Bí Mật Đảo Lincoln

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 49 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Bí Mật Của Đảo - ***

❊ ❊ ❊

CHƯƠNG MỘT

Tai nạn hay là thoát nạn? - Khẩn cấp gọi Ayrton. - Đấy không phải là “Duncan”. - Chiếc tàu khả nghi. - Cần phải có những biện pháp. - Phát súng đại bác.

Hai năm rưỡi đã trôi qua kể từ ngày khí cầu bị tai nạn, mà các hành khách của nó bị quẳng xuống đảo Lincoln vẫn chưa liên hệ được với thế giới bên ngoài. Một lần, nhà báo đã định lợi dụng một con chim để thực hiện việc ấy, nhưng vị tất đã có thể hy vọng lá thư đến được với người đời. Trong những năm qua, chỉ có một mình Ayrton nhập vào với khu di dân nhỏ bé này trong những hoàn cảnh như bạn đọc đã rõ. Thế rồi đùng một cái, ngày 17 tháng mười, trên mặt biển quanh năm hoang vắng đã xuất hiện một con tàu!

Không thể nghi ngờ gì nữa, đã thấy rõ một con tàu ở vùng đảo! Nhưng nó sẽ đi ngang qua hay tiến gần vào đảo? Hai ba giờ nữa, mọi việc sẽ rõ.

Cyrus Smith và Harbert gọi ngay Spilett, Pencroff và Nab vào phòng lớn của Lâu đài đá hoa cương và báo tin cho họ biết. Pencroff chộp lấy ống kính viễn vọng, vội vàng nhìn khắp chân trời và đã phát hiện thấy cái chấm đen ở đúng ngay nơi có vệt mờ trên tấm kính ảnh.

- Trời đất quỉ thần ơi! Đúng là tàu thật rồi! - Chàng nói, tuy nhiên, không có gì phấn chấn đặc biệt cả.

- Thế nó đi về hướng nào? Về phía chúng ta không? Gédéon Spilett dò hỏi.

- Khó mà xác định được điều gì, Pencroff trả lời. - Tạm thời từ sau phía chân trời mới chỉ nhìn thấy những cột buồm, còn thân tàu thì chưa hiện rõ.

- Chúng ta làm gì bây giờ? - Chú bé kêu lên.

- Đợi, - Cyrus Smith trả lời.

Suốt mấy giờ liền những người di dân im lặng, chìm đắm trong những dòng suy nghĩ, tình cảm, sợ hãi và hy vọng phát sinh bởi biến cố có ý nghĩa nhất kể từ ngày họ đến đảo Lincoln này…

Cứ chốc chốc Pencroff lại cầm lấy ống kính viễn vọng và đi tới cửa số. Từ đây, chàng tập trung hết sức chú ý nhìn vào các đường nét của con tàu bây giờ đã ở cách phía đông của đảo hai mươi hải lý.

Con tàu ấy cập vào bờ biển hoang vắng này để làm gì? Đâu phải hoàn toàn ngẫu nhiên mà nó đến vùng biển Thái Bình Dương này, nơi trên bản đồ không hề chỉ dẫn một vùng đất nào, nếu không kể đảo nhỏ Tabor, nhưng đảo ấy lại cách xa đường tàu thường đi các đảo Polonedia, đi New Zealand và các vùng bờ biển Nam Mỹ?

Câu hỏi ấy đã được đặt ra trước mỗi thành viên của khu di dân, và câu trả lời của Harbert khiến mọi người đều bất ngờ.

- Nhỡ đấy là “Duncan” thì sao? - Chú kêu lên.

Bạn đọc còn nhớ, “Duncan”là tên chiếc tàu buồm của huân tước Glenarvan, người đã đưa Ayrton lên hòn đảo nhỏ Tabor và không sớm thì muộn sẽ phải trở lại đón anh ta. Mà hòn đảo này lại ở cách đảo Lincoln khá gần, vì vậy có tàu đi về hướng đảo Tabor là thế nào những người di dân cũng nhìn thấy.

- Cần phải báo cho Ayrton biết và cấp tốc gọi anh ta về đây, - Gédéon Spilett nhận xét. - Chỉ có mình anh ta mới có thể nói cho chúng ta biết, đó có phải là “Duncan” hay không.

Mọi người đều đồng ý với ý kiến của nhà báo và anh đã đến máy điện báo nối liền Lâu đài đá hoa cương với khu chăn nuôi, gõ những từ sau:

“Hãy về đây ngay”

Mấy giây sau, chuông trả lời vang lên.

“Tôi đi”, - Ayrton thông báo

Những người di dân lại chú ý nhìn ra tàu.

