Lâu đài của ngài Hầu tước là một tòa nhà nguy nga tráng lệ, phía trước là một sân lát đá và hai cầu thang bằng đá uốn cong lên nối liền với hai đầu hàng hiên lát đá trước cửa chính. Một cơ ngơi toàn đá, với những bao lơn đá, bình đá, hoa đá, mặt người đá, đầu sư tử đá ở khắp mọi nơi. Cứ như mọi vật đã hóa đá trước cái nhìn của thần Gorgon khi lâu đài xây xong hai thế kỷ trước.
Ngọn đuốc dẫn đầu, ngài Hầu tước xuống xe đi lên dãy bậc thang thấp; bước chân đủ khuấy động bóng tối khiến một con cú đậu trên mái dãy chuồng ngựa bề thế thấp thoáng sau rặng cây phải rúc lên một tiếng to phản đối. Bốn bề đều im ắng, tới mức ngọn đuốc đang được mang lên cầu thang và ngọn đuốc khác cắm trước cửa chính cứ cháy êm như đang ở trong phòng khánh tiết chứ không phải giữa trời đêm. Ngoài tiếng cú rúc ấy không nghe một âm thanh nào, ngoại trừ tiếng nước ở đài phun chảy xuống bồn đá; tưởng chừng đêm đen đang rún thở hàng giờ liền bỗng khẽ buông một hơi dài lê thê rồi nín thở trở lại.
Cửa chính ầm ầm đóng lại sau lưng, ngài Hầu tước băng qua đại sảnh âm u đáng sợ, nơi trưng bày những đồ săn bắn cũ như giáo đâm heo rừng, gươm, dao săn; và càng đáng sợ hơn với đủ thứ gậy roi quất ngựa mà nhiều nông dân trước khi được thần chết gia ân đã nếm đòn vì cơn thịnh nộ của quan lớn.
Tránh các phòng lớn tối tăm đã khóa kín đêm nay, ngài Hầu tước đi theo người cầm đuốc lên cầu thang tới một cánh cửa hành lang. Cánh cửa mở ra đón ngài vào một gian riêng có ba phòng: phòng ngủ và hai phòng khác. Những căn phòng vòm cao với sàn đá lạnh không trải thảm, những vỉ lớn trên nền lò sưởi để đốt củi mùa đông, và mọi thứ xa hoa xứng với địa vị Hầu tước ở thời đại và đất nước xa hoa này. Đồ đạc sang trọng đúng kiểu mấy đời Louis trước - vua Louis XIV - nhưng là một dòng dõi hẳn sẽ mãi mãi cai trị*; lại thêm đa dạng nhờ các món khác mang dấu ấn nhiều thời kỳ lịch sử Pháp quốc.
Một bàn ăn đã bày sẵn cho hai người trong phòng thứ ba; căn phòng hình tròn nằm ở một trong bốn ngọn tháp chóp nhọn giống như cái chụp nến. Phòng nhỏ trần cao, cửa sổ mở rộng nhưng che kín bằng tấm mành gỗ lá sách cho nên chỉ thấy đêm đen là những đường nhỏ nằm ngang xen kẽ với những vạch lớn màu xám.
Dọn sẵn cho cháu ta à, - Hầu tước vừa nói vừa liếc nhìn bàn ăn, - nghe gia nhân nói là chưa đến.
Công tử chưa đến, nhưng quan lớn lại đang chờ đợi cậu ấy.
A! Có thể cậu ta sẽ không đến đêm nay đâu; dù vậy cứ để bàn ăn đó. Ta sẽ ăn tối trong mười lăm phút nữa.
Mười lăm phút sau, quan lớn đã sẵn sàng, ngồi một mình dùng bữa ăn ê hề, thịnh soạn. Ghế ngài đối diện với cửa sổ, đã xong món súp, ngài mới nâng ly rượu Bordeaux lên môi liền đặt xuống ngay.
Cái gì thế? - Hầu tước bình thản hỏi, mắt chăm chú nhìn những vạch đen xám xen kẽ trên mành cửa.
