Hai Kinh Thành

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Năm Năm Sau
Năm Năm Sau

❊ ❊ ❊

Ngân hàng Tellson gần cổng thành Temple Bar là một nơi cổ lỗ, ngay từ năm 1780 đã thế. Chỗ này rất nhỏ, rất tăm tối, rất xấu xí, rất chật chội bất tiện. Đã thế nó lại càng cổ lỗ hơn khi các cổ đông điều hành ngân hàng vẫn có tâm lý hãnh diện về cái sự tăm tối, xấu xí, chật chội bất tiện này. Thậm chí họ còn tự hào về tất cả những đặc điểm ấy và nung nấu một niềm xác tín đặc biệt rằng nếu nơi này không phản cảm như thế thì sẽ giảm bớt sự trọng vọng. Đó không hề là niềm tin tiêu cực mà là một vũ khí tích cực cho họ phô truơng với những nơi kinh doanh tiện nghi hơn, họ bảo Tellson không cần chỗ rộng rãi, Tellson không cần sáng sủa, Tellson không cần tô điểm trang hoàng. Noakes và Hội đoàn có lẽ cần, hoặc hãng Snooks Brothers có lẽ cần, nhưng Tellson thì không, tạ ơn Chúa!

Quý tử của bất kỳ cổ đông nào cũng sẽ bị truất quyền thừa kế nếu chúng dám ngỏ ý tu sửa lại Tellson. Về phương diện này thì hãng Tellson khá tương đồng với Anh quốc là nước rất thường tước quyền tự do của con dân nào dám đề nghị cải tổ những luật tục từ lâu nay chỉ làm tăng lòng kính sợ nhưng lại hết sức đáng chê trách.

Cho nên mới có chuyện Tellson trở thành tột đỉnh vinh quang của sự bất tiện. Sau khi xô bật cánh cửa lì lợm ngu si lúc nào cũng rên rỉ cọt kẹt, ta vấp ngay phải hai bậc thang đi xuống, và hoàn hồn nhận ra mình đang ở trong một nơi chật chội thảm hại, có hai quầy nhỏ nơi những ông già cốc đế tay run lẩy bẩy cầm tờ ngân phiếu của ta và săm soi chữ ký bên những ô cửa sổ tăm tối, phía ngoài lúc nào cũng vấy đầy bùn văng từ phố Fleet, và càng tăm tối thêm vì những song sắt trên khung cửa và cái bóng u ám của cổng thành Temple Bar. Nếu công việc buộc ta phải gặp “Ông Chủ”, ta sẽ được đưa vào một thứ giống xà lim cấm cố ở phía sau, nơi ta có thể trầm tư về cuộc đời uổng phí của mình chờ đến khi Ông Chủ hai tay thọc trong túi xuất hiện, ta không tránh khỏi giật mình trong cảnh tranh tối tranh sáng u ám đó. Tiền của ta nhảy ra hay bay vào những ngăn kéo gỗ cũ kĩ mối mọt, một màn bụi sẽ xộc lên mũi ta, chui vào họng ta khi các ngăn này kéo ra sập vào. Những tờ tiền của ta có mùi mốc cứ như chúng sẽ nhanh chóng mục rữa thành giẻ rách trở lại*. Đồ vàng bạc của ta được cho vào trong những cái hộc bẩn thỉu đó, và lớp nước bóng chỉ một, hai ngày là sẽ bị phá hủy bởi bao nhiêu thứ xú uế bên trong. Những văn tự tài sản của ta được cất giữ trong những hầm bảo quản tạm bợ từng là các nhà bếp và buồng rửa bát, và các tờ giấy sẽ bị bào mòn trong bầu không khí nhà băng này. Những tráp đựng giấy tờ gia đình của ta được đưa lên lầu cho vào căn phòng Barmecide* lúc nào cũng có một bàn tiệc vĩ đại mà chẳng bao giờ bày món ăn ra; nơi mà những lá thư đầu tiên của người tình cũ hay của lũ con thơ gửi cho ta, mãi đến năm 1780 ấy, mới vừa thoát khỏi nỗi kinh hoàng bị xem trộm qua các cửa sổ, bởi vì trên cổng thành Temple Bar trước đó là chỗ bêu những đầu người bị tử hình - một hành động man rợ, bạo tàn khôn xiết tưởng đâu chỉ xảy ra thời xa xưa ở Abyssinia hay Ashanti*.

