Hai Kinh Thành

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 42 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Thất Vọng
Thất Vọng

❊ ❊ ❊

Ngài Tổng chưởng lý phải cho bồi thẩm đoàn biết rằng bị cáo trước mặt họ, dù trẻ tuổi đời, nhưng lại già dặn trong những mưu đồ phản nghịch buộc y phải trả giá bằng sinh mạng. Rằng, việc thông đồng với địch quốc không phải là việc mới hôm nay, hay mới hôm qua, hay thậm chí mới năm ngoái hay năm trước nữa. Rằng, chắc chắn là bị cáo này, trong suốt thời gian dài hơn thế, đã thường xuyên qua lại giữa nước Pháp và nước Anh, để làm những việc bí mật mà y không hề thành thật khai báo. Rằng, nếu như những hành vi phản nghịch này mà tự nhiên phát triển (may thay điều này không hề xảy ra), thì sự nguy hại và tội lỗi đích thực của việc y làm có lẽ đã không bị phát hiện. Rằng, nhờ Thượng Đế thôi thúc một người có tấm lòng không biết sợ hãi, không ngại gian khó, đã khám phá ra bản chất các mưu đồ của y, và người này vì quá kinh hoảng nên bèn tố giác với quan Quốc vụ khanh và Hội đồng Cơ mật tôn kính. Rằng, người ái quốc này sẽ ra trình diện trước bồi thẩm đoàn. Rằng, địa vị và tư cách của người này hết thảy đều cao quý. Rằng, người này từng là bằng hữu của bị cáo kia, nhưng ngay thời khắc may mắn mà cũng bất hạnh, đã phát hiện ra tội lỗi của người bạn mà mình hết lòng yêu quý, người này đã quyết hiến tế kẻ phản nghịch kia trên bàn thờ Tổ quốc linh thiêng. Rằng, nếu Anh quốc mà cũng giống như Hy Lạp và La Mã xưa, ra sắc lệnh dựng tượng những ân nhân của đất nước, thì Công dân lỗi lạc này chắc chắn sẽ được tôn vinh. Rằng, do nước Anh không có sắc lệnh như thế, người này hẳn sẽ không được dựng tượng. Rằng, đạo đức vốn có tính lan truyền; nhất là cái đức độ sáng ngời của lòng ái quốc, hay tình yêu đất nước - điều đã được các thi nhân ghi nhận (trong nhiều câu thơ mà ngài

Tổng chưởng lý thừa biết là bồi thẩm đoàn ắt đã thuộc nằm lòng từng chữ một; nghe thế mặt mày của các vị bồi thẩm lộ rõ lương tâm tội lỗi vì họ không hề biết một câu nào cả). Rằng, tấm gương cao quý của nhân chứng trong sạch không thể hoài nghi này đối với Vương quốc, người mà ta không xứng đáng được vinh dự gọi tên, đã lan truyền sang người hầu của bị cáo và đã khiến gia nhân ấy có quyết tâm cao cả là lục lọi các túi áo và ngăn kéo của chủ và cất giấu đi nhiều giấy tờ. Rằng, ngài (Tổng chưởng lý) sẵn sàng nghe những lời gièm pha xúc phạm người hầu đáng ngưỡng mộ này; nhưng rằng, ngài còn quý mến người hầu này hơn cả anh chị em (của ngài Tổng chưởng lý) và kính trọng người hầu này hơn cả cha mẹ (của ngài Tổng chưởng lý). Rằng, ngài tự tin kêu gọi bồi thẩm đoàn hãy làm như ngài. Rằng, bằng cớ của hai nhân chứng này, cùng với những tài liệu họ đã phát hiện và sắp trình tòa, sẽ cho thấy bị cáo đã có được danh sách các lực lượng Hoàng gia, cùng kế hoạch bài binh bố trận, cả hải quân lẫn lục quân, không còn nghi ngờ gì nữa y đã thường xuyên chuyển những tin tức như vậy cho thế lực thù địch. Rằng, không thể chứng minh được các danh sách đó là do chính tay bị cáo viết ra; nhưng điều này không làm giảm tính nghiêm trọng mà lại giúp cho việc truy tố thêm thuận lợi; rằng, nó cho thấy bị cáo đã xảo quyệt đề phòng. Rằng, bằng chứng cho thấy từ năm năm trước bị cáo đã tiến hành những nhiệm vụ nguy hiểm này, chỉ trong vài tuần trước ngày xảy ra trận chiến đầu tiên giữa quân đội Anh và người Mỹ*. Rằng, vì những lý do đó, bồi thẩm đoàn - vốn là những người trung thành (vì ngài biết là họ như thế) và vốn là những người có trách nhiệm (vì họ biết là họ như thế) - dứt khoát phải xét thấy bị cáo có tội, và phải kết án tử hình, dù họ có muốn hay không. Rằng, họ không thể nào ăn ngon ngủ yên; rằng, họ không thể nào chấp nhận cái ý tưởng là vợ mình ăn ngon ngủ yên; rằng, họ không thể nào dung dưỡng cái suy nghĩ là con mình ăn ngon ngủ yên; tóm lại, không thể nào có ai, dù là họ hay vợ con, ăn ngon ngủ yên được nữa nếu bị cáo kia không bị chém đầu. Cái đầu đó ngài Tổng chưởng lý đòi hỏi bồi thẩm đoàn phải chặt cho được, nhân danh mọi thứ hay ho hợp lý mà ngài có thể nghĩ ra, và với niềm tin không lay chuyển, ngài long trọng kết luận là ngài coi như bị cáo đã chết chắc mười mươi.

