Bí Mật Đảo Lincoln

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 49 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
***

❊ ❊ ❊

CHƯƠNG MƯỜI HAI

Vấn đề đóng tàu mới. - Những ước mơ tương lai. - Tiếng chuông điện bất ngờ.

Đã bao nhiêu lần trong ba năm ấy họ nói về tổ quốc của mình. Không bao giờ họ quên tổ quốc cả. Những lần chuyện trò với nhau họ đều mơ ước cái ngày họ được nhìn thấy đất nước thân yêu. Họ muốn về tổ quốc dù chỉ vài ngày thôi, lập lại mối liên hệ với thế giới có người ở, thiết lập sự liên lạc thường xuyên giữa đất nước thân yêu và hòn đảo, sau đó, họ sẵn sàng sống những năm dài trên vùng di dân mà họ đã sáng lập nên. Khi ấy vùng di dân của họ sẽ phụ thuộc vào chính quốc và, có thể là, những năm đó sẽ là thời gian tốt đẹp nhất, hạnh phúc nhất trong đời họ. Lẽ nào tất cả những điều đó lại là ước mơ viển vông sao?

Nhưng ước mơ của họ chỉ có thể thực hiện được bằng hai con đường: hoặc là một con tàu nào đó sẽ đến vùng nước của đảo Lincoln, hoặc là những người di dân sẽ tự đóng một chiếc tàu đủ lớn để dùng nó bơi về nơi đất liền gần nhất.

- Biết đâu đấy, - Pencroff nói, - vị thần phù hộ của chúng ta sẽ chẳng tạo điều kiện cho chúng ta trở về tổ quốc!...

Nhưng Cyrus Smith, một người ít cả tin nhất, đã khuyên các bạn trở về với hiện thực và tự lo việc đóng tàu thôi: nhiệm vụ ấy quả thực không trì hoãn được nữa, bởi vì phải mau mau mang thư đến đảo Tabor báo chỗ ở mới của Ayrton.

Tàu “Bonadventur” không còn nữa. Ayrton cho biết bọn cướp biển đã phát hiện, dùng nó và để va vào đá ngầm mất rồi. Muốn đóng một con tàu mới cần ít nhất nửa năm. Mà mùa đông đã đến gần. Tóm lại, từ nay đến mùa xuân tới chẳng nên nghĩ đến chuyện đi đảo Tabor, Pencroff buồn lắm.

- Thôi được, chúng ta sẽ có đủ thời gian, - kỹ sư nói với Pencroff trong buổi chuyện trò về đề tài này. - Anh bạn của tôi ạ, tôi nghĩ một khi chúng ta lại định đóng tàu, thì tốt hơn cả là đóng với kích thước lớn hơn. Chưa biết chiếc tàu buồm Scotland sẽ có đến đảo Tabor không. Biết đâu nó đã đến đó, nhưng không tìm thấy Ayrton, nên đã quay trở về rồi. Không, chúng ta cần phải đóng một con tàu mà khi cần thì có thể dùng nó bơi đến các đảo Polynésie hoặc tới New Zealand được. Anh nghĩ sao?

- Tôi nghĩ, thưa ngài Cyrus, - chàng thủy thủ nói, - tôi nghĩ việc gì ngài cũng làm được hết. Gỗ và dụng cụ chúng ta có đủ cả. Nghĩa là tất cả chỉ phụ thuộc vào thời gian.

- Thế cần mấy tháng để đóng một con tàu trọng tải hai trăm rưởi - ba trăm tấn? - Cyrus hỏi.

- Ít nhất khoảng bảy, tám tháng, - Pencroff trả lời.

- Thế thì tốt lắm! - Cyrus Smith nói. - Sau đấy sẽ là thời gian thích hợp nhất cho chuyến du hành sang đảo Tabor hoặc đến những vùng xa hơn.

- Đúng thế, thưa ngài Cyrus, - thủy thủ đáp. - Ngài hãy làm các bản vẽ. Nhân công đã sẵn sàng. Tôi nghĩ, trong một việc như thế này, Ayrton sẽ là trợ thủ tốt cho chúng ta.

Mọi người khác đều tán thành những ý đồ của kỹ sư. Và họ bắt tay vào việc: lập bản vẽ, chặt cây phơi khô dần… Công việc đóng tàu được tiến hành ngày một nhanh chóng hơn. Cyrus Smith đã tận dụng lực chuyển động của thác nước trên bờ biển để làm một cái cưa gỗ chạy bằng sức nước. Nhờ vậy họ xẻ các tấm ván và dầm nhanh hơn làm bằng thủ công rất nhiều. Các thứ vớt được từ chiếc tàu buôn bị thủy lôi đánh chìm giúp cho việc đóng tàu rất nhiều thuận lợi.

