CHƯƠNG MƯỜI LĂM
Lời đề nghị của người lạ. - Xây dựng khu chăn nuôi. - Hoa tiêu tàu “Britania”. - Người bị từ bỏ trên đảo Tabor. - Bức thư bí ẩn.
Điều bí mật trong cuộc đời của người lạ ấy là gì? Liệu có khi nào anh ta hé mở nó ra không? Chỉ còn có một cách là: chờ đợi.
Và, cái ngày anh ta tự thú đã đến.
Mồng 10 tháng mười hai, sau khi trở lại Lâu đài đá hoa cương được một tuần, người lạ đến bên Cyrus Smith và nói một cách nhẹ nhàng, từ tốn:
- Thưa ngài, tôi có điều muốn đề nghị với ngài.
- Anh cứ nói, - kỹ sư trả lời, - nhưng, trước hết anh cho tôi nói đôi điều với anh đã.
Nghe những lời ấy người lạ đỏ mặt lên và suýt nữa đã bỏ chạy. Cyrus Smith hiểu tâm trạng của kẻ phạm tội có lẽ sợ bị người ta thẩm vấn về quá khứ của mình.
Cyrus Smith đã giữ được anh ta lại.
- Anh hãy nghe đây, - ông nói, - chúng tôi đối với anh không những là người cùng gặp hoạn nạn, mà còn là những người bạn. Đấy là tất cả những gì tôi muốn nói với anh, còn bây giờ tôi nghe anh.
Người lạ lấy tay quệt mắt. Anh ta run run và mất đến mấy giây không sau nói nên lời.
- Thưa ngài, - cuối cùng, anh ta nói, - tôi muốn xin ngài làm ơn cho một việc.
- Việc gì thế?
- Ở cách đây bốn - năm dặm, dưới chân núi, các ngài có khu chăn nuôi gia súc. Số gia súc này cần được chăm sóc. Ngài có thể cho tôi đến ở đó được không?
Cyrus Smith nhìn người lạ với lòng thương cảm sâu sắc. Rồi ông trả lời:
- Bạn của tôi, tại khu chăn nuôi không có chỗ ở, chỉ toàn là những chuồng thôi, hoàn toàn không thể ở được…
- Nhưng đối với tôi, thưa ngài, ở đó cũng tốt rồi.
- Bạn của tôi, - Cyrus Smith trả lời, - chúng tôi sẽ không làm trái ý anh. Anh muốn ở khu chăn nuôi? Anh sẽ được theo ý mình. Tuy nhiên, anh bao giờ cũng là khách quí trong Lâu đài đá hoa cương. Nhưng, nếu anh ưa sống ở khu chăn nuôi, chúng tôi sẽ cố gắng thu xếp cho anh ở đó được thuận tiện hơn…
Ngay ngày hôm ấy, mọi người mang dụng cụ ra khu chăn nuôi làm chỗ ở cho người lạ. Căn nhà gỗ nhỏ được xây dựng xong sau một tuần, cách các chuồng gia súc độ hai mươi fut, trên một cái gò nhỏ, từ đó có thể quan sát đàn cừu rừng đã sinh sôi trên tám chục con một cách thuận lợi. Họ trang bị đủ các thứ đồ gỗ: giường, bàn, ghế, tủ, rương, đưa đến đây cả súng, đạn và một bộ dụng cụ.
Tối 20 tháng mười hai, kỹ sư thông báo cho người lạ biết tối hôm nay anh ta đã có thể ngủ đêm ở nhà mới. Những người ở Lâu đài đá hoa cương, không muốn làm cho người lạ phải ngượng ngùng, nên không định chia tay với anh ta, mà cứ để cho anh ta được tự nhiên. Đã gần tám giờ, đến lúc người lạ phải ra về rồi, mọi người đang ngồi trong phòng lớn chuyện trò, bỗng có tiếng gõ cửa vang lên khe khẽ. Người lạ bước nhanh vào phòng và nói không cần mào đầu gì hết:
- Thưa các ông, khi chia tay các ông, tôi muốn để các ông biết hết sự thật về tôi; xin các ông hãy nghe cho.
Những lời đơn giản ấy gây ấn tượng lớn đối với Cyrus Smith và các bạn của ông.
Kỹ sư đứng lên và nói với người lạ:
- Bạn của tôi, chúng tôi không hỏi anh điều gì cả. Anh có quyền im lặng…
- Bổn phận của tôi là kể hết mọi điều.
