CHƯƠNG BỐN
Xây dựng tiện nghi trong lán tạm. - Nhà báo và Nab trở về. - Que diêm duy nhất. - Bữa tối. - Đêm đầu tiên trên cạn.
Vừa dỡ xong củi trên bè xuống, việc Pencroff quan tâm đầu tiên là làm cho cái lán tạm có thể ở được, che các hành lang khỏi bị những cơn gió lùa tung hoành, Pencroff và Harbert dùng cát, đá, những tấm đan bằng cành cây và đất sét nhão để bịt chặt các hành lang thông thống gió lạnh, chỉ chừa lại một hành lang hẹp, ngoằn ngoèn nối với hành lang bên cạnh để làm ống khói, tạo sức hút cho bếp lò. Bây giờ lán tạm đã có ba, bốn “phòng”, nếu có thể gọi như thế được đối với cái hang tối tăm mà ngay đến thú rừng cũng chưa chắc đã chịu ở. Nhưng ở đây khô ráo, và có thể đứng thẳng người, ít nhất là trong “phòng” lớn nhất ở chính giữa. Nền đất chỗ nào cũng được trải cát mịn.
Công việc sửa sang tiện nghi trong lán tạm đã mau chóng kết thúc, và Pencroff tuyên bố rằng anh ta hoàn toàn vừa lòng.
- Thế là bây giờ các bạn của chúng ta đã có thể về ở, - anh nói. - Nơi nương trú của chúng ta không tồi lắm.
Chỉ còn lại việc đắp bếp lò và chuẩn bị bữa trưa. Công việc thực chất là đơn giản, chẳng khó khăn gì. Họ đã xếp những viên đá thành một cái bếp lò bên cạnh lỗ “thông khói” ở sâu trong hành lang đầu tiên, phía bên trái. Dĩ nhiên là không phải tất cả nhiệt đều thoát ra bên ngoài theo khói, vì vậy các “căn phòng” đều được sưởi ấm. Họ đã biến một trong số các hành lang thành kho để củi. Chàng thủy thủ bắt đầu chất củi và các cành khô nhỏ vào bếp lò. Anh ta chưa xong việc thì đột nhiên Harbert hỏi xem anh ta có diêm không?
- Thì dĩ nhiên, - Pencroff đáp. - Chứ không có diêm, không có đá đánh lửa thì chết mất chứ còn gì.
- Hoàn toàn không đâu. Chúng ta vẫn có thể lấy được lửa bằng cách cọ xát như những người hoang sơ từng làm ấy. - Harbert không chịu. - Cọ xát hai thanh gỗ khô vào với nhau là có lửa thôi à!
- Thôi được, hãy thử xem, chú bạn nhỏ. Chú sẽ thấy, chả được tích sự gì đâu, chỉ tổ thêm đau tay thôi.
- Nhưng thực ra đây chỉ là cách đơn giản, và cho đến nay người ta vẫn áp dụng nó trên nhiều hòn đảo ở Thái Bình Dương.
- Anh không nói rằng không thể lấy lửa bằng cách ấy. - Pencroff trả lời. - nhưng, chắc chắn là những người hoang sơ biết làm công việc ấy thạo hơn chúng ta, cũng có thể là họ biết cần phải chọn loại gỗ gì kia. Như anh đây chẳng hạn, đã từng đâu phải một lần định lấy lửa bằng cách đó rồi, nhưng có được gì đâu. Không, tốt hơn hết là anh sẽ nhóm lửa bằng diêm thôi. Ủa, anh để diêm đâu mất rồi?
Pencroff lục tìm trong các túi ái bludông hộp diêm mà theo thói thường của người nghiện thuốc lá, không khi nào anh rời ra được. Chẳng thấy cái hộp đâu cả. Anh sờ nắn các túi quần, nhưng cả ở đấy nữa cũng không tìm thấy cái hộp nhỏ bé quí giá ấy đâu.