Trong khi tập trung lo việc đóng tàu, những người di dân vẫn không quên làm các công việc khác liên quan đến cuộc sống của họ trên đảo. Và tối tối, trước khi đi ngủ, thế nào họ cũng tán gẫu với nhau về chuyện dùng con tàu lớn để đi đến những vùng dân cư gần nhất, nhưng dù đi đâu họ cũng nhất định trở về đảo Lincoln.

Pencroff và Nab khẳng định chắc chắn sẽ sống trên đảo đến tận cuối đời.

- Harbert, - chàng thủy thủ nói, - chắc chắn là em sẽ không bao giờ xa rời hòn đảo của chúng ta chứ?

- Không bao giờ, anh Pencroff ạ, nhất là nếu anh sẽ quyết định ở lại đây!

- Phải, anh đã quyết định như thế đó, cưng ạ, - Pencroff trả lời. - Anh sẽ đợi em ở đây. Em sẽ đưa vợ con tới. Anh sẽ nuôi nấng, chăm sóc con cái của em, và chúng sẽ lớn lên thành những con người cừ khôi ở nơi chúng ta đây. Có điều là em hãy kiên trì nhé!

- Rồi! - Harbert cười và đỏ mặt lên, đáp.

- Thế còn ngài, thưa ngài Cyrus, - Pencroff nói to điều mơ ước của mình, - ngài sẽ là thống đốc vĩnh viễn của đảo. Ồ, phải, thật là hợp! Hòn đảo của ta có thể nuôi sống được bao nhiêu dân nhỉ? Theo tôi, ít nhất là mười ngàn.

Có những khi, tối tối, những người bạn cứ chuyện trò mãi với nhau như thế đó. Không ai cười Pencroff cả, trái lại, anh đã lôi cuốn mọi người vào vòng mơ ước, và cuối cùng, nhà báo thậm chí đã lập được trên đảo tờ báo “New - Lincoln herald” (Người đưa tin New Lincoln).

Con người đã được tạo ra như vậy đó. Nhu cầu sáng tạo, để lại dấu tích trên trái đất, gửi gấm tâm hồn mình vào một cái gì đó lớn lao, sống mãi - cứ làm cho anh ta trăn trở hoài. Đấy là dấu hiệu của sự hơn hẳn của con người so với tất cả loài vật trên hành tinh chúng ta. Đó là lý do tại sao con người lại trở thành đỉnh cao của sự sáng tạo, đó là lý do giải thích sự thống trị của con người đối với thế giới động vật.

Vậy nhưng làm sao biết được rằng có thể con Top cùng chú Jup cũng có những ước mơ gì đó về tương lai?

Chỉ riêng có Ayrton giữ kín những ý nghĩ của mình là: sẽ hạnh phúc biết bao, nếu như anh được gặp huân tước Glenarvan và trình diện trước mọi người như một con người mới đã chuộc hết tội lỗi.

Tối 15 tháng mười, cuộc chuyện trò thú vị kéo dài hơn mọi khi. Lúc ấy đã chín giờ. Đã nghe thấy những tiếng ngáp dài lộ liễu, chứng tỏ mọi người đã đến lúc đi nghỉ, và Pencroff đã đi về giường của mình. Bỗng trong phòng vang lên tiếng chuông điện.

Tất cả những người di dân đều có mặt ở đây - Cyrus Smith, Gédéon Spilett, Harbert, Ayrton và Pencroff - ở khu chăn nuôi không còn ai.

Cyrus Smith đứng dậy khỏi chỗ của mình. Những người còn lại đưa mắt nhìn nhau, cho rằng họ nghe nhầm.

- Thế này nghĩa là sao? - Nab kêu lên. - Không phải quỉ sứ bỗng dưng nghĩ ra gọi điện đấy chứ?

Không ai đáp lại câu nói đùa ấy.

- Thời tiết hôm nay có dông, - Harbert nhận xét. - Có thể những hiện tượng phóng điện gây ảnh hưởng…

Chú không nói hết câu. Kỹ sư - mọi người đang hướng nhìn về ông - lắc đầu phủ nhận.

- Ta đợi đã, - Gédéon Spilett nói, - nếu đây là tín hiệu thì dù là tín hiệu ai phát đi, chuông cũng sẽ réo lại.