- Vậy, anh hãy ngồi xuống.
- Tôi sẽ đứng.
- Chúng tôi sẵn lòng nghe anh kể, - Cyrus Smith nói.
Người lạ lui vào một góc phòng tối mờ mờ. Anh ta đứng, bỏ mũ, khoanh hai tay trước ngực, kể bằng một giọng khàn khàn:
- Ngày 20 tháng mười hai năm một ngàn tám trăm năm mươi tư, chiếc tàu buồm chạy bằng hơi nước “Duncan” của một người chủ giàu có ở vùng Scotland - huân tước Glenarvan - thả neo ở bờ biển phía tây Australia, gần mũi Bernouilli, trên vĩ tuyến ba mươi bảy. Trên tàu có Glenarvan cùng với vợ, một thiếu tá quân đội Anh, một nhà địa lý người Pháp và hai đứa con của thuyền trưởng Grant - một cô gái trẻ và một cậu bé. Con tàu “Britania” của cha những đứa trẻ ấy trước đó một năm đã bị đắm, đoàn thủy thủ hy sinh hết. Điều khiển tàu “Duncan” là thuyền trưởng John Mangles; đoàn thủy thủ gồm có mười lăm người.
Đây là lý do tại sao tàu “Duncan” lại đến bờ biển Australia.
Nửa năm trước đó, đoàn thủy thủ trên tàu “Duncan” đã nhặt được ở bờ biển Ireland một cái chai đựng một lá thư viết bằng ba thứ tiếng Anh, Đức và Pháp. Trong thư viết vắn tắt rằng trong một vụ đắm tàu “Britania” có ba người sống sót là thuyền trưởng Grant và hai thủy thủ. Họ đã lên được vùng đất nào đó; có chỉ dẫn vĩ tuyến 37o11’, nhưng kinh tuyến bao nhiêu thì không rõ, vì con số đã bị mờ. Họ yêu cầu được cứu giúp.
Bộ tư lệnh hải quân Anh từ chối việc tổ chức một đoàn thám hiểm đi tìm cứu những người bị nạn. Nhưng huân tước Glenarvan đã tập họp thành phần hành khách và đoàn thủy thủ nói trên, dùng chiếc tàu “Duncan” của mình đi cứu họ. “Duncan” rời cảng Glasgow, đi dọc vĩ tuyến 37o, sang tận Patagonia ở Nam Mỹ, nhưng không tìm thấy dấu vết của thuyền trưởng Grant. Glenarvan quyết định đi Australia. Như trên tôi đã nói, “Duncan” đến đây, thả neo ở gần mũi Bernoulli nằm trên vùng duyên hải Australia, rồi đoàn thủy thủ đi tìm kiếm ở trên đất liền. Tại đó, cách bờ biển vài dặm, có trang trại của một người Ireland di cư nào đấy. Ông ta niềm nở tiếp đoàn thám hiểm. Huân tước Glenarvan đã kể hết cho người Ireland nghe vì sao họ đến đây và hỏi xem thổ dân ấy có tin tức gì về chiếc tàu “Britania” bị đắm ở vùng biển này cách đây gần hai năm không. Người Ireland nọ không biết, nhưng may thay, một trong số những người làm của ông ta có mặt hôm ấy lại xen vào câu chuyện:
- Thưa huân tước, ngài hãy cầu chúa và tạ ơn Người đi, - ông ta nói. - Nếu thuyền trưởng Grant còn sống thì ông ta đang ở trên đất Australia.
- Ông là ai vậy? - Huân tước Glenarvan hỏi.
- Một người Scotland như ngài, thưa huân tước, - người lạ ấy trả lời. - Tôi là một trong những người cùng bị cảnh đắm tàu với thuyền trưởng Grant.
Họ của người ấy là Ayrton. Anh ta có giấy xác nhận là hoa tiêu trên tàu “Britania”. Bấy lâu nay, anh ta cứ tưởng chỉ có một mình anh ta sống sót trong vụ đắm tàu này.
Ayrton nhận lời hướng dẫn đoàn thám hiểm của Glenarvan đi tìm thuyền trưởng Grant trên vùng duyên hải Australia.