- Bậy quá đi mất!... Tai họa thật rồi! - Pencroff nói, bối rối nhìn Harbert. - Chắc là nó đã rơi khỏi túi rồi - Anh đã đánh mất cái hộp diêm. Còn em, không có gì ư, Harbert? Một cái bật lửa nào đó cũng được để nhóm cái bếp của ta chứ?
- Không, anh Pencroff, không có gì cả.
Chàng thủy thủ, và theo sau anh là Harbert, ra khỏi Lán tạm, Pencroff bực tức lau trán.
Cả hai người bắt đầu cần mẫn tìm kiếm trên cát và giữa các vách đá trên bờ sông, nhưng những cuộc tìm kiếm của họ đều trở nên vô ích. Cái hộp con bằng đồng mà Pencroff đựng diêm trong đó có lẽ đã mất thật rồi.
- Anh Pencroff này, - Harbert hỏi, - thế khi ở trên nôi khí cầu, anh có quẳng nó đi không đấy?
- Có lẽ nào anh lại quẳng nó đi! - Chàng thủy thủ tức giận. - Chỉ có thể tự nó rơi mất thôi. Vì chúng mình lúc ấy bị xóc quá mà. Nhưng cái vật bé nhỏ ấy rơi mất lâu chưa không biết? Đã vậy, cái tẩu của anh cũng bị mất rồi. Cái hộp con chết tiệt! Tìm nó ở đâu được nhỉ?
- Vậy thì thế này, - Harbert nói, - bây giờ đúng lúc nước rút, ta đi ra bờ biển, chỗ chúng ta bị quẳng xuống ấy. Có thể là ta sẽ tìm được nó đấy.
Ít hy vọng, tuy nhiên, cứ thử tìm xem, may ra thì thấy, vì vậy mà Harbert cùng với Pencroff đã vội vàng đi ra đúng chỗ đuôi doi đất mà hôm trước họ đã bị rơi xuống. Chỗ này cách lán tạm hai trăm mét. Tại đây họ đã xem xét kỹ toàn bộ chỗ bờ biển phủ đá sỏi, từng hủm trũng giữa các viên đá. Mọi cố gắng đều không có kết quả!
Pencroff không thể giấu nỗi nổi cay đắng của mình. Trên trán anh hằn lên những nếp nhăn. Harbert rất muốn an ủi chàng thủy thủ, nên đã nói rằng, có lẽ những que diêm đã bị ướt và đằng nào chúng cũng chẳng có ích lợi gì nữa.
- Không đâu, chú bạn nhỏ ạ, chàng thủy thủ đáp - Anh đã để chúng trong một cái hộp con bằng đồng và cái nắp ấy được đậy kỹ lắm! Chúng ta biết làm sao bây giờ?
- Thế nào ta cũng tìm ra được cách lấy lửa, - Harbert nói. - Em nghĩ, ông Smith và ông Spilett sẽ không chịu bí như em với anh đâu!
- Cũng có thể như thế, - Pencroff chán nản nói.
- Nhưng bây giờ đây chúng ta không nhóm được lửa và thế là sẽ chẳng có gì cho các bạn của chúng ta ăn khi họ trở về.
- Anh đừng buồn, - Harbert nói với vẻ hoạt bát. - Không thể nào họ lại không có diêm hoặc đá đánh lửa.
- Anh ngờ lắm! - Chàng thủy thủ lắc đầu - Thứ nhất là Nab và ông Cyrus Smith không hút thuốc, còn ông Spilett, anh nghĩ, ông ta cố lo cứu lấy cuốn sổ ghi chép của mình hơn là cái hộp diêm con!
Harbert im lặng. Việc mất hộp diêm tất nhiên là một sự kiện đau lòng, nhưng cậu bé hy vọng rằng bằng cách này cách khác rồi cũng lấy được lửa. Mặc dù tính kiên quyết và là người có kinh nghiệm hơn, nhưng Pencroff không tán đồng niềm tin của chú bé mà anh nuôi dưỡng. Nhưng dẫu thế nào thì cũng chỉ còn một cách là đợi Nab và nhà báo trở về. Thế là đành phải từ bỏ ý định đãi họ món trứng luộc, còn triển vọng đãi họ món sò sống thì chắc gì đã được họ thích, cũng như Pencroff đã chẳng mê gì.