Nhưng thật ra thời đó thì xử tử hình lại là giải pháp thịnh hành trong mọi ngành nghề, nhất là với hãng Tellson. Cái chết là phương thuốc trị bách bệnh của tạo hóa thì sao luật pháp lại không áp dụng chứ? Chiếu theo đó, ai ngụy tạo văn tự là tử hình; ai viết chi phiếu khống là tử hình; ai lén mở thư của người khác đọc là tử hình; ai ăn cắp bốn mươi đồng shilling và sáu xu là tử hình; ai giữ ngựa trước cửa Ngân hàng Tellson mà trộm một con phóng đi là tử hình; ai làm giả một đồng shilling quèn là tử hình; chỉ cần một chút sai âm lạc nhịp trong toàn bộ cung bậc tội trạng dính dáng đến tiền bạc là có thể bị tử hình tuốt*. Mà chết nhiều như thế thì có tác dụng ngăn chặn gì đâu - thực tế phải nói là ngược lại mới đúng - nhưng giống như mọi việc trên đời, cứ xử tử hình thì đỡ mất công giải quyết từng sự vụ và khỏi lo mọi hệ lụy về sau. Cho nên vào thời đó, cũng như các nơi làm ăn lớn hơn cùng thời, Ngân hàng Tellson đã lấy mạng nhiều người tới mức nếu những cái đầu bị chặt trước cửa - nếu không bí mật tống khứ đi - mà sắp hàng chồng chất hết trên cổng thành Temple Bar thì số thủ cấp đó cơ hồ sẽ chặn luôn chút ánh nắng chiếu vào tầng trệt chốn này.

Nhét trong đủ thứ ngăn, chuồng xỉn màu ở Tellson là những người già cả nhất nghiêm trang làm mọi việc. Nếu họ nhận một người trẻ vào làm ở chi nhánh London của Tellson, họ sẽ giấu kín anh ta đâu đó cho tới lúc hắn già đi. Họ sẽ nhốt hắn trong một chỗ tối, giống như ủ pho mát cho lên men, tới lúc hắn mốc xanh lên và nồng mùi Tellson. Chỉ khi đó, hắn mới được phép chường mặt ra, phô diễn màn săm soi tra cứu những tập sổ sách to lớn, và trưng ra chiếc quần chẽn cùng đôi ghệt cho ngân hàng thêm phần trịnh trọng.

Ngồi bên ngoài Tellson là biển hiệu sống của ngân hàng này; đó là một người chạy việc vặt - không bao giờ được vào bên trong nếu không có lệnh - thỉnh thoảng kiêm luôn khuân vác và liên lạc. Y không bao giờ vắng mặt trong giờ làm việc, trừ phi có việc phải đi, và nếu đi thì y được thế chỗ bằng thằng con trai: một đứa nhãi ranh gớm guốc mười hai tuổi, mặt mày giống cha như đúc. Ai cũng hiểu rằng Tellson đã hạ cố chấp nhận người sai vặt đó. Xưa nay ngân hàng luôn chấp nhận một người làm công việc như vậy và thời gian lẫn số phận run rủi đã đưa người này vào vị trí đó. Y mang họ Cruncher, và do thời trẻ đã hứa từ bỏ những trò hắc ám nhân dịp lễ rửa tội ở nhà thờ xứ đạo Hounsditch phía đông London, y được cho thêm cái tên Jerry.

Bây giờ là cảnh nhà riêng của Cruncher ở hẻm Hanging Sword, phố Whitefriars, lúc bảy giờ rưỡi sáng một ngày tháng Ba lộng gió năm 1780 Dương lịch. (Thay vì gọi năm Dương lịch theo tiếng La-tinh là “Anno Domini”, Cruncher cứ luôn gọi là “Anna Dominoes”, rõ ràng y nhầm tưởng cái năm Thiên Chúa giáng sinh cũng là cái năm phát minh ra trò chơi phổ biến mà cô nương Dominoes nào đó đã lấy tên mình đặt cho.)

Nhà Cruncher không nằm ở chỗ sạch sẽ thơm tho và chỉ có hai phòng, nếu như được xem cái buồng nhỏ có một ô cửa kính độc nhất là một phòng. Nhưng phòng nào cũng được dọn dẹp đàng hoàng. Vào cái giờ sớm sủa trong sáng tháng Ba lộng gió này, căn phòng y đang nằm ngủ đã được kì cọ sạch bóng; trên cái bàn kềnh càng bằng gỗ thông xẻ đã trải sẵn tấm khăn trắng tinh và bày biện tách đĩa chuẩn bị cho bữa sáng.

Cruncher nằm đắp tấm chăn ghép nối nhiều mảnh vải đủ màu trông như một chú hề sặc sỡ. Y đang chìm sâu trong giấc ngủ say nhưng dần dần bắt đầu lăn trở trên giường cho đến lúc tỉnh giấc, đầu tóc lởm chởm cứ như muốn xé toạc tấm chăn thành nhiều miếng. Y ngồi dậy, kêu to với giọng hết sức bực bội:

- Chết tôi rồi, mụ ấy ngày nào cũng thế!