Vì tàu “Duncan” lúc ấy bị hỏng, nên đoàn thám hiểm chia làm hai toán. Toán đi đường bộ theo vĩ tuyến 37 ra duyên hải phía đông Australia gồm có vợ chồng Glenarvan, hai đứa con của thuyền trưởng Grant, thiếu tá, nhà địa lý, thuyền trưởng Mangles và vài thủy thủ, do Ayrton dẫn đường. Còn tàu “Duncan” dưới sự chỉ huy của Tom Austin, phó thuyền trưởng, thì đưa tàu đi Melbourne sửa chữa và ở lại đó đợi lệnh của Glenarvan.
Ngày 23 tháng mười hai năm một ngàn tám trăm năm mươi tư, đoàn đi bộ lên đường.
Cần phải nói với các ông rằng Ayrton là một kẻ phản bội. Đúng là hắn đã từng làm hoa tiêu trên tàu “Britania”, nhưng lại tranh chấp với thuyền trưởng và đã âm mưu xúi giục thủy thủ nổi loạn chiếm tàu. Thuyền trưởng Grant đã đẩy hắn lên bờ biển phía tây Australia ngày 8 tháng tư năm một ngàn tám trăm năm mươi hai - đó là một sự trừng phạt công bằng.
Vì vậy, tên bất nhân này thậm chí không hay biết gì về vụ đắm tàu “Britania”. Lần đầu tiên hắn được biết mọi chuyện ấy là qua lời kể của Glenarvan. Từ khi Ayrton bị đưa lên bờ, hắn núp dưới cái tên Ben Joyce cầm đầu một toán tội phạm trốn trại, và bây giờ đây lại trắng trợn khẳng định rằng vụ đắm tàu đã xảy ra ở bờ biển phía đông. Hắn đã cố ý đưa huân tước Glenarvan đi lạc đường với hy vọng trong lúc ông còn đang trên đường du hành thì hắn đã kịp chiếm lấy chiếc tàu buồm “Duncan”, biến nó thành tàu cướp biển và làm mưa làm gió trên biển.
Người lạ im lặng. Sau đó lại tiếp tục kể bằng một giọng run run.
- Toán đi đường bộ, chẳng có gì đáng ngạc nhiên cả, khi họ không đạt được mục đích, bởi vì, bọn Ayrton hay Ben Joyce, tùy muốn gọi thế nào cũng được, lúc thì đi trước, lúc thì đi sau đoàn thám hiểm, sẵn sàng thực hiện âm mưu của tên thủ lĩnh.
Ayrton tìm đủ mọi cách khuyến dụ Glenarvan viết thư phát lệnh cho tàu “Duncan” rời Melbourne đi vịnh Twofold ở bờ biển phía đông, cách chỗ họ dựng trại vài ngày đường. Bọn cướp biển đã hẹn đợi Ayrton ở đó để hành động chiếm đoạt tàu “Duncan”.
Tên phản bội suýt nữa được giao chuyển thư lệnh trên cho phó thuyền trưởng Tom Austin, nhưng hắn bị vạch mặt ngay tức thì, và đã phải bỏ chạy. Tuy nhiên, người mang thư lệnh sau đó lại bị bọn chúng âm mưu hành hung, và cuối cùng, chính Ayrton đã đoạt lấy bức thư và hai ngày sau đã có mặt ở Melbourne, giao thư cho phó thuyền trưởng Tom Austin. Xem xong thư, Tom Austin liền cho tàu nhổ neo. Nhưng, Ayrton đã thất vọng biết bao, khi sang ngày thứ hai hắn được biết Tom Austin không cho “Duncan” chạy đi vịnh Twofold như hắn mong muốn, mà lại đi bờ biển phía đông New Zealand. Hắn âm mưu chống lại, song Tom Austin đưa cho hắn coi bức thư lệnh của Glenarvan. Đúng như vậy, nhờ một sự tình cờ - nhà địa lý người Pháp đã viết nhầm lệnh của Glenarvan - mà tàu “Duncan” đã được lệnh đi về bờ biển phía đông New Zealand.
Mọi kế hoạch của Ayrton đều đã sụp đổ! Hắn nảy ra ý định dấy loạn. Và hắn đã bị tống giam. “Duncan” tiếp tục hành trình đi New Zealand, không biết chuyện gì đã xảy ra với bè lũ tội phạm cướp biển, không biết tình hình toán đi đường bộ của huân tước Glenarvan thế nào.