Khi ngài Tổng chưởng lý ngừng lời, cả tòa án ồ lên xôn xao như một đàn ruồi xanh bu quanh phạm nhân kia, mong chờ cái kết anh ta sẽ đối mặt. Khi tiếng ồn ào lắng xuống, nhà ái quốc bất khả chê trách xuất hiện ở ghế nhân chứng.

Sau đó ngài Phó chưởng lý, theo hướng dẫn của ngài Tổng, chất vấn nhà ái quốc: một quý ông tên là John Barsad. Lời tự khai về lương tâm trong sạch của y cũng giống những gì ngài Tổng chưởng lý đã mô tả - có lẽ điều đáng chê trách là nó gần như y hệt lời ngài Tổng. Sau khi trút hết gánh nặng cao cả trong lòng, y lẽ ra đã khiêm tốn rút lui, nhưng vị trạng sư đội tóc giả cầm mớ giấy tờ ngồi trước mặt y, cách ông Lorry không xa, lại xin hỏi vài câu. Còn quý ông đội tóc giả đối diện trạng sư vẫn cứ ngước nhìn trần nhà.

Bản thân nhân chứng từng làm gián điệp bao giờ chưa? Chưa hề, y khinh bỉ lời ám chỉ hèn hạ đó. Nhân chứng sinh sống nhờ cái gì? Nhờ tài sản riêng. Tài sản của nhân chứng ở đâu ra? Nhân chứng không nhớ chính xác là ở đâu ra. Tài sản đó là gì? Việc riêng không thể công khai. Nhân chứng thừa kế tài sản đó phải không? Phải, y thừa nhận. Thừa kế của ai? Bà con xa. Rất xa? Khá xa. Từng vào tù chưa? Chắc chắn là không. Từng bị tù vì nợ nần chưa? Không hiểu điều đó có liên quan gì đến việc này. Từng bị tù vì nợ nần chưa?... Đấy, lại cứ hỏi! Có không? Có. Bao nhiêu lần? Hai hay ba lần. Không phải năm hay sáu lần sao? Có thể. Nhân chứng làm nghề gì? Quý tộc. Có bao giờ bị người khác đá chưa? Có lẽ có. Thường xuyên không? Không.

Có bao giờ bị đá lăn xuống cầu thang không? Chắc chắn là không; có một lần bị đá trên đầu cầu thang, và nhân chứng tự ý lăn xuống. Bị đá vì chơi xúc xắc gian lận phải không? Thằng say hành hung tôi đã nói láo đại khái như thế, nhưng điều đó không đúng. Có dám thề là điều đó không đúng không? Chắc chắn. Đã từng kiếm sống bằng cờ gian bạc lận chưa? Không hề. Đã từng kiếm sống bằng cờ bạc chưa? Cũng như mọi người khác thôi. Có bao giờ mượn tiền của bị cáo kia không? Có. Đã trả tiền lại chưa? Chưa. Có phải thân tình của nhân chứng với bị cáo kia thực tế là quan hệ rất sơ giao, chỉ do những lần tình cờ gặp bị cáo trên xe ngựa, trong lữ quán, và trên những chuyến tàu thủy? Không phải. Có chắc là nhân chứng thấy bị cáo có các bản danh sách này không? Chắc chắn. Có biết gì hơn về các danh sách này không? Không. Không phải nhân chứng đã đích thân tìm cách lấy được các giấy tờ này, phải vậy không? Không. Với các tang vật này thì nhân chứng hy vọng được thưởng gì đó không? Không có. Nhân chứng không ăn lương chính phủ và được thuê để hãm hại người khác chứ? Ôi trời, không. Hay để làm chuyện gì khác? Ôi trời, không có. Dám thề không? Xin thề hàng ngàn lần là không. Nhân chứng không hề có động cơ nào ngoài lòng ái quốc thôi sao? Không hề có động cơ nào khác.

