Một thùng rượu lớn rơi vỡ dưới đường. Đang lúc khiêng xuống xe hàng thì xảy ra chuyện, thùng rượu lăn nhào quá nhanh, đai niềng bung ra, và vỡ nát như cái vỏ hạt hồ đào trên mặt đường đá trước cửa tửu quán.
Mọi người gần đó đều ngừng ngay công việc hay chấm dứt ngồi không để chạy tới uống rượu tại chỗ. Những tấm đá lát đường xù xì, lồi lõm, đầy cạnh sắc nhọn, tưởng chừng được sắp đặt chỉ cốt làm què quặt mọi sinh vật nào tới gần, đã chặn số rượu chảy tràn thành những vũng nhỏ; quanh mỗi vũng rượu là một đám người, tùy theo vũng nhỏ hay lớn mà túm năm tụm ba chen lấn. Có người quỳ xuống, chụm hai bàn tay mà múc rượu lên hớp; hoặc giơ cao cho mấy phụ nữ đang chồm qua vai họ uống trước khi rượu chảy hết qua kẽ tay. Người khác, đàn ông lẫn đàn bà, thò những cái chén đất nung sứt mẻ xuống vũng rượu; hay thậm chí có bà nhúng cả khăn trùm đầu xuống cho ngấm cái chất lỏng đó rồi vắt vào miệng mấy đứa trẻ còn ẵm ngửa; kẻ thì vét bùn đất đắp bờ chặn cho rượu khỏi tràn đi; kẻ thì nghe lời chỉ bảo của mấy người đứng nhìn trên lầu cao lại chạy tứ tung để ngăn dòng rượu đã bắt đầu chảy theo hướng khác; có người chỉ chăm chú vào những mảnh thùng vỡ còn ướt đẫm cặn rượu mà liếm, thậm chí còn khoái trá gặm cả những miếng gỗ ẩm mục vì rượu nho. Không hề có cống rãnh nào cho rượu chảy thoát, người ta không những uống hết lượng vang đổ tràn mà còn nuốt sạch cả bùn đất cuốn theo dòng rượu, sạch tới mức tưởng đâu người phu quét đường vừa mới hạ cố qua đây, nếu như có ai quá rành khu phố bần cùng này mà lại tin vào sự xuất hiện mầu nhiệm ấy.
Tiếng cười inh ỏi, tiếng nói hào hứng - giọng đàn ông, đàn bà, trẻ nhỏ đủ cả - náo động con đường với trò vui uống rượu này. Một trò có chút ít thô kệch nhưng tràn đầy vui thú. Một trò có tình thân ái đặc biệt, rõ ràng là ai cũng thấy háo hức muốn tham gia cùng; nhất là với những người vô tư hay may mắn hơn kẻ khác thì tình thân ái đó thôi thúc họ ôm chầm lấy nhau vui sướng; uống mừng sức khỏe; bắt tay; thậm chí cả chục người còn nắm tay nhau nhảy múa. Khi rượu đã cạn, và những chỗ đọng nhiều rượu nhất chỉ còn là những dấu ngón tay cào vét chằng chịt, cuộc thù tạc đông vui này kết thúc đột ngột như lúc nó bắt đầu. Ông ban nãy đã bỏ mặc lưỡi cưa cắm trong khúc củi giờ lại cưa tiếp; bà ban nãy đặt bừa hũ tro nóng đang xoa cho đỡ buốt những ngón tay, ngón chân ốm đói giơ xương của mình hay của con trẻ giờ lại cầm hũ tro; mấy gã áo cộc tay trần, đầu bù tóc rối, mặt mày hốc hác xanh xao lúc nãy từ dưới các tầng hầm bước ra sưởi ánh nắng mùa đông giờ lại tản mát, quay xuống hầm; và quang cảnh lại chìm đắm trong vẻ u ám quen thuộc chứ không còn tươi vui nữa.