“Duncan” bơi dọc bờ biển New Zealand đến ngày mồng 3 tháng ba. Hôm ấy, Ayrton đã nghe thấy những tiếng súng. “Duncan” đã nã đại bác dồn dập, và chẳng bao lâu huân tước Glenarvan cùng với tất cả những người cùng đi đã bước lên tàu của mình.
Đây là tất cả những gì đã xảy ra trong thời gian đó. Sau khi vượt qua nhiều thử thách và nguy hiểm, toán của huân tước Glenarvan đã ra được đến duyên hải phía đông Australia, đến được vịnh Twofold. Không thấy tàu “Duncan” ở đó! Glenarvan điện báo về Melbourne và được trả lời rằng “Duncan” đã rời bến ngày mười tám trong tháng, hướng đi không biết.
Glenarvan cho rằng đoàn thủy thủ dũng cảm của ông đã sa vào tay tên Ben Joyce, còn “Duncan” thì đã trở thành tàu cướp biển.
Nhưng Glenarvan vẫn không từ bỏ những cuộc tìm kiếm. Đó là một con người dũng cảm và cao thượng. Ông đã tìm kiếm dọc theo vĩ tuyến 37 mà không thấy thuyền trưởng Grant, nhưng đến bờ biển phía đông New Zealand, thật là hết sức ngạc nhiên và nhờ trời phù hộ, ông đã tìm lại được tàu “Duncan” đợi ông ở đó đã năm tuần nay!
Thế là Glenarvan lại bước lên tàu “Duncan” - trên đó đã có cả Ayrton. Hắn được dẫn đến gặp Glenarvan. Ông muốn hỏi dò tên ác nhân xem hắn có biết gì về số phận của thuyền trưởng Grant không. Ayrton từ chối trả lời. Glenarvan cảnh cáo tên ác nhân rằng, đến cảng đầu tiên, ông sẽ trao hắn cho các nhà đương cục Anh.
Lúc đầu hắn làm thinh, nhưng cuối cùng đã hứa khai hết cho Glenarvan nghe với điều kiện: không trao hắn cho các nhà đương cục Anh, mà cho hắn lên một trong những hòn đảo ở Thái Bình Dương. Glenarvan đồng ý, bởi vì ông sẵn sàng làm tất cả, miễn là biết được điều gì đấy về số phận của thuyền trưởng Grant.
Đến đây Ayrton đã kể lại lai lịch cuộc đời hắn và thừa nhận rằng từ khi hắn bị đưa lên bờ biển Australia, hắn không biết gì về thuyền trưởng Grant cả.
Tuy nhiên, Glenarvan đã giữ lời hứa. “Duncan” vẫn bơi tiếp, và một hôm nọ, đã thấy xuất hiện đảo Tabor. Ayrton được quyết định để lại trên đảo này. Và chính ở đây, nơi mảnh đất nằm trên vĩ tuyến 37 này đã xảy ra một sự thần kỳ: hóa ra, thuyền trưởng Grant và hai thủy thủ của ông ta đang ở đó. Tên tội phạm đã phải thế họ ở trên hoang đảo này. Khi hắn rời tàu “Duncan”, Glenarvan đã dặn dò hắn những lời như sau:
- Ayrton, người sẽ bị tách biệt khỏi thế giới và con người. Ngươi sẽ không thể chạy khỏi hòn đảo nhỏ mà chúng tôi đưa ngươi lên đâu! Ngươi sẽ đơn độc, thân cô thế cô, dưới con mắt nhìn thấu tất cả của đức chúa trời, ngài hiểu thấu mọi điều thầm kín trong tâm hồn mỗi người, và sẽ chẳng ai lo âu đến ngươi, như chúng tôi lo âu cho thuyền trưởng Grant đâu. Mà ngươi cũng không xứng đáng để cho những người lương thiện nhớ tới ngươi, nhưng họ sẽ không quên ngươi đâu, Ayrton! Ta biết hòn đảo này, ta biết tìm ngươi ở đâu. Trí nhớ sẽ không bao giờ phản bội ta!
Và “Duncan” nhổ neo, chẳng bao lâu đã biến khỏi tầm nhìn.
Việc ấy xảy ra ngày 18 tháng ba năm một ngàn tám trăm năm mươi lăm.
Ayrton ở lại một mình, nhưng hắn được trang bị đủ mọi thứ cần thiết: vũ khí, dụng cụ, thức ăn dự trữ. Hắn có sẵn nhà của thuyền trưởng Grant đáng kính để lại. Kẻ bị đày đã phải lủi thủi sống lay lắt trong những ngày dài lê thê và chuộc lại những tội ác do hắn gây ra.