Tới lượt người hầu đức hạnh Roger Cly ào ào tuyên thệ trước cuộc chất vấn. Y đã hoàn toàn tin tưởng làm việc cho bị cáo từ bốn năm trước và không hề hay biết gì. Y đã hỏi bị cáo trên chuyến tàu Calais là bị cáo có cần người giúp việc không và bị cáo đã thuê y. Không phải y xin bị cáo vì lòng nhân đức mà cho y theo hầu - không hề có ý nghĩ đó. Chẳng bao lâu sau, y bắt đầu nghi ngờ bị cáo và để ý theo dõi. Khi soạn áo quần cho bị cáo, trong lúc đi xa, y đã nhìn thấy những danh sách giống như những danh sách này trong các túi áo của bị cáo, rất nhiều lần. Y đã lấy các danh sách này trong ngăn kéo bàn giấy của bị cáo. Không phải y đã bỏ các giấy tờ đó vào trong ngăn kéo ngay từ đầu. Y đã nhìn thấy bị cáo đưa các danh sách giống như vậy cho nhiều người Pháp ở Calais xem, và đưa các danh sách tương tự cho nhiều người Pháp ở cả Calais lẫn Boulogne xem. Y yêu nước và không thể chấp nhận điều đó nên đã đi tố cáo. Y chưa từng bị nghi ngờ là đã ăn cắp một ấm trà bằng bạc; y đã bị vu khống là ăn cắp một lọ mù tạt, nhưng hóa ra đó chỉ là đồ mạ bạc. Y đã quen biết nhân chứng vừa rồi từ bảy hay tám năm qua; điều đó chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên. Y không cho đó là điều ngẫu nhiên kỳ lạ gì lắm bởi vì chuyện ngẫu nhiên nào cũng kỳ lạ cả. Mà y cũng không cho là ngẫu nhiên kỳ lạ khi động cơ duy nhất của y cũng chính là lòng ái quốc. Y là dân Anh chân chính và hy vọng nhiều người cũng giống như y.

Khắp tòa lại vang tiếng ruồi xanh và ngài Tổng chưởng lý gọi ông Jarvis Lorry làm chứng.

Ông Jarvis Lorry, có phải ông là nhân viên Ngân hàng Tellson không?

Đúng vậy.

Vào một ngày thứ Sáu trong tháng Mười một năm 1775, có phải vì công việc mà ông đã đi từ London đến Dover bằng xe thư không?

Đúng vậy.

Trên xe thư có hành khách nào khác không?

Hai người.

Có phải họ xuống xe dọc đường trong đêm không?

Đúng vậy.

Ông Lorry, hãy nhìn bị cáo kia. Có phải bị cáo là một trong hai hành khách đó không?

Tôi không thể trả lời câu hỏi này.

Bị cáo có giống ai trong hai hành khách đó không?

Cả hai đều trùm áo choàng kín mít, đêm tối đen, và chúng tôi ai cũng đều e dè nên tôi không thể trả lời ngay cả câu hỏi này.

Ông Lorry, hãy nhìn bị cáo lần nữa. Giả sử bị cáo trùm áo choàng kín mít như hai hành khách kia, vậy xét vóc dáng và chiều cao thì bị cáo có giống người nào trong hai hành khách kia không?

Không.

Ông Lorry, ông có dám thề là bị cáo không phải là một trong hai hành khách kia không?

Không.

Vậy ít nhất thì ông cũng cho rằng bị cáo có khả năng là một trong hai người đó chứ?

Vâng. Chỉ có điều là tôi nhớ cả hai người đó... giống như tôi vậy... đều sợ hãi bọn cướp đường, còn người này không có vẻ gì là sợ hãi.

Có khi nào ông thấy người khác giả vờ nhút nhát chưa, ông Lorry?

Chắc chắn là tôi đã từng thấy.

Ông Lorry, hãy nhìn bị cáo lần nữa. Ông có chắc chắn là đã từng gặp bị cáo trước đây không?

Tôi đã gặp.

Lúc nào?

Lúc đó là mấy ngày sau, khi tôi từ Pháp trở về, và ở Calais, người này đã lên chiếc tàu đưa tôi về nước, và đã đi cùng chuyến với tôi.

Bị cáo lên tàu vào giờ nào?

Sau nửa đêm một chút.

Ngay giữa đêm khuya. Có phải bị cáo là hành khách duy nhất lên tàu vào giờ khuya khoắt đó không?

Tình cờ người này là người duy nhất.

Đừng bận tâm chuyện “tình cờ,” ông Lorry. Bị cáo là hành khách duy nhất lên tàu vào lúc nửa đêm phải không?

Đúng vậy.

Lúc đó ông đang đi một mình hay đi cùng ai, ông Lorry?

Cùng hai người đồng hành. Một quý ông và một cô nương. Họ đang có mặt tại tòa.

Họ đang có mặt tại tòa. Lúc đó ông có trò chuyện gì với bị cáo không?

Hoàn toàn không. Trời giông bão, chuyến đi lại dài và biển động, tôi hầu như nằm dài trên sofa từ bờ này sang bờ kia.

Tiểu thư Manette!

