CHƯƠNG MƯỜI LĂM
Harbert tìm thấy gì trong túi áo của mình.
Như các bạn đọc đã thấy, đảo Lincoln mặc dù mới được những người khai khẩn nghiên cứu chưa bao nhiêu, nhưng đã đem lại cho họ mọi thứ cần thiết. Và dường như rất rõ ràng là trong các rừng của đảo kéo dài từ sông Tạ ơn đến mũi Rắn, trong các hang cùng hóc hiểm nhất, thiên nhiên hậu hĩ đã dành sẵn cho họ những của báu mới.
Chỉ có một tặng vật những người khai khẩn đảo còn thiếu, và điều đó hình như là sự thiếu thốn nặng nề đối với họ. Họ đã có đủ thực phẩm thịt và các loại thực vật làm gia vị cho thịt, có nước rễ cây thuốc nam để lên men làm nước hơi chua giống như nước bia, thích uống hơn nước thường; mặc dù trên đảo không có mía không có củ cải đường, nhưng họ đã tách được đường từ nước ngọt của cây phong đường (Acersacharium), một trong những đại diện của họ phong sinh trưởng ở tất cả các nước khí hậu ôn đới, trên đảo có khá nhiều; họ đã chế biến được loại trà rất ngon từ một loại lá cây mọc đầy trong nhà nuôi thỏ, và cuối cùng, họ có thừa muối, chất khoáng duy nhất được con người dùng làm món ăn. Họ chỉ còn thiếu bánh mì.
Có thể, về sau này những người di dân sẽ thay thế được bánh mì bằng một thứ gì đó giống như vậy - bằng bột lõi cây vạn tuế hay bằng quả của cây bánh mì có rất nhiều tinh bột, có thể mọc trong rừng phía nam của đảo, nhưng tạm thời những người di dân còn chưa gặp nó.
Tuy nhiên, cả ở đây nữa mệnh trời cũng đã phù hộ họ. Quả thực, sự phù hộ này dưới dạng một đại lượng nhỏ vô cùng, nhưng với tất cả tài năng sáng chế của mình, với tất cả trí thông minh của mình, Cyrus Smith cũng không thể tạo ra được:
Hôm ấy mưa rào, những người ở trong Lâu đài đá hoa cương giết thời gian bằng các việc làm khác nhau, cùng quay quần trong “phòng họp” của mình, bỗng nhiên chú bé Harbert thốt lên:
- Thế đấy! Thưa ngài Cyrus Smith, hãy xem đây: một hạt lúa mì!
Và chú đưa cho mọi người xem hạt lúa mì, một hạt lúa duy nhất lọt qua cái túi áo vét thủng mà chú đang mang ra chữa lại.
Việc tìm thấy này được giải thích rất đơn giản. Ở Richmond, Harbert luôn luôn tự cho những con chim bồ câu hoang ăn; những con chim này Pencroff tặng chú. Chú có thói quen để dành thức ăn trong túi cho chúng.
- Hạt lúa mì? - Kỹ sư sốt sắng hỏi.
- Vâng, thưa ngài Cyrus. Nhưng chỉ có một hạt, một hạt duy nhất mà thôi!
- Chà, chú bạn thân mến, - Pencroff cười, thốt lên, - Chúng ta có thể làm được gì với một hạt lúa?
- Sẽ nướng bánh mì, - Cyrus Smith đáp.
- Bánh mì, bánh ngọt, bánh gatô! - Chàng thủy thủ nói vẻ giễu cợt. - Mút mùa thì hạt lúa mì này mới cho ta được bữa ăn no.
Không coi việc tìm thấy hạt lúa mì của mình có ý nghĩa gì hết, chú bé đã định ném nó xuống sàn nhà, nhưng Cyrus đã cầm hạt lúa từ tay Harbert, và sau khi chăm chú quan sát, ông đã xác định hạt lúa không bị hư hại chút nào cả.
- Pencroff, - ông bình tĩnh hỏi, nhìn chàng thủy thủ chằm chặp, - một hạt lúa mì mọc lên sẽ cho bao nhiêu bông lúa? Anh có biết không?
- Một bông, tôi cho là vậy, - chàng thủy thủ ngạc nhiên nhìn kỹ sư, đáp.
- Không phải đâu, Pencroff ạ, mười bông! Thế anh có biết mỗi bông lúa có bao nhiêu hạt không?
- Quỷ quái thật, tôi không biết.
- Bình quân là tám mươi, - Cyrus Smith nói. - Vậy là, nếu chúng ta trồng hạt lúa này thì vụ thứ nhất ta sẽ thu hoạch tám trăm hạt, còn những hạt này vụ thứ hai sẽ cho sáu trăm bốn mươi ngàn hạt, vụ thứ ba - năm trăm mười hai triệu, vụ thứ tư - trên bốn trăm tỷ hạt. Một tỉ lệ thức như thế đó.
