CHƯƠNG TÁM
Đóng tàu. - Mùa gặt thứ hai. - Pencroff chẳng cần gì hơn.
Nếu Pencroff đã nảy ra trong đầu một ý định gì là anh không yên tâm nếu chưa thực hiện được ý định ấy. Chẳng hạn, anh nghĩ ra chuyện đi đến đảo Tabor, muốn vậy phải có một chiếc tàu khá lớn - thế là chàng thủy thủ lao vào đóng tàu.
Kỹ sư, với sự đồng tình của chàng thủy thủ, đã dừng lại ở phương án như sau. Chiều dài của tàu sẽ bằng ba mươi lăm fut, chiều ngang - chín fut, đủ tạo cho nó tốc độ. Boong tàu được quyết định lát liền từ mũi đến đuôi tàu, trên đó có hai nắp khoang. Trang bị tàu giống như thuyền buồm lớn, nghĩa là có nhiều buồm có thể điều khiển, điều phối một cách dễ dàng trong lúc có bão biển hoặc cua đột ngột về hướng gió ngược chếch mạn. Và, cuối cùng, họ quyết định đóng thân tàu với mạn cách mặt nước cao, các tấm ván của lớp học bên ngoài được nối với nhau theo kiểu đối đầu chứ không phải ốp lên nhau…
Đóng tàu bằng gỗ gì đây? Bằng gỗ đu hay gỗ thông sẵn có rất nhiều trên đảo? Họ đã dừng lại ở gỗ thông, thật vậy, đây là loại gỗ, theo lối nói của thợ mộc, rất dễ “bổ”, hơn nữa gia công không khó, lại không sợ nước.
Sau khi cân nhắc mọi điều đến từng chi tiết, những người khai khẩn quyết định chỉ có Cyrus và Pencroff lo việc đóng tàu thôi, bởi vì đến mùa xuân còn những nửa năm nữa. Gédéon Spilett và Harbert sẽ đi săn như cũ, còn Nab và người giúp việc là chú Jup thì lo làm các công việc nội trợ của mình.
Thế là một số cây thông đã được chặt, đẽo, bạt và xẻ ra thành ván. Chỉ sau một tuần, tại khu đất lõm nằm giữa Lán tạm và dãy núi đá hoa cương, nơi đặt xưởng đóng tàu, đã thấy có một thanh gỗ ba mươi lăm fut làm sống tàu cùng với sống đuôi và sống mũi trước.
Cyrus Smith am hiểu công việc đóng tàu, cũng như nhiều việc khác; trước hết ông lập bản vẽ thi công. Quả là ông có một người giúp việc tuyệt vời - Pencroff, đã từng nhiều năm làm việc ở các xưởng đóng tàu Bruklin, nên anh biết cần phải làm gì.
Pencroff, lẽ dĩ nhiên hào hứng tham gia việc đóng tàu và sẵn sàng làm việc không nghỉ ngơi.
Nhưng vì một công việc mà có lần anh đã phải rời xưởng mất chỉ đúng một ngày thôi. Đó là ngày 15 tháng tư; hôm ấy anh đi gặt lúa mì. Vụ thu hoạch tuyệt vời, cũng giống như vụ đầu - dự tính bao nhiêu, thu được bấy nhiêu hạt.
- Năm buaso, thưa ngài Cyrus! - Pencroff reo lên, sau khi cân kỹ lượng tài sản của mình.
- Năm buaso, - kỹ sư nhắc lại, - Mà mỗi buaso là một trăm ba mươi ngàn hạt; nghĩa là, cả thảy chúng ta có sáu trăm năm mươi ngàn hạt.
- Đã vậy bây giờ ta gieo hết số hạt, chỉ để lại dự trữ một phần nhỏ thôi, - chàng thủy thủ nhận xét.
- Đồng ý, Pencroff ạ. Và nếu vụ sau cũng trúng như thế này thì chúng ta sẽ thu hoạch bốn ngàn buaso.
- Chúng ta sẽ có bánh mì?
- Sẽ có bánh mì!
- Sẽ phải làm cối xay!
- Chúng ta sẽ làm cối xay.
Vì vậy, vụ thứ ba này cánh đồng lúa mì được mở rộng hơn trước, đất được gia công hết sức kỹ càng rồi mới gieo hạt. Xong đâu đó Pencroff mới lại tiếp tục việc đóng tàu.
Chàng thủy thủ làm việc say mê không thể chê vào đâu được, và cũng chỉ nhờ có sức khỏe cường tráng chàng mới có thể vượt qua được sự mệt nhọc. Trong thời gian ấy, để thưởng cho tất cả các công trình lao động của chàng, những người bạn đã chuẩn bị cho chàng một sự bất ngờ thú vị, và ngày 31 tháng năm, chàng đã được hưởng một niềm vui sướng hầu như lớn nhất trong đời.
Hôm ấy, sau khi ăn trưa, Pencroff định đứng dậy rời khỏi bàn; bỗng chàng cảm thấy có ai đó đặt tay lên vai mình.
Đấy là tay Gédéon Spilett. Nhà báo nói:
- Khoan đã, Pencroff thân mến, sao cậu lại bỏ đi thế? Còn món tráng miệng nữa kia mà?
- Xin cảm ơn, ông Spilett, - chàng thủy thủ trả lời, - tôi không có thời gian.
- Thì dùng một ly cà phê con thôi đã nào?
- Không thích.
- Thế thì, một điếu thuốc nhé?
Pencroff bỗng nhiên chồm lên, và khuôn mặt rộng, nhân hậu của chàng tái nhợt đi: chàng đã nhìn thấy nhà báo chìa cho chàng cái tẩu đã được nhồi thuốc, còn Harbert thì đưa cho chàng hòn than hồng.
Chàng thủy thủ định nói điều gì đó, nhưng không thốt nên lời, chàng chộp lấy cái tẩu, để lên môi, mồi lửa ở hòn than và rít luôn mấy hơi.
Một làn khói xám thơm cuộn bốc lên thành đám mây nhỏ và từ trong đám mây ấy vang lên giọng nói hoan hỉ:
- Thuốc lá, đích thị là thuốc lá!
- Đúng đấy, Pencroff ạ, - Cyrus Smith lên tiếng, - và là thuốc lá đặc biệt đấy!
- Ôi, đấng thiên mệnh! Người sáng tạo của mọi sự hiện tồn! - Chàng thủy thủ kêu lên. - Bây giờ thì trên đảo của chúng ta có tất cả những gì mong muốn!
Và Pencroff lại hút, hút liên tục.
- Thế ai đã tìm thấy thuốc lá vậy? - Chàng bỗng hỏi. - Tất nhiên là em, Harbert?
- Không phải đâu, anh Pencroff. Ông Spilett đấy.
- Ông Spilett! - Chàng thủy thủ kêu lên, ôm chặt lấy nhà báo chưa từng bao giờ bị sa vào một gọng kìm như vậy.
- Ôi, Pencroff! - Gédéon Spilett rên, khó khăn lắm mới thở được. - Hãy trả ơn cả Harbert nữa - chú ấy đã xác định được đó là cây thuốc lá; cả Cyrus Smith nữa - ngài ấy đã chế biến thành thuốc hút; và Nab nữa - cậu ấy khó khăn lắm mới giữ được cái lưỡi, không tiếc lộ trước sự bất ngờ này.
- Vâng, các bạn, tôi nhất định phải mang ơn các bạn. Mãi đến khi chết tôi sẽ không quên!