Rượu là thứ vang đỏ đã nhuộm đỏ mặt đất con phố hẹp ở khu Saint Antoine, thành Paris. Rượu cũng nhuộm đỏ nhiều bàn tay và nhiều gương mặt, nhiều bàn chân trần và nhiều đôi giày mộc. Bàn tay ông thợ xẻ gỗ để lại dấu đỏ trên những khúc củi; vầng trán bà mẹ cho con bú nhuốm đỏ màu rượu đã thấm ướt mảnh khăn rách giờ lại trùm lên đầu. Những người đã hau háu gặm những mảnh thùng rượu giờ quanh miệng vằn vện đỏ thật hung tợn; và một kẻ nghịch ngợm cũng lem luốc đỏ với chiếc mũ ngủ bẩn thỉu dài thượt như muốn trật ra khỏi đầu, nhúng ngón tay vào bã rượu lầy nhầy rồi viết nguệch ngoạc lên tường một chữ - MÁU.
Rồi sẽ tới lúc cái thứ nước màu đỏ ấy cũng sẽ chảy tràn trên mặt đường đá, và cũng sẽ nhuộm đẫm nhiều con người nơi đó.
Còn lúc này mây mù đã bao phủ Saint Antoine sau một thoáng bừng sáng, bộ mặt của khu phố mang tên thánh* giờ lại tăm tối như cũ với giá rét, bẩn thỉu, bệnh tật, dốt nát, và bần cùng - năm vị phò tá bậc thánh kia, vị nào cũng quyền năng nhưng ghê gớm nhất là vị cuối cùng. Ở mọi góc đường, ra vào mọi ngưỡng cửa, đứng trong mọi cửa sổ, quấn mình bằng mọi thứ áo xống rách rưới phần phật trong gió, là những con người đã bị xay nghiền, tán nhừ trong cỗ máy bần cùng. Cái cỗ máy đã nhào nặn họ là cỗ máy biến người trẻ thành già; lũ nhi đồng có bộ mặt lão niên và giọng nói nghiêm trọng; và trên mọi gương mặt trẻ con lẫn người lớn, hằn sâu trên những nếp nhăn tuổi tác, đều lồ lộ một dấu hiệu: Đói. Cái đói hiển hiện khắp nơi. Cái đói ứa tràn từ những căn nhà cao, trong mớ áo quần rách rưới phơi trên sào trên dây; cái đói độn, vá, ghép, dán chung với rơm, giẻ, gỗ, giấy; cái đói tự phân thân trên từng mẩu củi vụn của ông thợ cưa; cái đói trừng mắt nhìn xuống từ những ống khói không khói bếp, cất bước trên con đường bẩn thỉu đầy rác rưởi nhưng không có chút đồ thừa nào ăn được. Cái đói khắc tên trên những kệ hàng của người thợ bánh, viết chữ lên từng ổ bánh mì ôi bé choắt trong nguồn dự trữ ít ỏi; lưu dấu ở tiệm xúc xích bán toàn thứ pha chế từ thịt chó chết. Cái đói lốp bốp rung tiếng xương khô giữa mớ hạt dẻ nướng trong lò rang; cái đói tan thành nguyên tử trong những chiếc bát mạt hạng chứa những lát khoai còn nguyên vỏ, chiên bằng mấy giọt dầu chắt chiu.