Các bạn im lặng nghe ông. Những con số ấy làm họ kinh ngạc. Tuy nhiên, các tính toán của Cyrus Smith đều đúng cả.
- Phải, các bạn của tôi, - kỹ sư nói tiếp. - Nhờ ý nguyện của tự nhiên mà hậu thế của hạt lúa mì tăng theo cấp số nhân. Vậy nhưng sự sinh sôi nảy nở của một hạt lúa mì vụ đầu cho tám trăm hạt chẳng thấm gì so với thuốc phiện, một quả nang của nó cho ba mươi hai ngàn hạt, và so với thuốc lá, mỗi gốc của nó cho ba trăm sáu mươi ngàn hạt giống. Nếu như không có vô số những nguyên nhân cản trở sự sinh sôi của chúng thì hai loài cây này sẽ phủ kín toàn bộ trái đất trong vài năm,
Và kỹ sư bắt đầu lục vấn Pencroff:
- Còn bây giờ, Pencroff anh có biết bốn trăm tỷ hạt là bao nhiêu buaso không?
- Không, tôi không biết, - chàng thủy thủ trả lời. - Thế nhưng tôi biết chắc rằng tôi là một kẻ ngu ngốc.
- Rồi anh sẽ biết chừng ấy là ba triệu buaso, tính mỗi buaso là một trăm ngàn hạt..
- Ba triệu buaso? - Pencroff thốt lên.
- Ba triệu.
- Sau bốn năm?
- Sau bốn năm, - Cyrus Smith khẳng định, - và thậm chí sau hai năm, nếu ở các vĩ tuyến này, như tôi hi vọng, chúng ta sẽ thu hoạch một năm hai vụ.
Đến đây Pencroff không thể kìm được nữa, nên theo thói thường của mình, anh ta kêu toáng lên “hoan hô!”.
- Vậy là, Harbert, - kỹ sư nói thêm, - cái việc cháu tìm được ấy rất quan trọng đối với chúng ta. Trong những điều kiện như chúng ta đang lâm vào thế này đây, các bạn của tôi ạ, mọi thứ đều có thể có ích hết. Tôi yêu cầu các bạn chớ quên điều đó.
- Ngài Cyrus hãy yên tâm, chúng tôi sẽ không quên đâu, - Pencroff đáp. - Và nếu tôi tìm thấy hạt thuốc lá mỗi vụ cho ba trăm sáu mươi ngàn hạt giống thì xin ngài hãy yên tâm - tôi không quẳng nó đi đâu! Còn bây giờ, các bạn có biết chúng ta phải làm gì không?
- Đem trồng hạt lúa, - Harbert trả lời.
- Đúng - Gédéon Spilett đồng ý, - và phải trồng nó với tấm lòng tôn kính thích đáng, bởi vì những vụ mùa tương lai của chúng ta đều trông vào đấy.
- Chỉ mong cho nó mọc lên thôi! - Chàng thủy thủ kêu lên.
- Nhất định nó sẽ mọc, - Cyrus Smith trả lời.
Sự việc diễn ra vào 20 tháng sáu, đúng vào lúc thuận lợi nhất cho việc trồng hạt lúa mì duy nhất và do đó rất quý giá. Thoạt đầu họ định trồng nó vào một cái chậu đất sét nhưng sau khi cân nhắc, họ đã quyết định trông cậy vào thiên nhiên và phó thác nó cho đất. Họ đã tiến hành trồng cây trong ngày, và, tất nhiên, mọi biện pháp đã được áp dụng để cho công việc quan trọng nhất ấy diễn ra mỹ mãn.
Trời đã quang đãng hơn đôi chút; những người di dân trèo lên cao nguyên Tầm nhìn và chọn ở gần ngay Lâu đài đá hoa cương một chỗ khuất gió và tràn đầy ánh nắng mặt trời. Họ dọn sạch đá và cố gắng đào, xới đất tơi ra, thậm chí dùng tay bóp từng cục đất nhỏ, loại bỏ hết những con giun và bọ hung, cho thêm một lớp mùn, trộn lẫn vào đó một ít vôi, và, cuối cùng trịnh trọng bỏ hạt lúa xuống đất đã được làm ẩm và rào chỗ ấy lại.
Những người di dân có cảm giác như họ đã đặt viên đá tảng cho một toà nhà hùng vĩ. Pencroff nhớ lại hôm nào anh cũng thận trọng như thế khi chuẩn bị đánh que diêm duy nhất còn lại. Nhưng giờ đây công việc quan trọng hơn - bởi vì các nhà du hành rủi ro, bằng cách này hay cách khác, sớm muộn gì họ cũng lấy được lửa, song không có sức mạnh nào của con người có thể làm sống lại một hạt lúa mì chẳng may nó đã bị chết.