Đề phòng trường hợp không thể nhóm lửa được, chàng thủy thủ và Harbert đã bổ sung thêm số sò dự trữ, và sau đó im lặng đi về chỗ ở của mình.
Gần sáu giờ, khi mặt trời đã khuất sau đỉnh núi nhô cao ở phía tây, Harbert đi lững thững bên bờ biển, bỗng reo lên báo tin Nab và Gédéon Spilett đã về. Nhưng họ chỉ về có mình thôi!... Tim cậu bé thắt lại, vì nỗi buồn khôn xiết. Có nghĩa là những linh cảm của Pencroff đúng thật! Không tìm thấy Cyrus Smith rồi!
Nhà báo tiến lại gần Harbert, lặng lẽ ngồi lên một hòn đá. Anh ta trở về trong tình trạng kiệt sức vì mệt và đói, không đủ sức nói lên lời.
Mắt Nab đỏ ngầu, anh ta đã khóc quá nhiều, và những giọt nước mắt mà giờ đây anh không ngăn nổi, đã nói lên rõ ràng nỗi thất vọng của anh.
Sau khi nghỉ lấy sức, nhà báo đã kể lại những cuộc tìm kiếm Cyrus Smith không đem lại kết quả. Cùng với Nab, anh đã đi dọc bờ biển hơn tám dặm, như vậy là họ đã đi cách rất xa nơi mà kỹ sư và con chó Top của ông đã bị mất tích. Bờ cát hoàn toàn hoang vắng, không thấy mảy may một dấu hiệu nào, một vết tích nào về ông cả.
- Ôi, tôi kiệt sức rồi, - Nab khẽ nói.
Harbert chạy đến chỗ anh.
- Anh Nab, - cậu bé nói. - Đừng thất vọng. Thượng đế sẽ trả ông ấy về với chúng ta! Còn bây giờ anh hãy bình tình lại, hãy nghỉ đã. Anh bị đói rồi. Hãy bồi dưỡng một chút đi. Em mời anh ăn đi này.
Và, vừa nói những điều ấy, cậu bé vừa để trước mặt Nab tội nghiệp mấy vốc sò. Một món ăn nghèo nàn và hoàn toàn không đủ no.
Nab đã nhiều giờ qua không ăn gì, bây giờ lại từ chối ăn. Bị mất chủ, anh không thể và không muốn sống nữa!
Còn nói về Gédéon Spilett thì anh đã ăn không ít những con sò rồi nằm lên cát bên dưới một tảng đá. Anh cũng bị kiệt sức lắm rồi, nhưng bình tĩnh. Harbert bước lại chỗ anh, cầm tay anh, nói:
- Thưa ông Spilett, cháu và anh Pencroff đã tìm được một nơi nương trú, ông về đó nghỉ sẽ tốt hơn ở đây nhiều. Đêm đã bắt đầu xuống rồi. Ta đi nào. Ông cần nghỉ ngơi đã! Còn ngày mai ta sẽ tính xem cần làm gì.
Nhà báo đứng dậy và Harbert dẫn anh về Lán tạm.
Lúc ấy Pencroff mới lại chỗ Spilett và, bằng một giọng rất tự nhiên, hỏi xem anh ta tình cờ có giữ được que diêm nào không.
Nhà báo dừng lại, sờ nắn các túi; nhưng không tìm thấy gì cả, anh đáp:
- Diêm thì tôi có đấy. Nhưng chắc là tôi vứt đi mất rồi…
Khi ấy Pencroff mới kêu Nab hỏi, và cũng được trả lời y như vậy.
- Ồ, khỉ thật! - chàng thủy thủ không kiềm chế nổi, kêu lên.
Nghe thấy lời than ấy, nhà báo đến gần Pencroff.
- Không có lấy một que diêm nào à? - Anh ta hỏi.
- Không mảy may, và thế là chẳng có gì nhóm lửa cả.