- Nếu đây là “Duncan”, - Harbert nói, - thì tất nhiên Ayrton sẽ nhận ra ngay, bởi vì anh ấy đã đi trên tàu này một thời gian rồi mà.

- Và nếu anh ta nhận ra, - Pencroff nói thêm vào, - thì con người tội nghiệp ấy sẽ hồi hộp lắm.

- Đúng, - Cyrus Smith đồng ý, - nhưng bây giờ Ayrton có thể ngẩng cao đầu tự hào bước lên tàu “Duncan” rồi, và tôi thành tâm mong đây đúng là chiếc tàu buồm của huân tước Glenarvan, chứ chưa chắc một chiếc tàu khác đã đến đây với những dụng ý tốt đâu!... Tôi e bọn cướp biển Mã Lai đến “thăm” chúng ta đấy!

- Chúng ta sẽ bảo vệ hòn đảo của chúng ta! - Harbert kêu lên.

- Tất nhiên rồi, chú bạn nhỏ, nhưng tốt hơn hết là chúng ta không bắt buộc phải tự vệ, - kỹ sư mỉm cười, nhận xét.

- Các bạn biết không? - Bỗng Gédéon Spilett nói, - vì hòn đảo Lincoln không được vẽ trên các bản đồ địa lý, kể cả các bản đồ mới nhất, nên các nhà hàng hải không biết đến nó. Vì thế, ngài có cảm thấy không, Cyrus, chính do vậy mà khi tình cờ phát hiện ra mảnh đất mới này, con tàu muốn khảo sát nó, chứ chẳng lẽ lại đi qua thôi sao?

- Ông nói có lý, - Pencroff nhận xét.

- Tôi hoàn toàn đồng ý với các bạn, - kỹ sư khẳng định. - Thậm chí có thể đảm bảo rằng bất kỳ thuyền trưởng nào cũng thấy có trách nhiệm trực tiếp phải ghi nhận, cũng có nghĩa là khảo cứu, một vùng đất chưa được vẽ trên bản đồ, mà hòn đảo của chúng ta lại đúng là một lãnh thổ địa lý chưa được biết như vậy.

- Thôi được, - Pencroff nhận xét, - giả dụ rằng con tàu sẽ đi vào đây, thả neo cách đảo vài ba cabeltov, - lúc ấy chúng ta sẽ làm gì?

Sự im lặng chung đã trả lời cho câu hỏi được đưa ra một cách thẳng thắn. Nhưng sau khi suy nghĩ một lát Cyrus Smith đã nói bằng một giọng bình tĩnh thường ngày của mình:

- Chúng ta sẽ xử sự, chúng ta cần phải xử sự như thế này đây các bạn: chúng ta sẽ đặt quan hệ với tàu và sẽ rời hòn đảo của chúng ta, sau khi cắm cờ Hợp chủng quốc lên đây. Còn sau đó, chúng ta sẽ quay trở lại đây cùng với tất cả những ai đồng ý đi theo chúng ta để biến hòn đảo thành một vùng di dân, và hiến dâng cho nước Cộng hòa Mỹ mảnh đất mới rất hữu ích ở vùng Thái Bình Dương này…

- Thế nhỡ trong lúc vắng chúng ta có kẻ nào đó đến chiếm đoạt đảo thì sao? - Gédéon Spilett nhận xét.

- Cóc được! - Chàng thủy thủ kêu lên. - Tôi sẽ ở lại đây đích thân bảo vệ đảo, các bạn hãy tin ở Pencroff này; tụi chúng chẳng thể cướp đảo của tôi dễ như móc túi đồng hồ của kẻ ngố ngáp ngủ đâu!

Một giờ nữa trôi qua mà vẫn chưa thể xác định được con tàu có tiến gần và đảo Lincoln không, và nếu nó vào gần thì với tốc độ như thế nào.

Bốn giờ chiều, đúng một giờ sau khi được gọi, Ayrton có mặt ở Lâu đài đá hoa cương.

- Tôi xin sẵn sàng, thưa các ngài, - anh ta nói khi bước vào phòng.

Cyrus Smith, như mọi khi, chìa tay cho Ayrton và dẫn anh ta lại cửa sổ, nói:

- Chúng tôi gọi anh, Ayrton, có việc quan trọng. Ở vùng đảo có tàu xuất hiện.

Thoạt đầu Ayrton hơi tái mặt, và trong đôi mắt thoáng vẻ lo âu. Anh ta ngó ra cửa sổ, chăm chú nhìn chân trời, nhưng không thấy gì cả.

- Hãy cầm lấy ống kính viễn vọng, - Gédéon Spilett nói, - và nhìn cho thật kỹ, Ayrton; có thể đó là “Duncan”, nó trở lại vùng biển này để đón anh về tổ quốc.

“Duncan”! - Ayrton lẩm bẩm. - Nhanh thế!