Người làm sao của chiêm bao làm vậy. Một con đường hẹp ngoằn ngoèo, đầy những thứ khó chịu và thối tha, rẽ sang nhiều con đường hẹp ngoằn ngoèo khác, đâu cũng thấy những con người áo quần lam lũ đội mũ ngủ, ai cũng nồng nặc, hôi hám, với những khuôn mặt thảm đạm, bệnh hoạn. Trong dáng vẻ của những con người đó vẫn ẩn chứa cái bản năng kháng cự của loài dã thú bị săn đuổi cùng đường. Dù u uất và khốn quẫn, những đôi mắt vẫn hừng hực lửa; những đôi môi mím chặt vẫn trắng bệch ra vì cố kiềm nén; những vầng trán nổi sần nếp nhăn như sợi thừng trên giá treo cổ vẫn ôm ấp ý nghĩ cam chịu hay trả thù. Những tấm biển hiệu trên mọi cửa hàng hầu như cái nào cũng là một minh họa khắc nghiệt cho sự bần cùng. Các hàng thịt chỉ vẽ hình những thứ thịt vụn ít béo bổ nhất; lò bánh mì vẽ những ổ bánh khẳng khiu làm bằng thứ bột mì tồi nhất. Biển hiệu các tửu quán vẽ thô thiển những hình người đang ngồi uống trong quán, mặt mày cau có và đầy vẻ bí mật khả nghi bên những suất bia rượu ít ỏi. Chẳng có cái gì được thể hiện cho ra dáng làm ăn phát đạt, ngoại trừ các dụng cụ và khí giới; thế nhưng dao rìu trên biển hiệu tiệm đồ sắt lại trông bén ngọt và sáng rực, những cái búa trên biển hiệu lò rèn trông nặng trĩu, còn hàng hóa của tiệm súng ống thì trông đằng đằng sát khí. Những con đường lát đá nhấp nhô nguy hiểm, cùng những vũng nước đọng bùn lầy, không hề có vỉa hè mà đột ngột cắt ngang trước cửa nhà. Bù lại, cống rãnh lại chảy ngay giữa đường - nếu như cống không nghẹt, mà cống chỉ thông sau những trận mưa lớn và khi thông thì oái ăm thay, nước lại chảy tràn vào nhà. Hai bên đường, cách quãng đều đặn lại có một chiếc đèn ọp ẹp treo cao bằng dây thừng và ròng rọc; đến buổi tối người thắp đèn lại hạ chúng xuống, thắp sáng, rồi lại kéo lên, một chùm dây bấc cháy tù mù yếu ớt đòng đưa trên đầu cứ như đang say sóng ngoài khơi. Mà chúng ở ngoài khơi thật đấy, và cả con tàu lẫn thủy thủ đoàn đang gặp hiểm họa phong ba.
Bởi vì sẽ rất nhanh tới lúc mà những kẻ rách rưới, hốc hác như con bù nhìn ở khu vực này, lâu nay bụng đói ngồi không theo dõi người thắp đèn đêm, sẽ nghĩ ra cách cải tiến phương pháp thắp sáng tình trạng tăm tối của họ là dùng mớ dây thừng và ròng rọc đó để treo cổ người ta lên. Nhưng lúc đó vẫn chưa tới, và mọi luồng gió thổi qua nước Pháp vẫn tuyệt vọng lay động những mảnh giẻ rách của đám bù nhìn, bởi những con chim có bộ lông đẹp nhất và hót hay nhất vẫn chưa hề lo sợ đề phòng.
Tửu quán là tiệm nằm ngay góc đường, bề ngoài và giá trị cũng khá hơn nhiều tiệm khác, và anh chủ quán mặc áo chẽn màu vàng, quần chẽn màu lục dài quá gối, nãy giờ đứng ngoài cửa nhìn cảnh tranh giành uống rượu đổ.
Không phải việc của ta, - anh ta nói kèm theo cái nhún vai dứt khoát.
- Người của hiệu buôn làm vỡ thùng này thì họ phải giao thùng khác.
Rồi ánh mắt tình cờ nhìn thấy gã cao kều tếu táo viết đùa lên tường, anh ta gọi với qua đường:
- Ê kìa, Gaspard, mày làm gì bên đó?
Gã kia hết sức đắc chí chỉ vào trò đùa của hắn, như kiểu lũ nghịch ngợm thường khoe với nhau. Trò đùa không linh, chẳng gây cười chút nào, giống như các trò nghịch của đám phá phách này.
Rồi sao? Mày muốn vào nhà thương điên à? - Chủ quán rượu vừa nói vừa băng qua đường, vốc một nắm bùn lên và bôi lên tường xóa sạch chữ viết nghịch đó. - Sao mày viết bậy ngoài đường phố công cộng hả? Còn chỗ nào... mày nói coi... bộ hết chỗ để viết chữ này rồi sao?