Cô gái đứng lên tại chỗ ngồi, mọi con mắt lúc nãy nhìn cô giờ lại quay về phía ấy. Người cha đứng lên theo, vẫn khoác tay cô con gái.

Tiểu thư Manette, hãy nhìn bị cáo.

Đối với phạm nhân, việc phải đối mặt với với lòng thương xót dường ấy, nhan sắc thanh xuân dường ấy, còn khó khăn bội phần so với việc đối mặt với cả đám đông này. Dù không nao núng khi đang đứng cận kề huyệt mộ, thách thức mọi ánh mắt tò mò đang theo dõi, anh ta trong một thoáng vẫn mất bình tĩnh trước ánh mắt của cô gái. Bàn tay phải phạm nhân hấp tấp gạt mớ dược thảo trước mặt thành những bồn hoa tưởng tượng; và nỗ lực cố giữ đều nhịp thở đã khiến đôi môi anh run rẩy, tái nhợt đi như thể máu đang chảy ngược về tim. Đám ruồi xanh lại ồn ào vo ve.

Tiểu thư Manette, cô đã từng gặp bị cáo bao giờ chưa?

Thưa, có.

Ở đâu?

Trên chiếc tàu đưa thư mới vừa nhắc tới, thưa ông, và cùng một dịp đó.

Cô chính là tiểu thư vừa được nhắc tới phải không?

Ôi! Bất hạnh thay chính là tôi!

Giọng não nùng đầy thương cảm của cô gái bị lấn át bởi giọng nói hung hăng không mấy êm ái của ông Chánh án: “Hãy trả lời đúng câu hỏi chứ không được nêu nhận xét gì hết.”

Tiểu thư Manette, cô có trò chuyện gì với bị cáo trên chuyến đi vượt qua eo biển đó không?

Có, thưa ông.

Hãy kể lại.

Lúc quý ông đó lên tàu...

Cô muốn nói tới bị cáo phải không? - Chánh án cau mày hỏi.

Vâng, thưa Chánh án.

Vậy thì phải gọi y là bị cáo.

Khi bị cáo lên tàu, anh ta thấy cha tôi, - cô gái hướng ánh mắt trìu mến về người đứng cạnh bên, - quá mệt và sức khỏe suy kiệt. Cha tôi yếu tới mức tôi sợ ông khó thở, nên đã dọn giường cho cha nằm trên boong gần các bậc cấp dẫn vào buồng, còn tôi ngồi trên boong cạnh cha để chăm sóc. Đêm ấy không có hành khách nào khác ngoại trừ bốn người chúng tôi. Bị cáo đã tử tế xin mạn phép chỉ dẫn cách che chắn cho cha tôi khỏi bị mưa gió, còn tốt hơn tôi làm nữa. Tôi không làm được như thế vì tôi không biết gió sẽ thổi hướng nào khi tàu rời cảng. Anh ta làm giúp cho tôi. Anh ta tỏ ra hết sức ân cần và tử tế lo cho tình trạng sức khỏe của cha tôi, và tôi tin chắc là anh ta thật lòng. Chúng tôi đã bắt chuyện với nhau như vậy đó.

Cho tôi ngắt lời cô một chút. Bị cáo đã lên tàu một mình phải không?

Không.

Bao nhiêu người đã đi cùng y?

Hai quý ông người Pháp.

Họ có bàn bạc gì với nhau không?

Họ đã bàn bạc cho tới phút chót, khi các quý ông người Pháp kia phải rời tàu xuống thuyền của họ.

Họ có trao đổi giấy tờ gì giống như các bản danh sách này không?

Họ có trao đổi giấy tờ gì đó, nhưng tôi không biết giấy tờ gì.

Có giống hình dáng và kích cỡ như các giấy tờ này không?

Có thể, nhưng quả thực là tôi không biết, mặc dù họ đứng nói thầm thì sát bên tôi; do trên đầu bậc cấp dẫn xuống buồng ngủ có treo ngọn đèn nên họ đứng ở đó cho sáng; ánh đèn rất tù mù, và họ nói rất nhỏ, tôi không nghe được họ nói gì mà chỉ thấy họ xem các giấy tờ.

Bây giờ hãy nói về cuộc trò chuyện với bị cáo, tiểu thư Manette.

Bị cáo tỏ ra thẳng thắn và đáng tin tưởng... vì trong hoàn cảnh đó tôi không biết làm sao... vì anh ta cũng ân cần, tử tế với tôi giống như với cha tôi vậy. Tôi mong là... - cô gái bật khóc - ...là hôm nay tôi không phải đáp đền bằng những lời gây hại cho anh ta.

Đàn ruồi xanh lại xôn xao.

Tiểu thư Manette, nếu như bị cáo hoàn toàn không hiểu rằng cô đã hết sức miễn cưỡng khi cung cấp bằng chứng mà cô có bổn phận cung cấp, bằng chứng mà cô phải cung cấp, và bằng chứng mà cô không thể không cung cấp, thì trừ bị cáo ra còn ai ở đây cũng hiểu. Vui lòng nói tiếp đi.