Bẩm quan lớn? Cái gì ạ?
Bên ngoài mành cửa. Kéo mành ra.
Mành đã kéo.
Sao?
Bẩm quan lớn, không có gì cả ạ. Ở đây chỉ toàn cây lá và bóng đêm ạ.
Người hầu nói sau khi đã mở toang mành cửa, đã nhìn ra trời đen trống rỗng, và đã quay lưng lại nhìn Hầu tước chờ lệnh.
Tốt, - chủ nhân điềm tĩnh bảo. - Đóng lại đi.
Mành đã đóng, và Hầu tước tiếp tục dùng bữa. Hầu tước đang ăn nửa chừng lại ngưng, ly rượu trên tay. Có tiếng xe lăn bánh. Tiếng xe đến gần thật nhanh rồi dừng ngay trước lâu đài.
Hỏi xem ai đến.
Chính là cháu của quan lớn. Lúc đầu buổi chiều, anh ta đi sau quan lớn vài dặm. Người cháu đã cố rút ngắn khoảng cách thật nhanh nhưng không thể đuổi kịp ông chú trên đường. Ở dịch trạm, anh nghe nói quan lớn đã đi trước rồi.
Gia nhân bảo bữa tối đã chờ sẵn trên lầu và quan lớn muốn cậu cùng dùng bữa. Một lát sau anh ta lên tới nơi. Ở Anh quốc mọi người gọi anh là Charles Darnay.
Quan lớn đón cháu đúng phép lịch sự nhưng hai người không bắt tay nhau.
Chú đã rời Paris hôm qua à, thưa chú? - Anh hỏi Hầu tước lúc ngồi vào bàn.
Hôm qua. Còn cậu?
Tôi đi thẳng tới đây.
Từ London à?
Vâng.
Cậu đi tốn thời gian quá đó, - Hầu tước vừa nói vừa cười.
Ngược lại, tôi đã đi thẳng một mạch.
Xin lỗi! Ý ta không phải là thời gian đi đường, mà là thời gian để quyết định lên đường.
Tôi bị cản trở vì... - người cháu đáp ngập ngừng, - ...nhiều chuyện.
Hẳn thế rồi, - ông chú lịch sự nói.
Còn có mặt người hầu thì họ không nói thêm lời nào nữa. Khi cà phê đã dọn ra và chỉ còn lại hai người, người cháu nhìn chú, nhìn thẳng vào đôi mắt của diện mạo như chiếc mặt nạ thanh tú kia, và mở đầu câu chuyện.
Tôi đã quay lại, thưa ngài, như ngài đã biết, để tiếp tục cái mục đích khiến tôi đã phải ra đi. Mục đích ấy đã đẩy tôi vào chỗ hiểm nguy khôn lường; nhưng đó là mục đích thiêng liêng và nếu vì nó mà phải chết thì tôi vẫn mong theo đuổi tới cùng.
Đừng nói “chết”, - lời ông chú, - không cần phải nói “chết” làm gì.
Tôi nghi ngờ điều đó, - người cháu đáp lại, - nếu vì nó mà tôi bị đẩy tới chỗ chết thì không biết ngài có ngăn cản tôi lại không.
Những dấu hằn sâu trên đầu mũi và những nếp nhăn mảnh chạy dài trên gương mặt tàn nhẫn kia trông lành ít dữ nhiều; ông chú phác một cử chỉ phản đối nhã nhặn nhưng rõ ràng đó chỉ là một dấu hiệu lịch sự chứ không phải là trấn an.
Thưa ngài, - người cháu nói tiếp, - thật ra, theo những gì tôi biết, có thể ngài đã cố tình dàn xếp khiến cho hoàn cảnh vốn đã khả nghi của tôi càng thêm khả nghi.
Không, không, không, - ông chú nói, giọng vui vẻ.