Những lời ấy bật ra từ môi Ayrton, trái với ý muốn của anh ta và anh ta đã im bặt, gục đầu lên hai tay.

Chẳng nhẽ mười hai năm đằng đẵng sống trong cảnh cô đơn trên đảo hoang, theo ý kiến của chính Ayrton, anh ta chưa chuộc được tội của mình hay sao? Chẳng nhẽ một kẻ tội phạm đã sám hối lại không tha thứ được cho mình những tội ác và không tin được rằng những người khác đã xá tội cho anh ta, hay sao?

- Không, - anh ta lẩm bẩm, - không, đó không thể là “Duncan” được.

- Thì anh hãy cứ nhìn cho kỹ đã, Ayrton, - kỹ sư nói, - biết trước mình quan hệ với ai là điều rất quan trọng.

Ayrton cầm lấy ống kính viễn vọng và nhìn theo hướng được chỉ dẫn. Mấy phút liền anh ta đứng bất động, lặng lẽ nhìn về phía chân trời, rồi nói:

- Đúng, đó là tàu thật, nhưng tôi cho rằng không phải “Duncan”.

- Tại sao không phải “Duncan”? - Gédéon Spilett hỏi.

- Tại vì “Duncan” là một tàu buồm chạy hơi nước mà tôi muốn lắm cũng không phát hiện được một làn khói nhỏ nào cả bên trên tàu lẫn đằng sau tàu.

- Thế nhỡ các thủy thủ chạy bằng buồm, tiết kiệm than thì sao? - Pencroff hỏi.

- Có thể ông nói đúng, ông Pencroff, - Ayrton trả lời, - nhưng trên tàu lò tắt thật. Cứ để cho nó vào gần bờ hơn, hãy hay…

Trời đã xế chiều. Nhưng hoàng hôn chưa bao phủ vòm trời, nên việc quan sát vẫn dễ dàng. Ayrton bỏ ống nhòm xuống và nhắc lại một cách xác đáng:

- Không, đó không phải là “Duncan”! Và đó không thể là “Duncan”!

Bây giờ thì Pencroff đã bắt được chiếc tàu trong tầm nhìn của kính viễn vọng, và thông báo cho các bạn biết chiếc tàu này có trọng tải từ ba trăm đến bốn trăm tấn, được đóng và trang bị rất tốt. Tóm lại là chiếc tàu thuộc loại chạy nhanh, nhưng của nước nào thì tạm thời còn khó nói.

Lát sau, Pencroff đã nói thêm:

- Đúng là trên cột cờ có cờ hiệu, nhưng tôi không sao phân biệt được màu sắc. Tuy nhiên, đó không phải là cờ Mỹ, cũng không phải cờ Anh; trên cờ Anh mảng đỏ đập ngay vào mắt; mặt khác, đây cũng không phải cờ hàng hải màu trắng của nước Nga, cũng không phải màu vàng của Tây Ban Nha… Đúng hơn là cờ chỉ có một màu… Nhưng mà trên các biển thì thiếu gì các loại cờ kia chứ?...

Vừa lúc ấy gió thổi tung lá cờ bí ẩn ấy lên. Ayrton giằng lấy ống kính viễn vọng từ tay chàng thủy thủ vừa bỏ xuống, để ngay lên mắt và, sau khi nhìn kỹ, đã kêu lên bằng một giọng nghẹn ngào:

- Cờ đen!

Quả vậy, trên cột cờ của tàu phần phật bay một mảnh vải đen, và bây giờ đã có đủ cơ sở để coi tàu này là đáng nghi ngờ!

Vậy là linh cảm đã không lừa dối kỹ sư? Có nghĩa rằng đó là một tàu cướp biển? Nó định vào đảo Lincoln để làm gì? Có thể, nó chọn đất không ai biết và bị mọi người lãng quên này để làm nơi cất giữ chắc chắn những của báu mà chúng đã cướp được? Hoặc là, có thể, nó tìm ở đây một bến cảng lặng sóng để tránh những trận bão dông? Lẽ nào cái cơ nghiệp đáng yêu của những người di dân lại bị trở thành tổ quỉ đê tiện, hang ổ của bọn cướp biển Thái Bình Dương?

Tất cả những ý nghĩ ấy đều bất giác nảy ra trong mỗi người di dân. Than ôi, gặp cờ đen nguy hiểm như thế nào thì đã rõ quá rồi. Cờ đen là cờ của bọn cướp biển! Và cái cờ ấy cũng có thể được cắm trên cột buồm “Duncan” lắm, nếu như bọn khổ sai đã thực hiện được một âm mưu tội ác của chúng…

- Không thể chậm một phút nào nữa.

