôm lấy Galina, như thể nói lời tạm biệt:
- Hắn trông thế nào? Nói cho tôi đi, hãy nói thầm vào tai tôi.
Chồng Galina cố tách họ ra:
- Đủ rồi đấy!
Galina vùng vẫy. Nhưng Raisa níu lại, nắm chặt cánh tay người lạ này - cầu xin, lặp lại:
- Trông hắn thế nào?
Má kề má, Raisa chờ đợi, nhắm mắt, hy vọng. Cô có thể cảm thấy hơi thở Galina. Nhưng Galina không đáp.
ROSTOV- SÔNG ĐÔNG CÙNG NGÀY
CON MÈO ĐỨNG trên gờ cửa sổ, ngoe nguẩy đuôi, đôi mắt xanh lạnh lùng dõi theo Nadya đi quanh phòng như thể nó đang toan tính xông vào cô bé, như thể cô bé không gì hơn một con chuột to quá cỡ. Con mèo già hơn cô bé. Cô bé mới lên sáu; con mèo đã tám hay chín tuổi. Điều đấy có lẽ giải thích được tại sao nó có thái độ kẻ cả như vậy đối với cô bé. Theo lời bố cô bé, vùng họ đang sống đây có nạn chuột và vì vậy mèo rất quan trọng. À, điều đó chỉ đúng một phần thôi: Nadya thấy rất nhiều chuột, những con chuột lớn và rất bạo dạn nữa. Nhưng cô bé chưa bao giờ thấy con mèo này làm gì hữu ích về lũ chuột ấy. Nó là con mèo lười biếng, bị cha cô bé làm hư. Làm sao một con mèo lại nghĩ nó quan trọng hơn bé? Nó không bao giờ cho cô bé chạm vào thân nó. Một lần, tình cờ nó đi qua, cô bé vuốt lưng nó, và đáp lại nó xoay mình lại, gầm gừ, rồi phóng vào trong góc xù lông lên như thể cô bé đã phạm một tội ác nào đó. Lúc đấy, cô bé đã từ bỏ cái cố gắng kết bạn với nó. Nếu con mèo muốn ghét cô bé, cô bé sẽ ghét lại nó gấp đôi.
Không thể ở trong nhà hơn nữa với con mèo cứ nhìn chằm chằm vào mình, Nadya ra khỏi nhà, mặc dù trời đã muộn và những người khác trong gia đình đang ở trong bếp chuẩn bị uzhin. Biết rằng mình sẽ không được phép đi dạo, cô bé không thèm xin phép, xỏ chân vào giày và lẻn ra ngoài cửa.
Họ sống bên bờ sông Đông, em gái, mẹ và bố cô bé, ở một vùng ngoại ô có những con đường gồ ghề và những ngôi nhà gạch nhỏ. Hệ thống cống rãnh và rác thải nhà máy đổ vào sông ở thượng nguồn và Nadya đôi lúc ngồi ngắm nhìn vệt dầu mỡ, rác thải, và hóa chất trên mặt nước. Có một con đường mòn dọc bờ sông, chạy theo hai hướng. Nadya đi xuống, về phía nông thôn. Mặc dù trời không còn sáng nữa, nhưng cô bé vẫn tự tin mình rành đường. Cô bé cảm nhận phương hướng rất tốt, và như cô bé còn nhớ thì cô bé sẽ chưa hề bị lạc, chưa một lần nào. Cô bé tự hỏi một đứa con gái có cảm giác phương hướng tốt thì lớn lên sẽ làm công việc gì. Có lẽ cô bé sẽ trở thành phi công chiến đấu. Không có lý gì lại trở thành lái tàu bởi họ không bao giờ phải nghĩ về việc sẽ đi đâu: một con tàu khó mà bị lạc được. Cha cô bé đã kể những câu chuyện về nữ phi công đánh bom trong thời chiến. Cô bé thấy câu chuyện thật tuyệt, cô bé muốn trở thành như họ, khuôn mặt cô sẽ lên trang nhất một tờ báo, được tặng Huân chương Lenin. Điều đó sẽ khiến bố cô chú ý, sẽ khiến bố tự hào. Điều đó khiến bố cô thôi để ý đến con mèo ngu ngốc kia.