- Chẳng có gì, - Nab đau khổ nhắc lại. - Giá ông chủ tôi ở đây thì ông ấy đã biết cách lấy lửa rồi đấy.
Cả bốn người lặng đi, lo lắng nhìn nhau. Harbert đầu tiên lên tiếng phá vỡ sự im lặng nặng nề.
- Thưa ông Spilett, ông hút thuốc kia mà, nên lúc nào cũng mang diêm theo người chứ ạ! Có thể là ông chưa tìm kỹ chăng? Xin ông hãy tìm kỹ cho! Chúng ta chỉ cần một que diêm thôi cũng đủ.
Nhà báo lục tìm trong các túi áo gilê, túi quần, túi áo măng tô và cuối cùng, đã nắn thấy một que diêm mảnh mai ở dưới lớp lót áo gilê. Anh cảm nhận que diêm qua lớp vải, dùng mấy ngón tay giữ chặt lấy, nhưng không rút ra được. Chắc chắn đó là que diêm, que diêm duy nhất, và nhiệm vụ bây giờ là làm sao lấy nó ra được mà không làm ảnh hưởng đến đầu có phốt pho.
- Ông để cháu lấy ra nhé? - Harbert nói.
Và cậu bé đã rút được que diêm ra khỏi lớp vải lót áo gilê một cách rất nhanh chóng và nguyên vẹn. Que diêm chẳng đáng gì, nhưng quý giá, vì bây giờ đây nó có ý nghĩa rất quan trọng. Đầu diêm không bị sây sát gì hết.
- Que diêm! - Pencroff kêu lên. - Tôi mừng tưởng như chúng ta có nguyên cả một xe diêm vậy!
Anh ta thận trọng đỡ que diêm trong tay Harbert và đi theo các bạn của mình về lán tạm.
Những que diêm ở các vùng dân cư ít có giá trị, người ta xài một cách thờ ơ và hoang phí, nhưng ở đây lại quý như vàng, do vậy họ hết sức nâng niu que diêm duy nhất ấy.
Điều trước tiên chàng thủy thủ khẳng định là que diêm hoàn toàn khô. Đoạn anh nói:
- Cần có giấy nữa.
- Đây, anh cầm lấy. - Gédéon Spilett xúc động xé một tờ giấy nhỏ trong cuốn sổ ghi chép của mình ra.
Pencroff cầm lấy tờ giấy của anh nhà báo đưa cho và ngồi xổm trước bếp lò. Trong lò, củi đã chất rất khéo, giữa các thanh đều có khe hở cho không khí lưu thông, bên dưới để lá khô, cỏ khô và rêu khô làm cho lửa bén ngay và củi mau cháy.
Pencroff cuốn tờ giấy thành hình cái ống loa kèn nhỏ như những người hút thuốc thường làm khi châm tẩu ngoài gió, và để cái ống giấy ấy vào giữa mớ rêu. Đoạn anh nhặt một viên sỏi nhám, lau chùi thật cẩn thận và, hồi hộp, nón thở, khẽ quẹt que diêm vào hòn đá.
Thử lần thứ nhất không đem lại kết quả: Pencroff sợ lớp phốt pho bị vụn ra nên quẹt yếu quá.
- Không, tôi không thể quẹt được, - anh nói, - tay run quá… Tôi làm hỏng que diêm mất thôi… Tôi sẽ không quẹt nữa! - Và, Pencroff ngẩng lên, yêu cầu Harbert làm thay mình.
Cậu bé chưa khi nào hồi hộp đến như vậy. Trống ngực cậu đập thình thịch. Có lẽ thần Promêtê khi quyết định đánh cắp lửa của trời cũng không hồi hộp đến thế! Tuy nhiên, cậu bé không nghĩ ngợi nhiều, lẹ làng quẹt diêm vào đá. Một tiếng xẹt nhẹ phát ra, thế là ở đầu diêm đã thấy thấp thoáng một ngọn lửa xanh da trời nhạt và mùi khói hăng hắc tỏa ra. Harbert khẽ khàng chúc đầu diêm xuống dưới cho ngọn lửa cháy mạnh hơn, rồi cẩn thận châm que diêm vào ống giấy cuộn. Tờ giấy cháy bùng lên, và rêu cũng bén lửa ngay lập tức.