- Thế theo ông, ai có thể phát tín hiệu? - Nab kêu lên.

- Chú quên rồi sao? - Pencroff nói. - Đó là người mà…

Lời nói của anh ta bị tiếng chuông mới cắt ngang; chiếc búa nhỏ gõ liên hồi vào nắp chuông.

Cyrus Smith bước đến máy điện báo, cắm điện và đánh ra khu chăn nuôi bức điện:

- Ông cần gì?

Mấy giây sau, chiếc kim động đậy trên đĩa có ghi các chữ cái, và các cư dân của Lâu đài đá hoa cương đã đọc được câu trả lời:

“Các bạn ra khu chăn nuôi ngay!”

- Có thế chứ! - Cyrus Smith kêu lên.

Phải, rốt cuộc bí mật sẽ được khám phá! Thế là hết mệt, hết buồn ngủ, mọi người muốn mau mau có mặt ở khu chăn nuôi. Chẳng nói chẳng rằng, loáng cái họ đã lên đường và mấy giây sau đã có mặt trên bờ đại dương. Trong Lâu đài đá hoa cương còn lại Jup và Top. Có thể không cần chúng đi trong cuộc thám hiểm này cũng được.

Đúng như Harbert đã nói, trời có dông nên mây đen vần vũ, che khuất trăng non.

Các khách bộ hành rảo bước, đầy hồi hộp. Họ đi nhanh đến nỗi tưởng như có một sức mạnh vô địch nào đấy hút họ về phía trước.

Cyrus Smith và những người bạn đường của ông rời Lâu đài đá hoa cương lúc chín giờ mười hai phút. Mười giờ mười lăm phút, dưới ánh chớp chói lòa họ đã nhìn thấy hàng rào khu chăn nuôi. Họ vừa vào cổng thì một tiếng sấm vang lên inh tai nhức óc.

Chỉ trong giây lát, những người di dân chạy ào qua sân, vào đến cửa căn nhà ở.

Người lạ mặt có lẽ đang ở trong nhà - bởi vì, tất nhiên là ông ta phải đánh điện đi từ đó chứ. Song không cửa sổ nào thấy có ánh đèn.

Kỹ sư gõ cửa.

Không có tiếng trả lời.

Cyrus Smith mở toang cửa ra, và mọi người bước vào căn phòng tối như bưng.

Nab đánh lửa, trong nháy mắt họ thắp được đèn và soi khắp mọi xó xỉnh.

Trong nhà không có ai hết. Mọi đồ vật đều nguyên chỗ như đã xếp đặt trước đây.

- Không nhẽ mọi chuyện này chúng ta cảm giác thấy thôi sao? - Cyrus Smith nói thầm.

Không, họ không thể bị mắc lừa. Bức điện đã nói rõ: “Các bạn ra khu chăn nuôi ngay”.

Những người di dân lại gần chiếc bàn đặt máy điện báo. Ở đây mọi thứ vẫn nguyên vẹn chỗ cũ.

- Ai ra đây lần cuối cùng nhỉ? - Kỹ sư hỏi.

- Tôi, thưa ngài Cyrus, - Ayrton đáp.

- Khi nào vậy?

- Cách đây bốn hôm.

- Xem kìa, có thư! - Harbert kêu lên, chỉ vào một tờ giấy trăng trắng trên bàn. Bức thư được viết bằng tiếng Anh:

“Các bạn hãy đi dọc theo đường dây điện mới”.

- Lên đường! - Cyrus Smith kêu lên; ông hiểu rằng bức điện khẩn đã được đánh đi không phải từ khu chăn nuôi, mà, không còn nghi ngờ gì nữa, từ nơi ở bí ẩn của người lạ mặt, và một đường dây điện bổ sung nào đấy dẫn đi từ đường dây cũ đã nối liền nơi ở đó với Lâu đài đá hoa cương.

Nab mang theo cây đèn mới thắp và mọi người ra khỏi khu chăn nuôi.

Ngoài sân, họ không thấy có dấu hiệu nào của đường dây điện báo cả. Khi ra khỏi cổng Cyrus Smith đã chạy lại cột điện gần nhất. Dưới ánh chớp ông nhìn thấy một đường dây điện mới được thông từ ống sứ cách điện xuống đất.

- Đây rồi! - Kỹ sư nói.

Sợi dây được rải trên mặt đất, được bọc lớp cách điện như cáp ngầm nên bảo đảm dẫn điện tốt. Căn cứ vào hướng đi của dây thì nó xuyên qua rừng và các nhánh núi, đến phần phía tây của đảo.