Anh ta bảo tôi là anh đang đi làm một việc tế nhị và khó khăn, một việc có thể gây rắc rối cho nhiều người, vì thế anh ta dùng tên giả khi đi lại. Anh ta đã nói là công việc này, sau vài ngày nữa, sẽ đưa anh ta quay lại Pháp, và có thể còn phải qua lại nhiều lần giữa Pháp và Anh trong một thời gian dài sắp tới.

Bị cáo có nói bất cứ điều gì về chuyện bên Mỹ không, tiểu thư Manette? Hãy nói rõ.

Anh ta cố giải thích cho tôi hiểu là chuyện xung đột đã nảy sinh như thế nào, và anh ta nói là, theo suy xét của anh ta, phía Anh quốc đã sai lầm và ngu xuẩn. Anh ta có bông đùa nói thêm là có lẽ George Washington rồi sẽ lừng danh trong lịch sử giống như vua George Đệ Tam. Nhưng anh ta nói thế không có ác ý gì; đó chỉ là nói để cười vui cho quên thời gian.

Mọi biểu lộ nổi bật nào trên nét mặt của vai diễn chính trong một màn kịch thu hút người xem đều sẽ được khán giả vô tình bắt chước theo, vầng trán cô gái chau lại vì tập trung và lo lắng đến đau khổ trong lúc cô khai trước tòa, và trong những lúc cô tạm ngừng lời cho ngài Chánh án ghi chép, và quan sát phản ứng của các vị chức trách bên bào chữa lẫn bên buộc tội. Khắp tòa án, mọi kẻ hiếu kỳ vào xem đều có chung nét mặt đó; tới mức khi Chánh án buông giấy bút ngước nhìn lên, mặt hầm hầm vì lời nhận xét hết sức phạm thượng về George Washington, thì đại đa số các vầng trán ở đây đều trở thành những tấm gương phản chiếu cảm xúc của cô gái nhân chứng.

Tổng chưởng lý bây giờ ra dấu với Chánh án tỏ ý đến lúc cần chất vấn bác sĩ Manette, cha cô gái, cho đúng thủ tục và để phòng xa. Người này được gọi ra làm chứng.

- Bác sĩ Manette, hãy nhìn bị cáo kia. Ông đã từng gặp bị cáo bao giờ chưa?

Có một lần. Khi người này ghé đến nhà tôi ở London. Khoảng ba năm hoặc ba năm rưỡi trước.

Ông có nhận biết được bị cáo là người cùng đi trên chuyến tàu đó, hay đã trò chuyện với con gái ông không?

Thưa Tòa, cả hai việc đó tôi đều không biết.

Có lý do cụ thể và đặc biệt nào khiến ông không nhận biết được cả hai việc đó không?

Có, - ông nhỏ nhẹ trả lời.

Bác sĩ Manette, ở nước Pháp ông đã bị tù một thời gian dài, không có xét xử, hay thậm chí không có tội trạng, có đúng không?

Ở tù rất lâu, - giọng ông trả lời khiến ai cũng phải động lòng.

Khi đi chuyến tàu đó, ông mới ra tù chưa được bao lâu phải không?

Người ta bảo tôi thế.

Ông không nhớ gì về chuyến tàu đó sao?

Không. Tôi đã mất trí nhớ suốt một thời gian dài... thậm chí tôi còn không biết bao lâu... từ khi tôi bắt đầu làm giày trong tù, cho đến khi tôi thấy mình ở London với ái nữ của tôi đây. Tôi đã nhận ra con gái tôi khi Chúa cho tôi phục hồi trí nhớ; nhưng tôi vẫn không biết làm sao tôi lại về gặp con mình được. Tôi không hề nhớ chuyện đó xảy ra như thế nào.

Tổng chưởng lý ngồi xuống và hai cha con cũng ngồi xuống một lượt.

Rồi xảy ra một tình huống lạ trong vụ xét xử. Mục tiêu chính là chứng minh rằng phạm nhân đã cùng một đồng lõa chưa được biết đi trên chuyến xe thư Dover vào đêm thứ Sáu tháng Mười một năm năm trước, đã xuống xe trong đêm để đánh lạc hướng, xuống xe tại một nơi y không ở lại mà đi ngược đường cũ chừng mười hai dặm hoặc hơn, tới nơi có một căn cứ đóng quân và xưởng đóng tàu rồi thu thập thông tin tại đó; một nhân chứng được gọi ra xác nhận bị cáo đã có mặt đúng vào thời điểm ấy, trong phòng ăn của một khách sạn ở thành phố có đồn binh và xưởng tàu ấy, để chờ gặp một người khác. Trạng sư bào chữa còn đang chất vấn nhân chứng này mà không có kết quả gì, ngoại trừ lời nhân chứng thừa nhận chưa hề gặp bị cáo trong bất kỳ trường hợp nào khác, thì quý ông đội tóc giả nãy giờ vẫn dán mắt lên trần nhà mới viết mấy chữ vào một mẩu giấy, vo lại, rồi thảy cho trạng sư. Lúc tạm dừng giữa hai câu hỏi, trạng sư mở mẩu giấy ra đọc rồi hết sức chăm chú và tò mò hướng mắt về phía phạm nhân.