Vài giây sau đã nghe thấy tiếng củi cháy kêu lách tách, và trong bóng đêm ánh lửa reo vui vẻ, bõ công chàng thủy thủ ra sức thổi cho đống lửa cháy to lên.
- Có thế chứ! - Pencroff kêu lên và đứng dậy. - Tôi kiệt sức mất rồi! Chưa bao giờ tôi lại hồi hộp đến như thế.
Thật là vui sướng khi nhìn thấy ngọn lửa cháy rực trong bếp lò làm bằng mấy viên đá phẳng xếp lại. Khói thoát ra thoải mái qua một đường hẹp, sức hút tốt và chẳng bao lâu không khí ấm áp dễ chịu đã lan tỏa khắp lán tạm. Chuyện lửa tất nhiên cần phải chú ý trông nom; để khỏi bị tắt ngấm, bao giờ cũng phải vùi vài hòn than hồng dưới một lớp tro - việc ấy chẳng khó gì.
Pencroff quyết định trước hết dùng bếp lò để chuẩn bị bữa ăn tối no hơn món sò sống. Harbert mang đến độ ba chục quả trứng chim bồ câu. Nhà báo ngồi vào một góc và hững hờ nhìn các công việc chuẩn bị ấy. Anh cố gắng giải đáp ba câu hỏi đang giày vò mọi người: Cyrus Smith còn sống không? Nếu còn sống thì bây giờ ông ấy đang ở đâu? Nếu ông ấy còn nguyên vẹn sau khi rơi xuống biển thì vì sao lại không thấy tăm hơi đâu cả? Còn Nab trong khi đó lại dằn vặt mình trên bờ biển, thẫn thờ như một cái bóng không hồn.
Pencroff biết đến năm mươi hai cách làm món trứng, nhưng ở đây anh không được lựa chọn, nên đành chỉ đem trứng vùi vào tro nóng nướng lên mà thôi.
Vài phút sau, trứng nướng đã chín, chàng thủy thủ mời Gédéon Spilett cùng ăn bữa tối. Đây là bữa ăn đầu tiên của những người đi khinh khí cầu bị nạn trên vùng bờ biển xa lạ. Những quả trứng nướng hóa ra rất ngon, và do trứng chứa nhiều chất bổ cần thiết cho con người, nên các vị khách viễn du không may đã được bồi dưỡng tốt và chẳng bao lâu đã cảm thấy khỏe khoắn hơn.
Ôi, giá như người vắng mặt trong bữa ăn này sẽ trở về nhỉ! Giá như cả năm người tù binh chạy trốn khỏi Richmond bây giờ đều có mặt cùng nhau ở nơi nương trú giữa vách đá này, bên ngọn lửa cháy rực này, trên nền cát khô này, thì họ đã phải hết lòng tạ ơn trời rồi. Nhưng, than ôi! Đã thiếu mất ông Cyrus Smith, một nhà phát minh tuyệt vời, một nhà bác học tuyệt vời mà họ đã tôn làm người cầm đầu - ông ấy đã chết mà thậm chí họ đã không mai tang được cho ông.
Thế là ngày 25 tháng ba đã trôi qua. Đêm đã đến. Từ bên ngoài vẳng lại tiếng gió ù ù và tiếng sóng biển dội vào bờ đều đều. Sóng cuốn xô đá và sỏi kêu rào rào.
Sau khi ghi vội vào cuốn sổ tay những sự kiện của một ngày xuất hiện trên vùng biển không quen biết, nhà báo nằm vào một góc hành lang tối và thiếp đi.
Harbert ngủ được ngay. Chàng thủy thủ thì, như người ta nói, “ngủ nửa mắt” bên bếp lò, vì anh không quên chất củi vào bếp.
Còn Nab thì suốt đêm vẫn cứ lang thang trên bờ biển và gọi ông chủ của mình, mặc dù các bạn hết lời khuyên anh nằm ngủ đôi chút.