- Hãy bám sát đường cáp! - Cyrus Smith nói.

Dưới ánh sáng đèn lờ mờ và những tia chớp lóa mắt những người di dân cứ nhằm theo đường dây điện báo mà đi. Đầu tiên họ vượt qua nhánh núi ngăn cách thung lũng khu chăn nuôi với thung lũng sông Thác nước, rồi lại phải trèo lên cao nguyên, hết người này đến người khác chốc chốc lại cúi xuống sờ mó đường dây, kiểm tra xem đi có đúng hướng không. Tuy nhiên, rõ ràng là đường dây đi thẳng ra biển.

Họ cứ đi mãi, cuối cùng, sau khi ngoặt đột ngột, đường dây điện vắt qua hai mỏm đá, dẫn đến một dãy đá ngầm đen ngòm có lẽ bị sóng đánh tơi bời suốt những ngày có thủy triều lớn. Những người di dân xuống tới những bậc cuối cùng của bức tường đá ba dan. Dưới chân tường có con đập hẹp và dài chạy song song với mặt biển, đường dây điện lượn dọc theo đó. Những người di dân đi về hướng ấy. Nhưng, chưa được một trăm bước thì bắt đầu dốc thoải và họ ra đến biển.

Kỹ sư túm lấy sợi cáp và thấy nó đi xuống nước.

Những người cùng đi dừng lại bên cạnh Cyrus Smith, kinh ngạc, thất vọng. Không nhẽ lại phải lao xuống biển để tìm một cái hang ngầm nào đó hay sao? Tuy vậy, tất cả họ đều rất xúc động, rất hồi hộp, đến nỗi không do dự, sẵn sàng làm cả điều ấy nữa.

Cyrus Smith ngăn các bạn mình lại.

Ông dẫn họ đi sâu vào vách núi và nói:

- Chúng ta đợi ở đây. Bây giờ thủy triều đang lên. Khi nào nước rút khỏi bờ, đường sẽ mở.

- Tại sao ngài lại nghĩ như vậy?... - Pencroff hỏi.

- Nếu không có đường đến chỗ ông ấy thì ông ấy đã không gọi chúng ta.

Cyrus Smith nói điều ấy chắc chắn đến nỗi không ai phản đối được. Hơn nữa, ý nghĩ của ông cũng tỏ ra hoàn toàn có lý. Có thể dễ dàng giả sử rằng, dưới chân tường đá ba dan có một hang ngầm mà lối vào hiện đang bị sóng biển che lấp.

Họ đành phải đợi mấy tiếng đồng hồ.

Mưa rào ập xuống. Sấm chớp nổi rền trời, tiếng vọng lại càng làm cho tiếng sấm váng óc hơn.

Lúc nửa đêm Cyrus Smith lấy đèn đi xuống tận sát biển xem các khối đá dưới đó sắp xếp ra sao. Đến lúc ấy nước rút đã kéo dài hai giờ đồng hồ.

Kỹ sư đã không nhầm. Trên mặt nước bắt đầu hiện lên vòm cửa của một cái hang lớn. Đường cáp rẽ thành một góc thước thợ đi xuống cái khe hở hoác của nó.

Cyrus Smith quay trở lại chỗ những người cùng đi và bình tĩnh nói:

- Một giờ nữa sẽ có thể vào hang được.

Một giờ trôi qua. Mọi người đội mưa đi xuống biển. Sau ba giờ mực nước đã hạ xuống được mười lăm fut. Lối vào hang đã phơi dần ra, đỉnh vòm hang đã nhô khỏi mặt biển ít nhất tám fut. Những con sóng ngầu bọt sục sôi tràn dưới vòm hang như tràn dưới vòm cầu.

Kỹ sư cúi xuống, thấy một vật đen nào đấy bập bềnh trên mặt nước liền kéo vào. Đó là chiếc thuyền được buộc vào một cái mô vách bên trong hang. Thuyền được đóng bằng những tấm tôn ghép chặt với nhau. Trên sàn thuyền, dưới các băng ghế ngồi có hai mái chèo.

- Lên thuyền! - Cyrus Smith nói.

Một giây sau, mọi người đã ngồi trong thuyền. Nab và Ayrton ngồi chèo, Pencroff lái. Cyrus Smith đặt đèn lên sống mũi thuyền soi đường. Họ đang bơi dưới vòm hang thấp, bỗng thấy vòm hang cao lên và rộng ra; nhưng chung quanh tối như bưng, dưới ánh sáng yếu ớt của cây đèn không thể nào xác định được cái hang lớn chừng nào.