Ông dám nói lần nữa là ông chắc chắn đó là bị cáo này không? Nhân chứng hoàn toàn chắc chắn.

Ông có bao giờ thấy ai rất giống bị cáo này không?

Không giống tới mức có thể nhầm lẫn được, - nhân chứng nói.

Hãy nhìn cho kĩ quý ông kia, quý đồng nghiệp của tôi đó, - trạng sư chỉ về phía người ném mẩu giấy, - rồi hãy nhìn cho kĩ bị cáo kia. Ông nói sao đây? Họ có giống hệt nhau không?

Ngoại trừ cái vẻ bất cần và luộm thuộm nếu không nói là bệ rạc của quý đồng nghiệp chúng ta ra, hai người kia giống nhau đến mức cả nhân chứng lẫn mọi người trong tòa đều sửng sốt khi nhận ra nhân dạng. Sau khi ngài Chánh án yêu cầu quý đồng nghiệp của chúng ta bỏ bộ tóc giả ra và anh ta làm theo với vẻ khó chịu, sự giống nhau càng thêm rõ rệt đến kỳ lạ. Chánh án hỏi ông Stryver (trạng sư bào chữa) rằng có phải họ định xử ông Carton (quý đồng nghiệp của chúng ta) về tội phản nghịch không? Ông Stryver trả lời rằng không, nhưng ông sẽ hỏi nhân chứng có dám chắc rằng điều gì đã xảy ra một lần thì không thể tái diễn không; nhân chứng có dám hấp tấp đinh ninh đã      gặp bị cáo      kia nếu như đã từng gặp trường      hợp người giống người như vậy không;      và      bây giờ đã gặp rồi thì có còn quả      quyết nữa không, cùng nhiều câu hỏi khác. Kết quả là uy tín của nhân chứng trước tòa bị đập nát như cái      lọ sành,      lời      khai của hắn trở thành đống mảnh vụn vô dụng.

Đến      lúc này      thì      Cruncher đã mút no nê cái vị gỉ      sét tanh tanh trên mấy ngón tay mình thay cho bữa ăn trưa trong lúc theo dõi các lời khai. Bây giờ y lắng nghe ông Stryver bác bỏ những chứng cớ buộc tội, giống như đang may đo một bộ đồ cho vừa vặn với bồi thẩm đoàn; trạng sư cho họ thấy người ái quốc Barsad chính là một tên ăn tiền để theo dõi và phản bội, một tên buôn người vô liêm sỉ, và thuộc hạng người ác độc nhất trên đời kể từ thời Judas phản Chúa - mà tên này mặt mày cũng giống Judas thật. Còn tên gia nhân đức hạnh Cly kia là bạn và đồng lõa của Barsad, cũng chẳng tốt đẹp gì hơn; trạng sư chứng minh rằng hai kẻ làm chứng gian trá, tuyên thệ láo này đã để tới bị cáo và nảy ra ý hãm hại như thế nào; còn bị cáo, do gốc gác là người Pháp, nên có công việc cần phải vượt biển qua lại giữa hai nước nhiều lần - các việc đó liên quan đến những người gần gũi, thân thiết nhất của anh ta cho nên dẫu có chết anh cũng không tiết lộ. Trạng sư chứng minh rằng lời khai của cô gái kia, ai cũng thấy cô ta đã khổ sở thế nào khi làm chứng, đã bị xuyên tạc, gò ép thành những bằng chứng vô giá trị; đó chỉ là những lời lịch sự, nhã nhặn vô tư mà bất kỳ quý cậu, quý cô nào gặp nhau đều có thể chuyện trò qua lại, - ngoại trừ lời bình phẩm về George Washington hết sức ngông cuồng, chỉ có thể xem đó là một câu nói đùa bậy bạ không hơn không kém. Trạng sư chứng minh đây sẽ là một điểm yếu kém trong việc cai trị khi phá hỏng cái nỗ lực làm cho thần dân yêu mến bằng những nỗi sợ hãi và oán ghét gieo rắc trong công chúng, và đó là điều mà ngài Tổng chưởng lý đã khai thác tối đa; tuy nhiên, điều này chẳng hề có ý nghĩa nào ngoài việc tính chất đê hèn và bỉ ổi của các bằng chứng lại thường bêu xấu chính những vụ xét xử như thế, và chuyện đó đầy rẫy trong các tập Quốc Sự Án Lệ* của nước ta. Nhưng tới đây thì ngài Chánh án ngắt lời (với bộ mặt nghiêm trọng làm như trạng sư đã không nói đúng sự thật), và tuyên bố ông ta không thể chấp nhận những lời ám chỉ đó khi đang xử án.