Không biết vô tình hay chăng, anh ta vừa phản đối vừa vuốt bàn tay còn sạch lên ngực gã tếu táo. Gã kia đưa tay vỗ vào bàn tay anh, nhảy phóc lên rồi hạ xuống đứng giơ chân theo một tư thế múa kỳ quặc, một tay giật phắt chiếc giày bẩn khỏi bàn chân và chìa ra phía trước. Trong bộ dạng này, trông gã tếu táo ấy hết sức xảo trá, nếu không nói là hung ác.
Xỏ giày vào đi, xỏ vào, - chủ quán rượu nói. - Đi tìm rượu uống đi, xong chuyện rồi. - Dứt lời, anh ta rõ ràng là cố ý quẹt luôn bàn tay bẩn lên áo tên du côn bởi gã kia là lý do làm bẩn tay; rồi lại băng qua đường đi vào tửu quán.
Chủ quán trạc tuổi ba mươi, cổ to bạnh, dáng vẻ nhà binh, ắt hẳn phải là người tính khí nóng nảy vì dù đang ngày rét buốt anh ta vẫn chỉ vắt áo khoác trên vai chứ không hề mặc. Hai tay áo sơ-mi cũng được xắn cao phơi ra đôi cánh tay rám nắng trần tới khuỷu. Trên đầu anh cũng chẳng đội hay choàng gì lên mái tóc đen ngắn, xoăn tít. Nước da ngăm đen, hai mắt tinh tường nằm cách xa nhau. Gương mặt nhìn chung có vẻ vui tính nhưng cũng bướng bỉnh; rõ ràng là người rất cương quyết và có nguyên tắc; một người không ai muốn đối đầu khi anh ta đang lao tới trên con đường hẹp giữa hai vực sâu, bởi không có gì khiến được người này phải quay lui.
Chị Defarge, vợ anh ta, đang ngồi sau quầy trong quán lúc anh đi vào. Đó là một phụ nữ đẫy đà trạc tuổi anh, đôi mắt đầy cảnh giác dường như hiếm khi nhìn thẳng vào bất cứ thứ gì, một bàn tay to đeo đầy nhẫn; gương mặt bình thản, đường nét cứng rắn, và phong thái hết sức điềm nhiên. Chị Defarge toát ra vẻ gì đó khiến ta nghĩ rằng bà chủ này hiếm khi sai lầm trong những chuyện tính toán tiền nong. Không chịu được giá rét, chị Defarge quấn kín người trong chiếc áo lông, quanh đầu trùm chiếc khăn to khổ màu sáng cuộn xoắn lại nhưng vẫn để lộ ra đôi khoen tai lớn. Đồ đan len nằm trước mặt nhưng chị ta đã ngừng đan để lấy tăm xỉa răng. Bàn tay trái đỡ lấy khuỷu tay phải đang xỉa răng, chị Defarge không nói năng gì khi anh chồng đi vào mà chỉ khẽ hắng giọng một tiếng. Kèm theo tiếng đằng hắng, cặp chân mày đậm đen bên trên cây tăm chỉ nhướng lên một tí, ra hiệu cho anh chồng là nên nhìn quanh khách khứa trong tiệm xem ai đã ghé đến trong lúc anh ta đi qua bên kia đường.
Hiểu ý, chủ quán đảo mắt nhìn quanh cho tới khi ánh mắt dừng lại ở chỗ một vị quý phái cao niên và một tiểu thư đang ngồi ở góc phòng. Trong quán còn nhiều khách nữa: hai người đang chơi bài, hai người chơi domino, ba người đang đứng bên quầy cố tận hưởng cốc rượu ít ỏi. Lúc đi ra sau quầy, anh để ý thấy ông già quý phái kia nhìn cô gái ngầm tỏ ý: “Đây là người của ta”.
“Cái xó xỉnh này mà mấy người tới làm quái gì chứ?” anh Defarge nói thầm trong bụng. “Tôi không quen không biết đâu.”