Nhưng dù có hay không, - người cháu nhìn Hầu tước với vẻ ngờ vực ra mặt, - tôi biết sách lược của ngài là sẽ ngăn cản tôi bằng mọi cách, và sẽ không từ một biện pháp nào.
Cháu thân yêu, ta đã bảo cậu rồi mà, - ông chú nói, hai vết hằn trên đầu mũi khẽ phập phồng. - Cậu làm ơn nhớ lại tôi đã nói gì với cậu, từ lâu rồi.
Tôi không quên.
Cám ơn cậu, - Hầu tước nói, giọng hết sức ngọt ngào.
Âm hưởng giọng nói ấy cứ ngân nga như một tiếng đàn. Người cháu nói tiếp:
Thực tình, tôi tin rằng vừa nhờ vận rủi của ngài vừa nhờ vận may của mình nên tôi mới không bị tống vào tù trên đất Pháp này.
Ta chưa hiểu ý cậu lắm, - ông chú vừa đáp lại vừa nhấp cà phê.
- Cậu nói rõ hơn được không?
Tôi nghĩ là nếu ngài không bị thất sủng với triều đình, và mấy năm qua không vì đám mây ám đó thì chỉ cần một lệnh tống giam là ngài đã cho tôi vào ngục thất vô thời hạn rồi.
Có thể lắm, - ông chú nói rất bình thản. - Vì danh dự dòng họ, ta thậm chí có thể quyết ra tay ngăn cản tới mức đó. Xin lỗi cậu!
Tôi hiểu điều đó, may cho tôi, trong tiệc chiêu đãi ngày hôm kia ngài vẫn bị lạnh nhạt như thường, - người cháu lưu ý.
Ta không nghĩ là may đâu, cháu thân yêu, - ông chú đáp lại, giọng vẫn lịch sự nhã nhặn. - Ta không chắc như vậy. Ngục thất cũng là một cơ hội tốt để suy ngẫm trong cảnh cô độc thích hợp, và có thể tác động đến số phận của cậu còn hay hơn cả việc cậu tự mình lèo lái số phận của mình. Nhưng bàn chuyện đó thì có ích gì. Đúng như cậu nói, ta đang gặp bất lợi. Những biện pháp chỉnh đốn nho nhỏ như thế, những công cụ nhẹ nhàng hỗ trợ cho quyền uy và danh giá dòng họ như thế, những chiếu cố vặt vãnh như thế có lẽ là rất bất tiện cho cậu đấy, phải khiến người ta hứng thú và phải nài nỉ mới được. Rất nhiều người mưu cầu nhưng đúng là rất ít người được ban cho! Trước kia thì khác, nhưng Pháp quốc đã thay đổi tồi tệ như thế đấy. Tổ tiên chúng ta cách đây không lâu còn nắm quyền sinh sát với đám tiện dân thô lậu chung quanh. Từ căn phòng này, nhiều đứa súc sinh như thế đã bị lôi ra ngoài treo cổ; ở phòng kế bên giờ là phòng ngủ của ta, có một đứa như ta được biết đã bị đâm chết tại chỗ vì đã dám xấc láo nói chuyện tế nhị về con gái hắn! Con gái hắn là cái thá gì? Chúng ta đã mất nhiều đặc quyền rồi; triết lý mới đã thành thời thượng; ở thời buổi này việc khẳng định địa vị dòng họ hẳn có lẽ, ta không nói chắc chắn mà chỉ nói là có lẽ, sẽ khiến chúng ta gặp khó khăn thật sự. Mọi thứ rất tệ, rất tệ!
Hầu tước hít nhẹ một nhúm bột thuốc lá rồi lắc đầu một cách lịch lãm ra vẻ thất vọng hết sức về cái xứ sở đang dung chứa ngài, con người vĩ đại có khả năng khôi phục địa vị cho dòng họ.
Chúng ta đã khẳng định địa vị của mình, cả xưa lẫn nay, - người cháu nói giọng u sầu, - tới độ tôi tin rằng danh giá nhà ta ở Pháp quốc này bị oán ghét hơn bất kỳ dòng họ nào khác.