Con thuyền bơi theo đường cáp. Bơi cách cửa hang độ năm dặm thì Cyrus ra lệnh:

- Dừng lại!

Con thuyền dừng lại và trước mắt các du khách rất đỗi ngạc nhiên lóa lên ánh sáng rực rỡ chiếu rọi cả cái hang thiên nhiên ăn sâu trong lòng đảo. Ánh sáng ấy tất nhiên do nguồn điện cung cấp. Ðiện đã thay mặt trời chiếu sáng khắp nơi trong cái hang này.

Theo hiệu của Cyrus Smith, mái chèo lại đập trên mặt nước và con thuyền bơi đến nơi ánh sáng tỏa ra, cách chừng nửa cabeltov. Ở đây nước biển tạo thành một cái hồ. Tất cả các khối lăng trụ đá ba dan, vòm cuốn, vách hang đã được ánh điện chiếu sáng rực rỡ đến độ tưởng như ánh sáng từ trong các tảng đá phát ra, mỗi cạnh đá đều tỏa sáng đủ màu sắc.

Ở giữa hồ thấy có vật gì đó dài, hình cái cọc sợi, nhô lên trên mặt nước đã đóng băng bất động… Vật ấy nom giống như một động vật ở biển thuộc loài cá voi, dài khoảng hai trăm năm mươi fut và nhô cao trên mặt hồ mười - mười hai fut.

Con thuyền từ từ bơi tới gần nó. Cyrus Smith đang ngồi ở mũi thuyền đứng dậy. Ông chăm chú nhìn về phía trước và bỗng hết sức hồi hộp, ông nắm tay nhà báo kêu lên:

- Nhưng rõ ràng đây là ông ấy rồi! Ông ấy thôi chứ không phải là ai khác!

Ông ấy đó!

Và, ngồi xuống chiếc ghế băng, kỹ sư thầm nhắc cái tên mà chỉ có Gédéon Spilett mới nghe rõ.

Cái tên ấy có lẽ quen biết với nhà báo, bởi vì nó đã gây một ấn tượng sâu sắc. Ông trả lời bằng một giọng khàn khàn:

- Ông ấy ư? Cái con người đã bị tuyên án sống ngoài vòng pháp luật đấy ư?

- Ông ấy đó! - Cyrus Smith nhắc lại.

Theo lệnh của kỹ sư, con thuyền bơi đến gần cái công trình kỳ lạ nổi trên mặt nước ấy. Các tay chèo cặp vào bên trái bức tường hình tròn của công trình, từ trong đó một chùm ánh sáng chói lòa tỏa ra qua lớp kính dày.

Cyrus Smith và những người cùng đi trèo lên một cái sàn nhỏ. Trên đấy, một cái lỗ cửa sập mở ra. Tất cả ùa vào trong đó.

Phía bên dưới cầu thang là một hành lang sáng rực điện. Cuối cầu thang các khách lạ nhìn thấy một cái cửa ra vào. Cyrus Smith mở toang cửa.

Đi vội qua một căn phòng được trang trí sang trọng, họ bước vào thư viện ở kế bên, nơi đây trần ánh sáng tỏa chiếu rực rỡ.

Ở cuối thư viện hóa ra còn có một cửa nữa. Kỹ sư mở luôn cả cánh cửa ấy.

Và khi đó họ nhìn thấy một căn phòng rộng rãi giống như nhà bảo tàng - trong đấy sưu tập nào là những báu vật của thế giới khoáng sản, nào là những tác phẩm nghệ thuật, nào là những sản phẩm công nghiệp kỳ diệu. Những người di dân cảm thấy mình sa vào một thế giới thần tiên nào đấy.

Trên chiếc ghế đi văng lộng lẫy có một người đang nằm, hình như không nhận thấy sự xuất hiện của họ.

Cyrus Smith bước tên phía trước và, trước sự hết sức kinh ngạc của những người cùng đi, ông dõng dạc nói:

- Thưa thuyền trưởng Nemo, ngài gọi chúng tôi? Chúng tôi đã có mặt.

t bản: 1988 Số trang: 383 Giá tiền: -- Đồng Khổ: 13 x 19 cm Đánh máy: Yến Chi, Thùy Trâm, Đỗ Quyên, Minh Nhật, Phương, Vân Anh Kiểm tra: Thảo Đoàn Chế bản ebook: Thảo Đoàn Ngày thực hiện: 19/03/2011 Making Ebook Project #110– www.Bookaholic
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.