Anh giả vờ như không thấy hai người lạ và bắt chuyện với ba người khách đang uống rượu tại quầy.
Chuyện sao rồi, Jacques? - Một trong ba người này hỏi anh Defarge. - Rượu đổ đã nốc hết sạch chưa?
Không còn một giọt, Jacques ạ, - anh Defarge đáp.*
Nghe cách gọi tên qua lại này, chị Defarge vẫn đang cầm tăm xỉarăng lại khẽ hắng giọng cái nữa và chân mày nhích cao thêm một chút.
Mấy khi được uống chứ, - người thứ hai trong bộ ba nói với anh Defarge, - lũ súc sinh khốn khổ đó nhiều đứa đâu có được nếm mùi rượu vang hay thứ gì khác hơn là bánh mì đen và cái chết. Phải vậy không, Jacques?
Đúng vậy đấy, Jacques, - anh Defarge đáp lời.
Lần thứ hai nghe họ gọi nhau là “Jacques”, vẫn đang xỉa răng hết sức điềm tĩnh, chị Defarge lại khẽ đằng hắng và nhướng chân mày cao thêm chút nữa.
Người cuối cùng trong bộ ba giờ mới lên tiếng sau khi đặt cốc rượu đã uống cạn xuống và chép môi.
A! Thế lại càng tệ hại hơn! Cái lũ người đáng thương đó lúc nào cũng ngậm cay nuốt đắng, sống khổ như trâu bò mà, Jacques. Tôi nói đúng không, Jacques?
- Anh nói đúng, Jacques, - anh Defarge hưởng ứng.
Lần gọi tên thứ ba này kết thúc ngay lúc chị Defarge rút cây tăm ra, chân mày vẫn nhướng cao, và cục cựa sột soạt trên ghế.
Khoan đã! Chờ chút! - Người chồng làu bàu. - Quý anh... đây là bà nhà tôi!
Ba vị khách nhấc mũ múa tay trịnh trọng chào chị Defarge. Tỏ ý tiếp nhận lòng kính trọng của họ, chị ta cúi đầu đáp lễ, mắt liếc nhanh qua cả ba người. Rồi chị ta lại bình thản như thường nhìn quanh quán rượu một vòng, điềm tĩnh, ung dung cầm đồ đan len lên, và chú tâm vào đó.
Chúc quý anh một ngày tốt đẹp, - nãy giờ nhìn vợ không rời mắt, người chồng lại lên tiếng. - Căn phòng có bày biện sẵn cho người độc thân mà các anh muốn xem, và đang hỏi thăm lúc tôi ra ngoài, phòng đó ở trên tầng năm. Cửa vào cầu thang nằm ở khoảng sân nhỏ sát bên trái đây, - anh ta chỉ tay, - gần cửa sổ quán rượu này. Nhưng tôi nhớ ra rồi, trong các anh đã có một người từng tới đó rồi và có thể dẫn đường. Adieu, tạm biệt nhé!
Ba người kia trả tiền rồi đi ra. Trong lúc anh Defarge chăm chú nhìn vợ đan len, ông già quý phái trong góc quán đi tới và xin được nói chuyện riêng.
Sẵn lòng, thưa ông, - anh Defarge đồng ý và lặng lẽ theo ông già ra cửa quán.
Cuộc trao đổi rất chóng vánh và dứt khoát. Hầu như mới nghe câu đầu tiên là anh Defarge đã giật mình, tỏ ra chú tâm hết mực. Câu chuyện kéo dài không đầy một phút là anh ta gật đầu rồi đi ra ngoài. Ông già quý phái bèn ra hiệu cho cô gái rồi cả hai cũng đi ra. Chị Defarge vẫn đan len với những ngón tay thoăn thoắt, cặp chân mày không nhúc nhích, vờ như không nhìn thấy gì.