Cứ mong là thế, - ông chú nói. - Oán ghét bề trên là cách kính trọng không tự nguyện của bọn thấp hèn.
Ở khắp xứ này, - người cháu nói tiếp, vẫn giọng điệu cũ, - tôi thấy không hề có một gương mặt nào nhìn tôi mà có chút gì tôn kính, chỉ thấy sự tuân phục đen tối của sợ hãi và nô lệ.
Đó chính là sự ca tụng quyền uy của dòng họ này đấy, - Hầu tước nói, - thật xứng đáng với cách duy trì quyền uy của dòng họ ta. Hà! - Và ngài hít nhẹ một nhúm thuốc lá nữa rồi thoải mái gác tréo chân.
Nhưng khi người cháu chống hai khuỷu tay lên bàn, đưa bàn tay che đôi mắt tư lự, chán chường thì cái mặt nạ thanh tú kia liếc nhìn anh với vẻ chăm chú sắc sảo, soi mói, và căm ghét, hoàn toàn không giống với vẻ thản nhiên đã khoác lên diện mạo ấy.
Trấn áp là triết lý duy nhất bền vững, - Hầu tước nói. - Sự tuân phục hắc ám của sợ hãi và nô lệ đó, công tử ạ, sẽ khiến đám súc sinh vâng lời ngọn roi, chừng nào mái nhà này, - ngài ngước nhìn lên, - còn che kín trời.
Điều đó có lẽ sẽ không dài lâu như Hầu tước nghĩ. Nếu đêm nay ta có thể cho ngài thấy hình ảnh của lâu đài này chỉ vài năm sau, và hình ảnh của năm chục dinh cơ khác như vậy vài năm sau, thì ngài có lẽ đã không nhận ra đâu là tư dinh trong những đống hoang tàn kinh rợn bị cướp phá, cháy đen ấy. Còn cái mái nhà mà ngài tán dương thì hẳn ngài sẽ thấy nó che kín trời theo một cách khác - tức là những đôi mắt sẽ vĩnh viễn tối đen khi thân xác đã hứng bao tràng đạn bắn ra từ hàng trăm ngàn họng súng.
Còn trong lúc này, - Hầu tước nói tiếp, - ta là người bảo vệ danh giá và bình an cho dòng họ này, điều mà cậu không muốn làm. Nhưng chắc cậu thấm mệt rồi. Ta sẽ kết thúc câu chuyện đêm nay chứ?
Một lát nữa.
Thêm một giờ, nếu cậu muốn.
Thưa ngài, - người cháu nói, - chúng ta đã gieo gió và giờ sắp gặt bão.
Chúng ta gieo gió ư? - Hầu tước lặp lại với một nụ cười dò hỏi, ngón tay nhẹ nhàng chỉ vào người cháu rồi sau đó chỉ vào chính mình.
Dòng họ ta, dòng họ danh giá của ta, cái danh giá ấy hết sức có ý nghĩa với cả ngài lẫn tôi, nhưng theo hai cách khác nhau xa. Ngay cả vào thời cha tôi, chúng ta quả thật đã làm nhiều điều sai trái, hãm hại bất kỳ ai cản trở lạc thú của chúng ta, bất kể lạc thú gì. Tại sao tôi phải nói về thời của cha tôi, trong khi đó cũng là thời của ngài? Tôi có thể tách rời người em song sinh, người đồng thừa kế, và người kế vị là ngài với chính cha tôi được chăng?
Cái chết đã làm điều đó rồi! - Hầu tước nói.
Và đã khiến tôi bị ràng buộc vào một thể chế mà tôi ghê sợ, mà tôi phải chịu trách nhiệm nhưng lại hoàn toàn bất lực, - người cháu đáp. - Tôi phải tìm cách thực hiện ước nguyện cuối cùng mà người mẹ yêu kính của tôi đã nói, tuân theo ánh mắt cuối cùng của người mẹ yêu kính nài xin tôi tha thứ và đền bù cho quá khứ; và tôi đã khổ sở vì tìm kiếm giúp đỡ trong vô vọng.