- Các bạn, - Cyrus Smith bắt đầu nói, - có thể tàu này chỉ muốn từ xa quan sát đảo thôi. Có thể đoàn thủy thủ của nó sẽ không lên bộ. Ta hy vọng và điều ấy. Dẫu thế nào thì ta cũng cần phải giấu kín tất cả nhưng gì chứng tỏ sự có mặt của chúng ta trên hòn đảo này. Đập vào mắt rõ nhất là cái cối xay gió đặt trên cao nguyên Tầm nhìn. Ayrton và Nab hãy đi tháo cánh của nó ra. Chúng ta lấy cành cây bịt các cửa sổ Lâu đài đá hoa cương lại. Lửa cần dập tắt đi. Hãy đừng để thứ gì lộ ra sự có mặt của con người trên hòn đảo này!

- Còn chiếc tàu của chúng ta? - Harbert hỏi.

- Không sao đâu, - Pencroff trả lời, - nó đã được giấu ở cảng Khí cầu. Tôi bảo đảm rằng bọn giết người cướp của này không thấy nó đâu.

Mệnh lệnh của kỹ sư được thi hành ngay tức thì. Khi mọi việc chuẩn bị đã xong, Cyrus Smith hướng về phía những người di dân.

- Các bạn, - ông nói, trong giọng của ông lộ rõ sự hồi hộp, - nếu những kẻ gian hùng này dám liều mạng tấn công lên đảo Lincoln thì chúng ta sẽ giáng trả chúng đòn thích đáng, có phải thế không?

- Đúng thế, Cyrus, - nhà báo trả lời thay cho tất cả, - và nếu cần thì chúng ta sẽ hy sinh trong chiến đấu để bảo vệ hòn đảo của chúng ta!

Kỹ sư chìa tay cho các bạn của mình, và mọi người nồng nhiệt đáp lại cái bắt tay của ông.

Chỉ riêng Ayrton đứng lặng thinh trong góc, một mình anh ta là không hòa nhập vào với những người di dân khác. Có thể, anh ta, một kẻ tội phạm cũ, cho rằng mình không xứng đáng với cái bắt tay ấy!

Cyrus Smith hiểu điều gì đang diễn ra trong lòng Ayrton, vì vậy đã đến gần anh ta.

- Còn anh, Ayrton, - kỹ sư hỏi, - anh định làm gì?

- Làm tròn nghĩa vụ của mình, - Ayrton đáp.

Sau đó, anh ta chiếm lĩnh trạm quan sát bên cửa sổ và phóng tầm nhìn ra biển qua những cành lá ngụy trang che khuất phần nào.

Đã bảy giờ rưỡi tối, phía đông tối dần. Trong lúc ấy chiếc tàu vẫn tiến vào vịnh Hợp chủng như cũ, chỉ còn cách không quá tám hải lý nữa thôi.

Con tàu có vào sâu trong vịnh không? Còn khi vào vịnh nó sẽ thả neo ở ngoài đó chăng? Có thể là nó chỉ quan sát bờ biển rồi ra khơi, không cho đoàn thủy thủ lên bộ chăng? Những câu hỏi ấy cứ giày vò những người di dân. Họ chỉ còn cách đợi, ít nhất nửa giờ nữa mới có thể trả lời những câu hỏi ấy được…

Đêm xuống. Trăng non mới hé đã biến khỏi bầu trời. Bóng đêm dày đặc bao trùm lấy đảo và biển. Gió lặng hoàn toàn. Những ánh lửa trên tàu đã tắt.

- Ồ, biết đâu đấy, - Pencroff nói, - Có thể là đêm nay chiếc tàu ấy sẽ cút và sáng mai ta chẳng thấy dấu vết nó đâu cũng nên.

Dường như để trả lời cho nhận xét của chàng thủy thủ, trên mặt biển lóe lên ánh lửa sáng rực, và vang lên tiếng đại bác.

Con tàu vẫn ở đây như cũ và trên boong lại có đại bác.

Thời gian giữa ánh chớp lửa và tiếng đạn nổ là sáu giây.

Thế là, con tàu đã ở cách bờ biển khoảng hơn một hải lý.

Và cũng đúng lúc ấy vẳng đến những người di dân tiếng xích loảng xoảng, ầm ầm lao qua các lỗ thả neo.

Con tàu thả neo cách Lâu đài đá hoa cương không xa.

t bản: 1988 Số trang: 383 Giá tiền: -- Đồng Khổ: 13 x 19 cm Đánh máy: Yến Chi, Thùy Trâm, Đỗ Quyên, Minh Nhật, Phương, Vân Anh Kiểm tra: Thảo Đoàn Chế bản ebook: Thảo Đoàn Ngày thực hiện: 19/03/2011 Making Ebook Project #110– www.Bookaholic
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.