Ông Jarvis Lorry và tiểu thư Manette ra khỏi tửu quán, theo anh Defarge tới cửa vào cầu thang mà anh ta trước đó đã chỉ đường cho mấy người khách của mình. Cửa nằm ở một khoảng sân nhỏ tăm tối, hôi hám, dùng làm lối vào chung cho rất nhiều nhà, nơi cư ngụ của rất nhiều người. Ở cửa vào lát gạch âm u dẫn tới cầu thang lát gạch âm u, anh Defarge khuỵu một chân quỳ xuống trước con gái của ông chủ cũ và nâng tay cô lên môi hôn. Đó là một cử chỉ ân cần nhưng cách bày tỏ lại không hề có vẻ gì như thế; trong chớp nhoáng thái độ của anh ta đã thay đổi thấy rõ. Nét mặt không còn vẻ vui tính hay cởi mở mà đã trở thành một bí mật, một cơn thịnh nộ, một con người nguy hiểm.
Ở tuốt trên cao; hơi khó đi lên. Nên bắt đầu từ từ thôi. - Giọng nghiêm khắc, anh Defarge nói với ông Lorry như thế khi họ bước lên các bậc thang.
Ông ấy ở một mình? - Tiếng ông Lorry thì thào.
Một mình! Chỉ có Chúa chứ ai mà ở với ông ta! - Anh Defarge cũng hạ giọng theo.
Vậy lúc nào ông ấy cũng một mình à?
Vâng.
Vì ông ấy muốn thế?
Vì ông ta cần như thế. Lúc nào cũng thế, từ khi tôi gặp ông ta lần đầu tiên, sau khi họ tìm ra tôi, hỏi tôi có chịu đón về và phải giấu kín để tránh nguy hiểm... ông ta lúc đó thế nào thì bây giờ vẫn vậy.
Ông ấy thay đổi nhiều lắm không?
Thay đổi!
Anh chủ quán dừng bước vung tay đấm vào tường và thốt ra một tiếng chửi thề dữ dội. Không thể có câu trả lời trực tiếp nào hùng hồn bằng phân nửa tiếng chửi ấy. Tâm trạng ông Lorry càng lúc càng nặng nề khi ông cùng hai người kia càng lúc càng lên cao.
Một cầu thang như vậy, cùng các thứ phụ thuộc, ở những khu đông đúc và xưa cũ hơn của Paris hẳn là tồi tệ so với thời nay; nhưng ngay cả thời đó nó cũng đã khó chịu đối với những ai chưa quen thuộc và tôi luyện. Mọi nơi cư trú trong lòng cái tổ hôi thối là căn nhà cao này - nói cách khác, từng căn phòng, căn hộ đằng sau cánh cửa nào mở ra cầu thang chung này - đều để một đống rác rưởi của mình trên đầu cầu thang các tầng, cùng với việc quẳng các thứ phế thải khác qua cửa sổ. Cho dù không vấn vương cái mùi nghèo túng đi nữa, cái đống phân hủy tuyệt vọng và cứ sinh sôi vô phương kiểm soát ấy ắt đã đủ đầu độc cả bầu không khí rồi; nhưng khi cả rác rưởi lẫn nghèo túng cùng hợp sức thì mùi xú uế không sao chịu nổi. Muốn đi phải xuyên qua bầu không khí ấy, phải băng qua lồng cầu thang tăm tối, dốc đứng, bẩn thỉu và độc địa ấy. Ông Jarvis Lorry đã hai lần phải tạm dừng lấy sức vì quá mệt với những ý nghĩ bất an của mình lẫn nỗi bồn chồn của cô nương đi cùng. Lần nào ông cũng dừng lại ở ô cửa thông gió thảm hại nhưng dường như chút không khí trong lành đáng mong muốn nào còn sót lại đều đã thoát ra hết và bao luồng hơi tanh tưởi hôi hám bên ngoài lại len lỏi vào trong. Qua những song sắt gỉ sét của ô thông gió, ta hầu như nếm được chứ không thấy được khu vực hỗn độn này; và trong phạm vi từ đây cho tới hai đỉnh tháp cao của Thánh đường Notre-Dame, mọi thứ gần hơn hay thấp hơn đều không có chút gì hứa hẹn về cuộc sống an lành hay những ước vọng cao xa.