Cô bé cuốc bộ được một lúc, hát một mình, vui mừng vì được ra khỏi nhà và tránh xa con mèo thì bỗng dưng cô bé dừng lại. Phía trước, cô bé thấy bóng một người đàn ông đang bước về phía mình. Ông ta cao người, nhưng trong bóng mờ, cô bé không thấy gì khác ở ông ta. Ông ta mang một chiếc cặp. Thường thì thấy một người lạ cũng chẳng hề khiến cô bé ít bận tâm. Sao phải thế? Nhưng gần đây mẹ cô bé làm một việc khác thường: mẹ bắt Nadya và em cô bé ngồi xuống mà dặn chúng không được nói chuyện với bất kỳ người lạ nào. Mẹ thậm chí còn nói rằng thà tỏ ra vô lễ với người lạ còn hơn là nghe theo lời họ. Nadya nhìn lại phía ngôi nhà. Cô bé chưa cách xa nhà lắm; nếu chạy thì cô sẽ về nhà trong chưa đầy mười phút. Vấn đề là, cô bé thực sự muốn dạo đến cái cây yêu thích tận cuối sông. Cô bé thích trèo lên cây mà ngồi mơ mộng. Phải đến khi làm xong việc đó, phải đến khi đến được cái cây kia thì cô bé mới cảm thấy cuộc đi bộ là một chuyến thành công. Cô bé tưởng tượng đây là nhiệm vụ quân sự của mình: đến chỗ gốc cây và cô bé không thể thất bại. Quyết định vội vã, cô bé quyết định sẽ không nói chuyện với người đàn ông này: cô bé cứ đi thẳng qua y, nếu y nói chuyện với cô, cô sẽ nói xin chào nhưng không dừng bước.
Cô bé tiếp tục dọc con đường và người đàn ông đến gần hơn. Y đang đi nhanh lên? Dường như thế. Trời quá tối nên không nhìn thấy mặt y. Y đội một chiếc mũ. Cô bé bước sang mép đường, nhường chỗ rộng rãi cho y bước qua. Họ chỉ cách nhau vài mét. Nadya cảm thấy lo sợ, một sự thôi thúc khó hiểu muốn chạy qua khỏi y. Cô bé không hiểu tại sao. Cô bé đổ lỗi cho mẹ. Phi công đánh bom không bao giờ biết sợ. Cô bé vùng chạy. Sợ điều này sẽ xúc phạm người đàn ông, cô bé nói:
- Xin chào.
Cánh tay Andrei ôm lấy hông cô bé, nhấc bổng thân hình bé nhỏ lên, đưa mặt cô bé lại gần y, nhìn chằm chằm vào mắt cô bé. Cô bé kinh hãi, nín thở, thân hình bé nhỏ đơ ra vì căng thẳng.
Rồi Nadya bắt đầu cười phá lên. Khi đã hết ngạc nhiên, cô bé quàng tay quanh cổ bố và ôm y:
- Bố làm con sợ quá.
- Sao con đi chơi muộn thế?
- Con muốn đi dạo.
- Mẹ có biết con đi chơi không?
- Có ạ.
- Con nói dối.
- Không đâu. Tại sao bố đi hướng này? Bố chưa bao giờ đi hướng này. Bố đã ở đâu?
- Bố đi làm. Bố có việc ở một ngôi làng ngoài thành phố. Không có cách nào quay về, nên phải đi bộ. Chỉ mất vài tiếng thôi.
- Chắc bố mệt lắm.
- Đúng vậy.
- Con xách cặp cho bố nhé.
- Nhưng bố bế con rồi, nên nếu con xách cặp thì bố cũng xách luôn cả sức nặng của nó.
- Con có thể tự đi và xách cặp cho bố.
- Bố nghĩ bố liệu được.
- Bố ơi, con rất vui vì bố về.
Vẫn bế con gái, y dùng cặp đẩy cửa mở. Y bước vào bếp. Đứa con gái út chạy đến chào y trìu mến. Y chứng kiến niềm vui của gia đình lúc y quay về. Họ tin chắc rằng khi y đi xa, y sẽ quay về.