Đang quỳ trong góc phòng, một người đàn bà bộ dạng cần cù, áo xống tươm tất, đứng dậy khá hấp tấp và hoảng sợ, đủ biết chị ta là người được ám chỉ.

Sao? - Cruncher vừa nói vừa nhìn quanh giường tìm chiếc ủng.

- Bà ngày nào cũng thế à?

Sau câu chào hỏi thứ hai, y chào lần thứ ba bằng cách quẳng chiếc ủng vào người đàn bà kia. Chiếc ủng dính đầy bùn đất, và đó là dấu hiệu cho biết một chi tiết kỳ lạ liên quan đến kinh tế gia đình của Cruncher: trong khi y thường từ ngân hàng về nhà sau giờ làm việc với đôi ủng sạch, sáng ra y lại thường thức dậy cũng với đôi ủng ấy dính đầy đất sét.

- Sao? - Cruncher đổi kiểu xưng hô sau khi ném trật. - Đồ phá đám, bà nàm cái trò gì thế?

Tôi chỉ cầu nguyện thôi mà.

Cầu với nguyện! Bà hay quá! Bà tính ngồi phịch ở đó mà trù ẻo tôi sao?

Tôi không trù ẻo, tôi chỉ cầu xin điều lành cho ông.

Điều nành! Nếu không phải thế thì đừng có trách tôi ngang ngược. Này, thằng Jerry, mẹ mày hay quá, cứ trù ẻo không cho cha mày nàm ăn. Mày có bà mẹ thương cha quá, thấy chưa con. Mày có bà mẹ ngoan đạo quá, thấy chưa con, cứ toàn ngồi phịch xuống mà cầu cho người ta giật miếng ăn khỏi mồm đứa con duy nhất của mẹ mày.

Cậu Cruncher con (còn mặc áo ngủ) nghe thế lấy làm khó chịu bèn quay sang mẹ, kịch liệt phản đối mọi chuyện làm suy suyển phần ăn của nó.

Bà tưởng bà hay à, - Cruncher cha nói tiếp, chẳng ăn nhập vào đâu mà cứ nói, - nờicầu xin của bà đáng bao nhiêu tiền? Đáng bao nhiêu bà nói đi!

Chỉ cầu nguyện bằng tấm lòng thôi, Jerry. Chỉ đáng thế thôi.

Bằng tấm nòng! - Cruncher lặp lại. - Thế thì chẳng đáng bao nhiêu. Đắt rẻ gì thì cũng không được trù ẻo tôi, tôi nói cho biết. Tôi cấm đó. Đừng có nàm tôi xui xẻo bằng mấy trò nén nút của bà. Nếu phải cầu xin thì bà cầu xin cho chồng cho con chứ đừng có trù ẻo. Giá mà tôi không có mụ vợ trái khoáy thế này, giá mà con tôi không có bà mẹ trái khoáy thế này, thì tuần trước tôi đã kiếm được chút tiền chứ đâu có bị trù ẻo, bị phá hoại, bị run rủi gặp toàn xui xẻo thế chứ. Chế-ế-ế-t tôi rồi! - Cruncher vừa thay đồ vừa nói không ngừng. - Cứ cầu nguyện cho cố vào nàm hỏng bét bao nhiêu chuyện, giá mà tuần rồi người nàm ăn nương thiện như tôi mà đừng bị mắc nừa cái chuyện xui xẻo ác ôn này chứ! Thằng Jerry, mày thay đồ đi con, trong núc tao nau ủng thì mày nhớ canh chừng mẹ mày đó, nếu mày thấy ngồi phịch xuống nần nữa thì gọi tao. Này, tôi nói cho mà biết, - Cruncher lại chuyển sang nói với vợ, - kiểu này thì tôi sẽ không đi nữa đâu. Tôi mệt rã cả người, buồn ngủ muốn chết, nưng hông đau nhức không còn biết ất giáp gì; toi công mà chẳng được xu nào; tôi nghi nà bà suốt ngày đêm đã trù ẻo nàm tôi không kiếm được tiền, tôi không bỏ qua chuyện này đâu, đồ phá đám, giờ bà muốn gì đây?

Miệng cứ càu nhàu những câu như “Phải rồi! Ngoan đạo quá mà! Bà đâu có trù ẻo cho chồng con khốn khổ nàm chi, phải không? Tôi rành bà quá!” và cứ mài giũa cơn uất ức cho bắn tung những lời mỉa mai bỏng rát, Cruncher bắt tay vào lau chùi đôi ủng và chuẩn bị các thứ để đi làm. Trong lúc đó, thằng con - tóc còn tơ mà đã dựng tua tủa, cặp mắt cũng sát nhau giống hệt cha - canh chừng bà mẹ theo lời dặn. Ở trong buồng đang rửa mặt thay đồ, nó chốc chốc lại vọt ra quấy rối bà mẹ tội nghiệp bằng cách làm bộ hét lên “Mẹ sắp ngồi phịch rồi... Kìa, cha ơi!” rồi sau tiếng báo động giả vờ ấy, nó lại lao vào trong buồng, miệng cười ngổ ngáo.