Rốt cuộc cũng tới đầu cầu thang trên cùng, và họ dừng lại lần thứ ba. Vẫn còn phải lên một cầu thang nữa dốc đứng hơn và chật hẹp hơn mới tới tầng áp mái. Anh chủ quán lúc nào cũng đi trước một chút, luôn kề sát bên ông
Lorry, cứ như anh ta sợ cô gái nêu bất kỳ câu hỏi nào; tới đây thì anh quay mặt lại, cẩn thận lần mò trong mấy cái túi của chiếc áo khoác vắt trên vai, moi ra một chìa khóa.
Cửa này phải khóa sao, anh bạn? - Ông Lorry ngạc nhiên hỏi.
Ồ, phải, - câu trả lời tàn nhẫn của anh Defarge.
Anh thấy cần phải nhốt kín con người bất hạnh này sao?
Tôi thấy cần phải vặn chìa khóa. - Anh Defarge kề sát tai ông nói thầm và cau mày.
Tại sao?
Sao ư? Bởi vì ông ta đã sống trong cảnh giam cầm quá lâu, tới mức bây giờ mà để cửa mở thì ông ta sẽ phát hoảng, phát điên, sẽ tự xé xác, sẽ chết, hay sẽ làm bất cứ chuyện gì ghê gớm không biết được.
Tới mức vậy sao! - Ông Lorry kêu lên.
Tới mức vậy sao! - Defarge cay đắng lặp lại. - Vậy đó. Và cái thế giới ta đang sống mới tuyệt vời sao khi chuyện như vậy vẫn có thể, và khi nhiều chuyện khác tương tự cũng có thể, và không những có thể mà thực sự đã xảy ra... Đã xảy ra, ông nghe chưa!... Dưới vòm trời này, hàng ngày. Quỷ sứ vạn tuế. Ta đi tiếp nào.
Hai người nói thì thào nên không lời nào đến tai cô gái. Nhưng tới lúc này thì cô đã run bần bật vì xúc động mạnh, gương mặt lộ vẻ lo lắng hết sức, và còn hơn thế, đầy khiếp đảm, hãi hùng, khiến ông Lorry cảm thấy phải có bổn phận nói đôi lời trấn an.
Can đảm lên, thưa tiểu thư! Can đảm lên! Công việc thôi! Chỉ một lát nữa thôi là cảm giác tệ hại này sẽ chấm dứt; chỉ cần đi qua cửa phòng là cảm giác tệ hại này sẽ hết. Sau đó, bao nhiêu là điều tốt đẹp cô mang đến cho ông ấy, bao nhiêu bù đắp, bao nhiêu hạnh phúc cô mang đến, đều sẽ bắt đầu. Hãy để người bạn quý của chúng ta đây dìu cô một bên. Đúng đó, anh bạn Defarge. Đi nào! Công việc, công việc!
Họ đi lên, từ từ, nhẹ nhàng, cầu thang này ngắn, chẳng mấy chốc họ đã lên tới đỉnh. Đến nơi, họ vừa vòng qua chỗ ngoặt ở đầu cầu thang thì thình lình thấy ngay ba người đang khom lưng chụm đầu sát nhau ở một bên cánh cửa, chăm chú nhìn vào phòng trong qua những kẽ nứt và lỗ thủng trên tường. Nghe tiếng chân tới gần, cả ba quay lại, đứng thẳng lên, hóa ra đó là ba người cùng tên Jacques lúc nãy đã uống rượu trong tửu quán.
Tôi quên mất bọn họ vì ông ghé đến bất ngờ, - anh Defarge giải thích. - Đi đi, mấy anh bạn; chúng tôi có công việc ở đây.