Nếu cậu nhờ ta giúp đỡ, - Hầu tước vừa nói vừa đưa ngón tay trỏ chọc nhẹ vào ngực người cháu, lúc này hai người đang đứng bên lò sưởi, - thì cậu cứ yên chí là sẽ mãi mãi vô vọng.
Mọi đường thẳng thanh tú trên gương mặt trắng nhờ nhờ ấy đều nhăn nhúm lại một cách tàn bạo, gian manh trong lúc Hầu tước tay cầm hộp thuốc hít, đứng lặng lẽ nhìn người cháu. Một lần nữa, Hầu tước lại chỉ vào ngực người đối diện cứ như ngón trỏ là mũi đoản kiếm nhọn hoắt mà ngài sẽ khéo léo, tài tình đâm xuyên thấu thân xác kia. Ngài nói:
- Cháu thân yêu, ta sẽ bảo vệ cái thể chế mà ta đã sống cho tới chết.
Dứt lời, ngài hít một hơi thuốc khoái trá cuối cùng rồi cất hộp thuốc vào trong túi.
Tốt nhất nên sống theo lý trí, - ngài nói thêm sau khi rung cái chuông nhỏ trên bàn gọi gia nhân, - và chấp nhận số phận tiền định của mình. Nhưng ta thấy cậu đánh mất nó rồi đó, công tử Charles.
Quyền thừa kế này và Pháp quốc tôi đều đánh mất, - người cháu buồn rầu nói. - Tôi đã từ bỏ cả hai.
Cả hai có thuộc về cậu đâu mà từ bỏ? Pháp quốc thì có thể, nhưng còn quyền thừa kế? Điều đó thậm chí không đáng nói tới; nhưng nó đã thuộc về cậu chưa?
Tôi nói như vậy hoàn toàn không có ý định đòi hỏi cái quyền đó. Nếu tôi thừa kế của chú ngay ngày mai...
Ta dám nói đó là hy vọng hão huyền.
...hay hai mươi năm sau...
Cậu làm ta hân hạnh quá, - Hầu tước nói, - nhưng ta thích giả thuyết đó hơn.
...thì tôi cũng từ bỏ, và sống theo cách khác, ở nơi nào khác. Tiếc gì cái nơi chốn chỉ toàn đau khổ và suy tàn này.
A! - Hầu tước vừa nói vừa nhìn quanh căn phòng xa hoa.
Ở đây nhìn thì đẹp đẽ vậy chứ thực chất nếu nhìn dưới trời quang nắng sáng thì toàn bộ chỉ là một đống phế tích vô dụng, hỗn độn, trấn lột, nợ nần, cầm cố, áp bức, đói rách, trần trụi và đau khổ.
A! - Hầu tước lại thốt một tiếng đầy thỏa mãn.
Nếu nơi này mà là của tôi, tôi sẽ giao phó cho người tài giỏi hơn để từ từ, nếu được, giải thoát nó khỏi cái ách đè nặng bấy lâu, để những người khốn khổ không thể bỏ đất này ra đi và suốt bao đời đã bị vắt kiệt sức chịu đựng sẽ có thể bớt khổ sở hơn về sau; nhưng nơi này không dành cho tôi. Cơ ngơi này đã bị nguyền rủa, và cả đất đai này nữa.
Còn cậu? - Ông chú nói. - Xin phép tò mò một chút; với cái triết lý mới mẻ đó thì cậu định sống bằng cách nào đây?
Để sống, tôi phải làm việc, như những đồng bào khác của tôi, thậm chí những người có xuất thân quý tộc một ngày nào đó rồi cũng phải làm việc.
Bên Anh quốc, chẳng hạn?
Đúng, thưa ngài. Ở đất nước ấy, tôi sẽ bảo toàn được danh dự gia đình.
Bỏ xứ ra đi thì tôi sẽ không làm hoen ố danh dự dòng họ vì tôi sẽ không còn mang tước vị gì nữa.