Và, thưa các ông, hắn đã tự sám hối, lương tâm đã không để hắn yên; hắn thật là bất hạnh! Hắn đã quyết định nếu một ngày mai con người đến với hắn, hắn sẽ phải trở về với thế giới bằng một con người khác! Kẻ bị ruồng bỏ ấy đã đau khổ biết bao! Hắn đã làm việc thật nhiều, hy vọng rằng lao động sẽ tu chỉnh hắn. Hắn đã để bao nhiêu thời giờ để cầu nguyện, những mong cầu nguyện sẽ làm cho hắn thay đổi!
Ayrton đã sống như vậy hai, ba năm; nhưng sự cô đơn đã giày vò hắn, và hắn không rời mắt khỏi chân trời, hy vọng nhìn thấy một con tàu và tự vấn còn lâu nữa không hắn sẽ chuộc được tội lỗi của mình? Hắn khổ sở, vị tất đã có ai phải khổ sở như hắn. Bởi vì sống trong cô đơn là một cực hình đối với những ai tâm can bị những nỗi đau đớn của lương tâm giày vò!
Nhưng, rõ ràng là trời vẫn chưa trừng phạt đầy đủ kẻ bất hạnh, bởi vì hắn đã bắt đầu nhận thấy rằng hắn đang biến thành người man rợ. Hắn đã cảm thấy rằng hắn bắt đầu mất lý trí. Khó nói được điều ấy đã xảy ra khi nào - sau hai năm, sau bốn năm chăng, nhưng cuối cùng, kẻ bị trục xuất đã đánh mất hết mọi cái của con người, trở thành một sinh vật như các ông đã tìm thấy hắn!
- Thưa các ông, chẳng cần phải nói với các ông rằng Ayrton, Ben Joyce và tôi cũng chỉ là một mà thôi[1]
Cyrus Smith và các bạn của ông đã đứng nghe hết lời tự thú ấy. Khó mà diễn tả được lời tự thú đó đã làm cho họ xúc động thế nào! Họ đã thấy nỗi xót xa, đau khổ, tuyệt vọng ấy chân thành biết bao!
- Ayrton, - Cyrus Smith nói một cách trang nghiêm, - anh đã là một tên tội phạm thâm căn cố đế, nhưng tôi tin rằng đức chúa trời đã tha cho anh mọi tội lỗi! Và để chứng tỏ, Người đã cho anh trở lại với người đời. Anh đã được xá tội, Ayrton! Anh hãy nói xem, anh có muốn trở thành người bạn của chúng tôi không?
Ayrton giật bắn người.
- Chúng ta hãy bắt tay nhau, - kỹ sư nói.
Ayrton lao đến Cyrus Smith, bắt chặt tay ông, và từ đôi mắt của anh ta trào ra những giọt nước mắt to nặng.
- Bây giờ anh đồng ý sống cùng với chúng tôi chứ? - Cyrus Smith hỏi.
- Thưa ngài Smith, - Ayrton trả lời, - tốt hơn là hãy cho tôi sống một mình ở khu chăn nuôi ít bữa nữa.
- Tùy anh, Ayrton, - Cyrus Smith trả lời.
Ayrton đã định đi ra, nhưng kỹ sư giữ anh ta lại.
- Đứng lại chút đã, anh bạn của tôi, - ông nói, - Anh đã định sống cô đơn kia mà, vậy thì vì sao anh lại viết thư bỏ xuống biến báo cho chúng tôi biết dấu tích của anh?
- Thư nào? - Ayrton ngạc nhiên, rõ ràng là không hiểu chuyện gì cả.
- Tôi nói về bức thư được bỏ trong chai: chúng tôi đã vớt được cái chai ở trên biển, trong đó có thông báo tọa độ chính xác của đảo Tabor.
Ayrton đưa tay xoa trán. Sau khi nghĩ ngợi, anh ta đáp:
- Tôi chưa khi nào viết bức thư ấy cả và cũng không bỏ chai xuống biển.
- Chưa bao giờ à? - Pencroff hỏi lại.
- Chưa bao giờ!
Và Ayrton cúi chào đi ra.
❀ ❀ ❀
[1] Xem “Những đứa con của thuyền trưởng Grant” - NXB Măng Non – 1985 (N.D).