Nadya nhìn con mèo. Rõ ràng đang ghen tị về sự quan tâm mà cô bé giành được từ người bố, con mèo trên cửa sổ nhảy xuống, tham dự cuộc đoàn tụ gia đình, nó cọ mình vào chân Andrei. Khi y thả cô bé xuống, cô bé vô tình giẫm lên chân con mèo, khiến nó rít lên và chạy mất. Cô bé chưa kịp thích thú thỏa thuê thì ông bố đã nắm lấy cổ tay cô bé, y cúi xuống, nhìn chằm chằm qua cặp kính vuông dày cộp, khuôn mặt y run lên giận dữ:
- Đừng bao giờ động vào nó.
Nadya muốn khóc. Vậy mà cô bé mím môi. Cô bé đã học được rằng khóc không gây ấn tượng gì với bố mình hết.
Andrei thả tay con gái ra, đứng thẳng lên. Y cảm thấy cái hồi hộp và nóng ran. Y nhìn vợ. Cô ta vẫn không bước đến, nhưng cô mỉm cười với y:
- Anh ăn chưa?
- Anh phải cất đồ đã. Anh không muốn ăn gì hết.
Vợ y không muốn ôm hay hôn y, không làm vậy trước mặt bọn trẻ. Y rất nghiêm khắc với những điều thế này. Cô hiểu.
- Công việc của anh có tốt đẹp không?
- Vài ngày tới họ lại muốn anh đi xa. Anh không biết chắc bao lâu.
Không đợi lời đáp lại - y đã cảm thấy muốn ở một mình - y bước lại cánh cửa dẫn xuống tầng hầm. Con mèo đi theo, đuôi nó vểnh lên, khoái chí.
Y khóa cửa, bước xuống cầu thang, tức thì cảm thấy thoải mái hơn khi đã được một mình. Trước đây có hai ông bà già sống dưới tầng hầm này nhưng bà cụ đã chết, và ông cụ đã chuyển đến căn hộ của người con trai. Cơ quan nhà đất vẫn chưa phân cho vợ chồng nào khác đến thay thế họ. Căn phòng không được tươm tất lắm: một tầng hầm nằm chìm dưới bờ sông. Gạch luôn ẩm ướt. Vào mùa đông, căn phòng lạnh băng. Có một bur-zhuika, lò đốt củi, mà hai ông bà già buộc phải đốt tám tháng trong năm. Mặc dù tầng hầm có nhiều bất tiện như vậy nhưng nó vẫn có một lợi thế. Đấy là không gian riêng của y. Y có một chiếc ghế để trong góc và một chiếc giường nhỏ trước là của ông bà già. Thỉnh thoảng y ngủ dưới này, khi điều kiện cho phép. Y thắp đèn ga, và chẳng mấy chốc một con mèo khác đã chui vào qua lỗ hổng trên tường chỗ các đường ống của burzhuika chạy ra bên ngoài.
Y mở cặp. Lẫn trong đống giấy tờ và phần còn lại của bữa trưa là một lọ thủy tinh có nắp đậy. Y vặn mở nắp. Trong chiếc lọ, bọc trong một tờ Pravda cũ, thấm đầy máu, là cái dạ dày của cô bé y đã giết vài giờ trước đây. Y bóc lớp báo, cẩn thận không để chút báo nào dính trên thịt. Y đặt cái dạ dày trên một chiếc đĩa sắt, cắt ra từng miếng dài, rồi cắt hình vuông. Khi làm xong, y đốt lò. Khi lò đủ nóng để nấu thịt, đã có sáu con mèo vây quanh y. Y nướng thịt, chờ tới lúc thịt chuyển sang màu nâu rồi mới để lại lên đĩa sắt. Andrei đứng nhìn lũ mèo vây dưới chân, thích thú thưởng ngoạn cơn đói của chúng, y giơ món đồ ăn, vờn nhử chúng, nhìn chúng kêu gào. Chúng đói thảm thiết, điên loạn bởi mùi thịt chín.
Sau khi vờn nhử chán chê, y thả thức ăn xuống. Lũ mèo chen lấn nhau quanh đĩa và bắt đầu ăn, kêu rừ rừ thích thú.