Tiếng rung chuông đã báo gia nhân thắp đèn trong phòng ngủ kề bên. Qua cánh cửa ăn thông, căn phòng đó đã sáng rực. Hầu tước nhìn về hướng phòng ngủ và lắng nghe tiếng chân rút lui của người hầu.
Anh quốc đúng là rất hấp dẫn đối với cậu, cho dù ở đó cậu không thành công gì mấy, - ngài nhận xét và gương mặt thản nhiên ấy tươi cười quay nhìn người cháu.
Như tôi đã nói, để thành công ở nơi đó, tôi biết mình sẽ phải mang ơn ngài, thưa ngài. Còn ngoài ra đó là chốn dung thân của tôi.
Cái bọn Ăng-lê khoác lác đó vẫn nói Anh quốc là chốn dung thân của nhiều người. Cậu có biết một đồng hương cũng tìm chốn dung thân ở bên đó không? Một bác sĩ?
Biết.
Cùng với cô con gái?
Đúng
À, - Hầu tước nói. - Cậu đã mệt rồi. Tạm biệt!
Trong lúc ngài cúi chào hết sức lịch thiệp, gương mặt tươi cười lại có vẻ gì giấu giếm khiến những lời thốt ra cũng đầy bí hiểm, cả hình ảnh lẫn âm thanh ấy như đập vào mắt, nện vào tai người cháu. Cùng lúc đó, những đường thẳng mảnh quanh mi mắt và đôi môi mỏng bẹt kia, cùng những nếp nhăn ở đầu mũi, đều uốn cong với vẻ châm biếm khiến Hầu tước trông vừa đẹp vừa ác đến lạ.
Đúng, - Hầu tước lặp lại. - Một bác sĩ cùng với cô con gái. Đúng. Thế là bắt đầu triết lý mới. Cậu đã mệt rồi. Tạm biệt!
Có dò hỏi bộ mặt đó thì cũng chẳng khác gì dò hỏi những mặt tượng đá bên ngoài lâu đài. Người cháu ngỡ ngàng nhìn Hầu tước trong lúc đi ra cửa.
Tạm biệt! - Ông chú nói. - Ta mong được gặp lại cậu sáng mai. Ngủ ngon! Thắp đuốc soi đường cho công tử về phòng đi!... Rồi thiêu cháy luôn công tử cháu ta trên giường cũng được, - ngài lẩm bẩm một mình trước khi rung chiếc chuông nhỏ lần nữa, gọi gia nhân vào chuẩn bị phòng riêng.
Người hầu đến rồi đi, ngài Hầu tước khoác áo ngủ thùng thình đi tới đi lui cho thư thái dễ ngủ trong đêm im lìm oi bức. Chỉ nghe tiếng vải sột soạt, bàn chân mang dép mềm bước trên sàn nhà không gây một tiếng động, ngài đi quanh phòng như một con hổ uy nghi - chẳng khác gì một Hầu tước độc ác bất trị nào đó trong truyền thuyết bị phép mầu trừng phạt bắt hóa thành hổ và giờ là lúc hắn đang biến hình lại thành người hay sắp thành thú.
Ngài đi từ đầu này sang đầu kia trong phòng ngủ tráng lệ, vừa điểm lại trong đầu những chuyện xảy ra trong hành trình hôm trước dù không muốn nhớ; đoạn đường vất vả chậm chạp lên đồi lúc hoàng hôn, mặt trời lặn, đường đi xuống, cối xay, nhà tù trên vách đá, làng nhỏ dưới thung lũng, đám thảo dân bên đài nước, và tên phu lục lộ mũ xanh chỉ trỏ sợi dây xích dưới gầm xe. Đài nước ấy gợi nhớ đến đài nước ở Paris, cái bọc vải nhỏ bé nằm trên bệ, những người đàn bà lom khom trên bọc vải, và gã cao lớn giơ tay lên trời gào thét “Chết!”.