Ông Stryver bèn gọi thêm vài nhân chứng của mình, và sau đó Cruncher lại chăm chú nghe ngài Tổng chưởng lý lộn ngược bộ đồ mà ông Stryver đã mặc cho bồi thẩm đoàn; ngài Tổng chứng minh rằng Barsad và Cly là hai người thậm chí còn tốt đẹp hơn ngài tưởng cả trăm lần, còn phạm nhân thì xấu xa hơn cả trăm lần. Cuối cùng, tới lượt ngài Chánh án lúc thì lộn ngược, lúc thì lộn xuôi bộ đồ ấy, nhưng nói chung ngài đã quyết cắt xén nó thành chiếc áo liệm khoác cho phạm nhân.

Bây giờ tới lúc bồi thẩm đoàn hội ý và đàn ruồi xanh lại bu tới vo ve. Ngay trong cảnh nhộn nhịp này, trạng sư Carton - người nãy giờ cứ ngồi nhìn lên trần nhà - cũng không hề đổi tư thế hay thái độ. Trong khi quý đồng nghiệp Stryver vừa gom góp mớ giấy tờ trước mặt vừa nói thầm với mấy người ngồi gần, thỉnh thoảng lại lo âu liếc nhìn bồi thẩm đoàn; trong khi mọi người dự phiên tòa không ít thì nhiều đều di chuyển và tụ tập thành những nhóm mới; trong khi cả ngài Chánh án cũng rời khỏi ghế, chầm chậm đi tới đi lui trên bục, khiến đám đông không tránh khỏi ngờ vực rằng ngài đang nôn nóng trong lòng; chỉ có mỗi Carton vẫn ngả lưng ra ghế, chiếc áo choàng cũ như muốn tuột khỏi bờ vai, bộ tóc giả bù rối chụp bừa trên đầu cứ như đang phản đối việc bị lột bỏ xuống lúc nãy, hai bàn tay thọc trong túi, ánh mắt vẫn đóng đinh lên trần. Thái độ rất khinh mạn ấy không những khiến anh ta có vẻ gì đó bất hảo mà còn làm giảm bớt sự giống nhau không thể phủ nhận với phạm nhân kia (ấn tượng giống nhau ấy rõ mồn một khi anh ta tạm thời tỏ ra nghiêm túc để mọi người so sánh nhân dạng), tới mức nhiều người xem xử án bây giờ để ý tới Carton lại bảo nhau sao chẳng thấy người này và bị cáo giống nhau mấy. Cruncher nhận xét như vậy với người đứng cạnh bên rồi nói thêm:

Tôi dám cá nửa đồng guinea nà tay trạng sư này chẳng mấy ai thuê cãi. Trông chả giống gì noại trạng sư có việc để nàm, đúng không?

Thế như chàng Carton này coi vậy chứ lại quan sát rõ mọi chuyện trong tòa; bởi vì lúc này, khi tiểu thư Manette ngả gục đầu trong lòng người cha thì chính anh ta là người nhìn thấy đầu tiên và nói to:

Chấp pháp đâu?! Hãy lo cho quý cô đó. Giúp quý ông kia đưa cô gái ra ngoài. Không thấy cô ta sắp ngất sao?!

Đám đông rất ái ngại cho cô gái cũng như thương cảm cho người cha khi cô gái được đưa ra ngoài. Người cha rõ ràng đã khốn khổ hết sức khi phải nhớ lại những ngày bị giam cầm. Ông ta đã xúc động mạnh khi bị chất vấn, và từ lúc đó trông ông ta già hơn hẳn vì nét mặt mãi ủ ê, tư lự như bị mây đen che phủ. Trong lúc ông đi ra, bồi thẩm đoàn đã quay mặt lại và tạm nghỉ để trưởng ban hội thẩm đại diện nói với tòa.

Bồi thẩm đoàn đã không có ý kiến chung và muốn lùi vào phòng hội ý riêng. Ngài Chánh án (trong đầu chắc còn bận tâm về George Washington) có phần ngạc nhiên vì ban hội thẩm không nhất trí, nhưng bằng lòng cho họ họp kín dưới sự giám sát, và chính ngài cũng tạm rút lui. Vụ xét xử đã kéo dài suốt ngày, đèn đuốc trong tòa giờ đang được thắp lên. Người ta bắt đầu kháo nhau là bồi thẩm đoàn sẽ họp khá lâu. Đám khán giả bèn tản đi giải lao, và phạm nhân lui về cuối vành móng ngựa rồi ngồi xuống đợi chờ số phận.

Ông Lorry lúc nãy đi ra theo cha con cô gái giờ lại quay vào và ra hiệu cho Jerry; người liên lạc dễ dàng tới chỗ ông khi cảnh hiếu kỳ chung quanh đã lắng xuống.