Ba người kia lách qua họ rồi lặng lẽ đi xuống. tầng này hình như không có cánh cửa nào khác, anh chủ quán đi thẳng tới cánh cửa đó khi ba người kia đã khuất dạng, ông Lorry có vẻ tức giận, hạ giọng hỏi Defarge:
Anh cho người ta nhìn ngó ngài Manette à?
Tôi cho vài người chọn lọc xem, như ông đã thấy. - Có nên không?
Tôi nghĩ là nên.
Số ít đó là ai? Anh chọn lọc bằng cách nào?
Tôi chọn những người chân chính, cùng tên với tôi... tôi tên là Jacques... thấy ông ta là điều sẽ có ích cho họ. Vậy đủ rồi; ông là người Anh, ông không hiểu đâu. Xin cứ đứng yên đó, chờ một chút.
Khoát tay một cái nhắc họ lùi ra sau, anh ta cúi nhìn qua kẽ hở trên tường.
Sau đó anh ngẩng đầu lên rồi gõ mạnh hai hay ba lần vào cánh cửa - rõ ràng là với mục đích chỉ nhằm gây tiếng động. Cũng với ý đồ đó, anh kéo lê chìa khóa qua cánh cửa, ba hay bốn lần, trước khi lóng ngóng tra vào ổ và cố ý vặn hết sức mạnh tay.
Cánh cửa từ từ mở vào trong dưới bàn tay Defarge, anh ta nhìn vào trong và nói gì đó. Một giọng mơ hồ trả lời gì đó. Hai bên chẳng ai nói gì hơn một từ đơn duy nhất.
Anh ngoái nhìn qua vai rồi ra dấu cho hai người kia đi vào. Ông Lorry quàng tay ôm chặt ngang hông cô gái vì ông sợ cô sẽ ngã quỵ.
A-a-a, công việc, công việc thôi! - Ông thúc giục, nhưng giọt lệ long lanh trên má ông thì lại chẳng có gì là công việc. - Vào đi, vào đi!
Tôi sợ điều này, - cô gái vừa đáp vừa run.
Điều này? Điều gì?
Ý tôi là người ấy. Là cha tôi.
Cuống quýt vì tình trạng bất ổn của cô gái và vì cái khoát tay ra hiệu của người dẫn đường, ông Lorry kéo tay cô quàng qua cổ mình, hơi nhấc cô lên và kéo nhanh vào trong phòng. Ông đặt cô đứng xuống bên trong ngưỡng cửa và giữ cô gái bám sát vào ông.
Defarge rút chìa khóa ra, đóng cửa lại, khóa chặt bên trong, rồi lại rút chìa khóa ra cầm trong tay. Mọi động tác đều cẩn thận và cố sức gây tiếng động thật mạnh, thật ồn kèm theo. Cuối cùng, anh băng qua phòng, bước chân thận trọng, đi tới chỗ cửa sổ. Anh dừng ở đó và quay mặt lại.
Từng được xây làm kho chứa củi và các thứ tương tự, phòng áp mái này tù mù, tăm tối; bởi cửa sổ tò vò đó thực tế là một cửa trổ ra mái nhà, có gắn một cần trục nhỏ để kéo hàng dưới đường lên; nó không hề lắp ô kính nào mà chỉ là hai cánh gập vào chính giữa như mọi cửa nẻo kiểu Pháp. Để khỏi lạnh, một cánh đóng chặt, một cánh chỉ hé ra chút xíu. Qua khe hở đó, ánh sáng lùa vào rất ít nên trong phòng tối om, mới bước vào rất khó nhìn thấy gì; phải ở rất lâu người ta mới từ từ quen, mới có thể làm bất cứ công việc gì tỉ mỉ trong trong cảnh tăm tối nhường ấy. Vậy mà một việc tỉ mỉ như thế lại đang được làm ngay trong căn phòng áp mái này. Quay lưng về phía cửa phòng, quay mặt về phía cửa sổ nơi anh chủ quán đang đứng nhìn, một người tóc bạc trắng ngồi trên băng ghế thâm thấp, gập người tới trước, đang bận bịu làm những chiếc giày.