- Giờ mát mẻ rồi, - ngài Hầu tước nói, - chắc đi ngủ thôi.
Thế là chỉ để lại một ngọn đuốc cháy sáng trên lò sưởi lớn, ngài buông những tấm màn sa mỏng xuống quanh giường, và nghe đêm phá tan im lặng bằng một tiếng thở dài lúc ngài chìm vào giấc ngủ.
Những mặt tượng đá trên các bức tường bên ngoài giương mắt mù nhìn đêm đen suốt ba giờ lê thê; trong ba giờ lê thế ấy, lũ ngựa trong chuồng khua máng cỏ, đàn chó sủa, con cú kêu một tiếng chẳng giống gì mấy với cái âm thanh mà đám thi sĩ người thường gán cho nó. Nhưng mấy loài ngoan cố như cú thì chẳng bao giờ chịu nói theo những lời mô tả áp đặt cho chúng.
Suốt ba giờ lê thê, những mặt tượng đá của lâu đài, mặt sư tử lẫn mặt người, giương mắt mù nhìn đêm. Bóng tối chết chóc bao trùm cảnh vật, bóng tối chết chóc đè nặng trên lớp bụi đường im lìm làm tăng thêm tĩnh mịch bốn bề. Đêm đen xóa nhòa mọi nấm mồ cỏ héo ngoài bãi tha ma không còn phân biệt; tượng Chúa trên thánh giá có bước xuống cũng không ai hay biết. Trong thôn làng; kẻ thu thuế và người đóng thuế đều say ngủ. Có lẽ đám dân đen gầy còm đang mơ yến tiệc, như người đói thường mơ thấy đồ ăn, như tên nô lệ kiệt lực mơ được thảnh thơi, như con bò nặng ách mơ được nghỉ ngơi, và trong mộng tất cả đều no đủ và tự do.
Đài phun nước trong làng tuôn chảy không ai nghe ai thấy, đài phun nước lâu đài nhỏ giọt không ai thấy ai nghe - cả hai tan biến vào đêm như từng giây từng phút đang đếm nhịp thời gian suốt ba giờ tăm tối. Và rồi, dòng nước âm u của hai đài phun bắt đầu ửng lên ma quái trong bình minh và những đôi mắt tượng đá trên mặt lâu đài bừng mở.
Trời sáng dần, sáng dần, cho tới lúc vầng nhật cuối cùng đã lên tới những ngọn cây lặng lẽ, tỏa dương quang khắp vùng đồi. Trong ánh ngời ban mai, nước ở đài phun của lâu đài chuyển thành màu máu và những mặt tượng đá rực đỏ. Điệu nhạc chim ngân vang cao vút và trên bệ cửa sổ lớn đen thâm mưa gió của phòng ngủ ngài Hầu tước, một con chim nhỏ trút hết du dương vào tiếng hót. Tiếng hót như khiến mặt tượng đá kề bên tròn mắt, mở miệng, há mồm thảng thốt và kinh sợ.
Lúc này mặt trời đã lên cao và dưới làng bắt đầu hoạt động. Những khung cửa sổ rộng mở, những cửa cái nứt nẻ tháo then cài, dân làng bước ra đường rùng mình trong khí lạnh dịu dàng của ngày mới. Rồi những công việc thường nhật hiếm khi nhẹ nhàng của dân làng bắt đầu. Có người tới đài nước; có người ra đồng; chỗ này đàn ông, đàn bà đào bới; chỗ nọ đàn bà, đàn ông lo cho đám gia súc thảm hại và dắt những con bò trơ xương đi tìm mấy vạt cỏ sót lại ven đường. Trong nhà thờ dưới chân thánh giá, một, hai người quỳ gối hòa theo lời kinh cầu mới xướng, con bò họ dắt theo đang cố lót lòng buổi sáng bằng đám cỏ dại dưới chân.