Jerry, nếu chú muốn kiếm gì ăn thì cứ đi. Nhưng phải ở gần đây. Chú phải để ý xem khi nào bồi thẩm đoàn quay lại là theo họ ngay không được chậm trễ, vì tôi cần chú chuyển lời tuyên án về cho ngân hàng. Chú là người liên lạc nhanh nhất mà tôi biết, chắc chắn chú sẽ về tới Temple Bar trước tôi rất lâu.

Jerry chỉ còn biết đưa ngón tay lên gõ vào trán, y gõ trán để xác nhận lời truyền đạt này và một đồng shilling kèm theo. Lúc đó trạng sư Carton xuất hiện và nắm lấy cánh tay ông Lorry:

Quý cô ấy thế nào rồi?

Cô ấy hết sức khốn khổ; nhưng cha cô đang an ủi, và ra khỏi tòa thì cô ấy khỏe lại rồi.

Tôi sẽ cho phạm nhân biết như thế. Người ta mà thấy người khả kính của ngân hàng như ông nói chuyện công khai với y thì không tiện, ông biết mà.

Ông Lorry đỏ mặt lên như thể ông cũng đang thầm đắn đo chuyện đó trong lòng, thế là Carton đi lần tới phía ngoài vành móng ngựa. Lối ra khỏi tòa án cũng theo hướng đó, và Jerry đi theo, trố mắt, căng tai, tóc dựng tua tủa.

Tôi chắc là anh nóng lòng muốn biết tin về nhân chứng, tiểu thư Manette. Cô ấy sẽ ổn thôi. Lúc nãy anh đã thấy cô ấy xúc động quá.

Tôi rất tiếc đã gây ra chuyện này. Anh mà chuyển lời đến cô ấy giúp thì tôi biết ơn lắm.

- Được thôi. Tôi sẽ chuyển lời, nếu anh muốn.

Thái độ của Carton đầy vẻ bất cần tới mức xấc xược. Anh ta đứng đó, uể oải tì cùi chỏ vào vành móng ngựa, không buồn nhìn thẳng về phía phạm nhân.

Xin anh giúp cho. Tôi chân thành cảm ơn anh.

Này, anh Darnay, - Carton nói mà vẫn không nhìn thẳng mặt người nghe, - anh chờ đợi kết án gì?

Án nặng nhất.

Chờ đợi thế là khôn ngoan nhất, và đó là khả năng cao nhất.

Nhưng tôi nghĩ họ lui vào hội ý là có lợi cho anh đấy.

Tòa án không cho phép nấn ná lâu hơn, Jerry đi ra khỏi tòa không nghe được gì nữa; mặc cho hai người - diện mạo giống hệt nhau nhưng phong thái hoàn toàn trái ngược - đứng bên nhau, cùng phản chiếu hình bóng lên tấm gương trên trần.

Một giờ rưỡi lê thê chậm chạp trôi qua trong các hành lang chen chúc đám đầu trâu mặt ngựa bên dưới, bất kể bao nhiêu bia và pa-tê cừu đã chui vào bao tử. Người liên lạc giọng khàn ngồi bồn chồn trên một băng ghế, sau một hồi ngẫm nghĩ chợt ngủ thiếp đi cho tới lúc tiếng lao xao và dòng người cuồn cuộn đi lên các cầu thang dẫn vào tòa án đã lôi y dậy, cuốn y theo.

Jerry! Jerry! - Ông Lorry đã đứng ngóng ở ngưỡng cửa gọi to khi y vừa tới nơi.

Dạ, tôi đây! Chen nấn mãi mới về được. Tôi đây, thưa ông!

Ông Lorry với tay qua đám đông đưa cho y một tờ giấy.

Mau lên! Lấy được chưa?

Dạ nấy rồi.

Viết vội trên tờ giấy là hai chữ “THA BỔNG”.

Nếu ông mà nhắn tin nà “Hồi sinh” như nần trước, - Jerry lẩm bẩm khi quay đi, - thì nần này tôi đã hiểu ngay ông muốn nói gì rồi.

Jerry không còn cơ hội để nói hay thậm chí suy nghĩ gì khác cho đến lúc ra khỏi Tòa Đại hình Old Bailey; bởi vì y phải chạy hộc tốc để khỏi bị xô ngã bởi đám đông đang ào ạt túa ra và tiếng vo ve náo động tràn xuống đường cứ như một đàn ruồi xanh thất vọng đang tản đi tìm cái xác thối khác.

bèn đắc ý chỉ trỏ hết xe tù này đến xe khác cứ như một nhà sưu tầm cổ ngoạn hay một chuyên gia sành điệu đang giảng giải rằng hôm qua, hôm kia ai đã ngồi trên những cỗ xe định mệnh ấy. Người ngồi trên xe có kẻ dửng dưng nhìn những cảnh đó
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.