Cruncher vẫn chưa hết bực tức khi ngồi vào bàn điểm tâm. Y nổi uất lên, giở giọng thù oán khi chị vợ đọc kinh.

Đấy, đồ phá đám! Tính nàm gì nữa đó? Nại trù ẻo sao?

Vợ Cruncher giải thích là chị ta chỉ “xin phước lành.”

Khỏi cần! - Cruncher vừa nói vừa nhìn quanh làm như y mong chờ sẽ thấy bài kinh hiệu nghiệm của vợ sẽ làm ổ bánh mì biến mất. - Tôi không cần xin phước nành cho tôi biến khỏi căn nhà này, gia đình này. Tôi không cần xin phước nành cho đồ ăn của tôi biến khỏi cái bàn này. Im đi!

Mắt đỏ ngầu hung tợn cứ như đã thức trắng đêm tiệc tùng nhưng rốt cuộc chẳng có gì vui vẻ, Jerry Cruncher lo lắng bữa sáng chứ không phải nhai nuốt nó, y gầm gừ trên món điểm tâm như một con thú hoang trong chuồng. Đến gần chín giờ, y vuốt phẳng bộ mặt cau có, rồi khoác dáng vẻ khả kính, chỉnh tề hết mức để che phủ bản chất đích thực, và rời nhà bắt đầu một ngày làm việc.

Cho dù Cruncher thích tự xưng là “người nàm ăn nương thiện”, thật khó mà gọi công việc của y là một nghề. Dụng cụ của y chỉ có mỗi một ghế đẩu bằng gỗ, cưa ra từ một ghế tựa đã gãy lưng, cái ghế mà thằng nhóc Jerry đang đi cạnh cha sáng nào cũng mang theo để đặt dưới khung cửa sổ ngân hàng gần cổng thành Temple Bar nhất; ở đó, cái ghế được bổ sung một nắm rơm lấy từ bất kỳ cỗ xe ngựa nào đi ngang qua đầu tiên để rải xuống đất cho đỡ ướt lạnh bàn chân và thế là nó trở thành doanh trại của người sai vặt ấy. Ở vị trí này, Cruncher đã trở thành quen thuộc với mọi người ở phố Fleet và khu Temple Bar, như là chính cái cổng thành đó vậy. doanh trại lúc chín giờ kém mười lăm, vừa kịp lúc đưa tay lên chiếc mũ ba góc để chào những nhân viên Tellson già cả nhất bước vào trong ngân hàng, Jerry Cruncher ngồi túc trực trong buổi sáng tháng Ba lộng gió ấy cùng với thằng Jerry con đứng cạnh bên, nếu như thằng nhãi không bận lùng sục khắp Temple Bar tìm những thằng bé qua lại nào nhỏ tuổi hơn để tỏ tình thân ái bằng cách nện cho vài thương tích thể xác hay tinh thần. Giống nhau như đúc, hai cha con im lìm nhìn dòng xe cộ buổi sáng trên phố Fleet, hai cái đầu kế cận nhau cũng giống như hai con mắt nằm sát nhau trên mặt từng người; trông hai cha con chẳng khác gì hai con khỉ. Trông họ càng giống khỉ hơn khi chốc chốc Jerry cha lại nhai rồi phun một cọng rơm trong lúc cặp mắt nhấp nháy của Jerry con bồn chồn quan sát cha lẫn mọi thứ khác trên phố Fleet.

Cái đầu của người tùy phái làm việc thường trực bên trong Ngân hàng Tellson thò ra cửa chính, và một lời cộc lốc thốt lên:

Cần sai việc!

A ha, kìa cha! Có việc làm sớm rồi!

Sau lời tiễn biệt đó, Jerry con ngồi vào ghế đẩu của cha, dồn quan tâm vào cọng rơm cha nó bỏ lại, vừa nhai vừa ngẫm nghĩ.

Lúc nào cũng có mùi gỉ sét! Ngón tay cha lúc nào cũng dính gỉ sét. - Jerry con lẩm bẩm. - Cha mình lấy đâu ra cái mùi sắt gỉ này chứ? Ở đây làm gì có thứ nào gỉ sét đâu!

bèn đắc ý chỉ trỏ hết xe tù này đến xe khác cứ như một nhà sưu tầm cổ ngoạn hay một chuyên gia sành điệu đang giảng giải rằng hôm qua, hôm kia ai đã ngồi trên những cỗ xe định mệnh ấy. Người ngồi trên xe có kẻ dửng dưng nhìn những cảnh đó
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.