Lâu đài thức dậy muộn hơn nhưng tỉnh giấc từ từ từng chút theo đúng bản tính quyền quý. Đầu tiên, những cây giáo đâm lợn rừng lẻ loi và mớ dao đi săn sẽ lóe lên ánh thép trong nắng sớm, đỏ rực như ngày xưa từng tắm máu; rồi tới cửa chính và cửa sổ mở toang; lũ ngựa trong chuồng ngoái đầu nhìn ra ánh sáng và đón luồng gió mới ùa vào ngưỡng cửa; những chiếc lá lấp lánh xào xạc trước các khung cửa sổ gắn lưới sắt; đàn chó giật mạnh dây xích, lồng lên nôn nóng được sổng ra.
Tất cả những chuyện lặt vặt ấy đều là thông lệ mỗi sáng. Tất nhiên, chỉ trừ tiếng chuông lớn rung rền trong lâu đài, chỉ trừ tiếng chân chạy lên xuống cầu thang, chỉ trừ những bóng người gấp gáp trên hàng hiên, chỉ trừ tiếng giày nện bước hỗn độn khắp nơi, chỉ trừ tiếng gắn yên cương hấp tấp và tiếng vó ngựa ào ào phóng đi.
Ngọn gió nào đã đưa sự cấp bách ấy tới gã phu lục lộ tóc bạc kia, kẻ đã bắt tay làm việc ở đỉnh đồi sau làng, trên đống đá kề bên là một gói đựng thức ăn qua ngày ít ỏi tới mức chẳng con quạ nào buồn ghé mỏ vào. Phải chăng lũ chim đã mang sự cấp bách ấy đi như là tha mấy hạt thóc về nơi xa và đã tình cờ gieo rắc xuống đầu gã phu lục lộ? Dù có hay không, trong buổi sáng oi bức ấy gã ta đã chạy thục mạng xuống đồi, bụi ngập đến đầu gối, và chạy một mạch về tới đài phun nước.
Toàn bộ dân làng đã tụ tập, đứng vòng quanh đài phun nước trong bộ dạng chán chường và hạ giọng xì xào, nhưng không bộc lộ cảm xúc nào khác hơn là vẻ hiếu kỳ ác nghiệt và nỗi ngạc nhiên. Mấy con bò ngu độn lúc nãy được dắt đi, giờ lại hấp tấp bị lôi về buộc bừa vào bất cứ thứ gì có thể giữ chân, đứng nhìn hoặc nằm xuống nhai lại những thứ chẳng đáng công nhai mà chúng gặm được trong chuyến đi tha thẩn đã gián đoạn. Mấy người của lâu đài và mấy người của dịch trạm, cùng mọi nhân viên tô thuế không ít thì nhiều đều mang vũ khí, đã xúm lại thành một đám bên kia con đường nhỏ, lăng xăng mà chẳng biết phải làm gì. Gã phu lục lộ đã chen vào giữa đám bạn quen chừng năm mươi người và đang lấy chiếc mũ xanh đập vào ngực mình. Có chuyện gì chẳng lành sao, có chuyện gì mà ông Gabelle lại vội vàng lên yên ngựa, ngồi sau lưng tên gia nhân của lâu đài rồi cả hai phi nước đại phóng đi như đôi tình nhân trong khúc dân ca Leonora?
Chuyện chẳng lành là ở lâu đài đã có thêm một mặt tượng đá xuất hiện.
Thần Gorgon trong đêm đã lướt mắt qua dinh cơ này lần nữa, và đã bổ sung một mặt tượng đá còn thiếu; bộ mặt đá mà thần đã đợi chờ suốt hai trăm năm.
Bộ mặt đá ấy nằm trên gối của ngài Hầu tước. Nó giống như một chiếc mặt nạ đẹp, bỗng nhiên hoảng hốt, tức giận, rồi hóa đá. Đâm thấu tim của thân hình hóa đá gắn liền với mặt tượng ấy là một con dao. Quanh chuôi dao buộc một miếng giấy xếp nếp có ghi nguệch ngoạc:
“Cho mau xuống mồ. - Jacques”